Mục Lục
[1] [2] [3] [4]
[5] [6] [7] [8]
[9] [10] [11] [12]
[13]
Hê-bơ-rơ 1 chọn
đoạn khác
1. Ðời xưa, Ðức Chúa
Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều
cách,
2. rồi đến những ngày sau rốt nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con
Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên kế tự muôn vật, lại bởi Con mà Ngài đã
dựng nên thế gian;
3. Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Ðức Chúa
Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ
muôn vật; sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Ðấng tôn
nghiêm ở trong nơi rất cao,
4. vậy được hưởng danh cao hơn danh thiên
sứ bao nhiêu, thì trở nên cao trọng hơn thiên sứ bấy nhiêu.
5. Vả, Ðức
Chúa Trời há có bao giờ phán cùng thiên sứ rằng: Ngươi là Con ta, Ngày nay
ta đã sanh ngươi? Lại há có khi nào phán: Ta sẽ làm Cha người, Người sẽ
làm Con ta?
6. Còn khi Ngài đưa Con đầu lòng mình vào thế gian, thì
phán rằng: Mọi thiên sứ của Ðức Chúa Trời phải thờ lạy Con.
7. Nói về
thiên sứ thì Ngài phán rằng: Ðức Chúa Trời làm cho thiên sứ Ngài như gió,
Và tôi tớ Ngài như ngọn lửa.
8. Nhưng nói về Con thì lại phán rằng: Hỡi
Ðức Chúa Trời, ngôi Chúa còn mãi đời nọ qua đời kia, Quyền bính của nước
Chúa là quyền bính ngay thẳng.
9. Chúa ưa điều công bình, ghét điều
gian ác; Cho nên, hỡi Chúa, Ðức Chúa Trời của Chúa lấy dầu vui mừng xức
cho, Khiến Chúa trổi hơn kẻ đồng bạn mình.
10. Lại có phán: Hỡi Chúa,
ban đầu trước hết Chúa đã dựng nền đất, Và các từng trời cũng là công việc
của tay Chúa.
11. Trời đất sẽ hư đi, nhưng Chúa hằng có; Trời đất sẽ cũ
đi như cái áo;
12. Ngài sẽ cuốn nó lại như cái áo choàng, Rồi trời đất
sẽ biến đổi, Nhưng Chúa vẫn y nguyên, Các năm của Chúa không hề
cùng.
13. Ðức Chúa Trời há có bao giờ phán cùng thiên sứ nào rằng: Hãy
ngồi bên hữu ta, Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch làm bệ dưới chơn
ngươi?
14. Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Ðức Chúa
Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu
rỗi hay sao?
Hê-bơ-rơ 2
chọn
đoạn khác
1. Vậy nên, chúng ta phải càng giữ vững
lấy điều mình đã nghe e kẻo bị trôi lạc chăng.
2. Vì nên lời thiên sứ
rao truyền đã vững chắc và sự trái phép nghịch mạng đã được báo ứng xứng
đáng rồi,
3. mà nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao
tránh cho khỏi được? là sự cứu rỗi Chúa truyền ra trước hết, rồi có những
kẻ nghe chứng nghiệm nó cho chúng ta,
4. Ðức Chúa Trời cũng dùng những
dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép mầu, lại dùng sự ban cho của Ðức Thánh Linh mà
Ngài đã theo ý muốn mình phát ra, để làm chứng với các kẻ đó.
5. Vả,
thế gian hầu đến mà chúng ta nói đó, Ðức Chúa Trời chẳng từng khiến nó
phục dưới quyền các thiên sứ.
6. Nhưng có kẻ đã làm chứng rằng: Loài
người là gì mà Chúa nhớ đến? Con người là ai, mà Chúa săn sóc đến?
7.
Chúa đã đặt Người ở dưới thiên sứ một chút; Cho Người đội mão triều vinh
hiển tôn trọng;
8. Và đặt mọi vật dưới chơn người. Ðức Chúa Trời đã
khiến mọi vật phục Ðức Chúa Jêsus như vậy; thì chẳng để cho một vật nào
chẳng phục Ngài; song hiện nay chúng ta chưa thấy mọi vật phục Ngài.
9.
Nhưng Ðức Chúa Jêsus nầy, mà đã ở dưới các thiên sứ một chút, chúng ta
thấy Ngài, vì sự chết Ngài đã chịu được đội mão triều vinh hiển tôn trọng.
Ấy vậy, bởi ân điển của Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Jêsus đã vì mọi người nếm
sự chết.
10. Thật, Ðấng mà muôn vật hướng về Ngài và bởi Ngài, vì muốn
đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì đã khiến Ðấng làm cội rễ sự cứu rỗi
của những con ấy, nhờ sự đau đớn mà nên trọn lành, là phải lắm.
11. Vì
Ðấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên
Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em,
12. khi Ngài có phán: Tôi
sẽ truyền danh Chúa cho anh em tôi; Và ngợi khen Chúa ở giữa hội.
13.
Ngài lại phán: Ta sẽ phó thác ta cho Chúa. Lại phán: Ta đây, ta với các
con cái mà Ðức Chúa Trời đã ban cho ta.
14. Vậy thì, vì con cái có phần
về huyết và thịt, nên chính Ðức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho
Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ,
15.
lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn
đời.
16. Vì quả thật không phải Ngài đến vùa giúp các thiên sứ, bèn là
vùa giúp dòng dõi của Áp-ra-ham.
17. Nhơn đó, Ngài phải chịu làm giống
như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Ðức Chúa Trời, trở nên thầy
tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng
dân.
18. Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có
thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy.
Hê-bơ-rơ 3 chọn
đoạn khác
1. Bởi cớ đó, hỡi
anh em thánh, là kẻ dự phần ơn trên trời gọi, hãy suy kỹ đến sứ giả và
thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta tin theo, tức là Ðức Chúa Jêsus,
2.
Ngài đã trung tín với Ðấng đã lập Ngài, cũng như Môi-se trung tín với cả
nhà Chúa vậy.
3. Vì Ngài đã được xưng là đáng vinh hiển cao trọng hơn
Môi-se, chẳng khác nào thợ cất nhà được tôn trọng hơn chính cái nhà.
4.
Vả, chẳng có một cái nhà nào không phải bởi có người dựng nên; mà Ðấng đã
dựng nên muôn vật ấy là Ðức Chúa Trời.
5. Còn về Môi-se, người đã trung
tín trong cả nhà Chúa, như một kẻ tôi tớ, gọi đến làm chứng về điều ngày
sau sẽ được rao giảng.
6. Nhưng Ðấng Christ thì trung tín như con trai
quản trị nhà Chúa; mà nhà Chúa tức là chúng ta, miễn là chúng ta giữ vững
vàng cho đến cuối cùng lòng tin chắc và trông cậy, là sự chúng ta lấy làm
vinh hiển.
7. Cho nên, như Ðức Thánh Linh phán rằng: Ngày nay nếu các
ngươi nghe tiếng Ngài.
8. Thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn, Là ngày
thử Chúa trong đồng vắng,
9. Là nơi tổ phụ các ngươi thấy công việc ta
làm trong bốn mươi năm, Mà còn thử để dò xét ta!
10. Nhơn đó, ta giận
dòng dõi nầy, Và phán rằng: lòng chúng nó lầm lạc luôn, Chẳng từng biết
đường lối ta.
11. Nầy là lời thề mà ta lập trong cơn thạnh nộ, rằng:
Chúng nó sẽ chẳng hề vào sự yên nghỉ của ta.
12. Hỡi anh em, hãy giữ
lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Ðức Chúa Trời
hằng sống chăng.
13. Nhưng hằng ngày anh em hãy khuyên bảo lẫn nhau,
đang khi còn gọi là "Ngày nay," hầu cho trong anh em không ai bị tội lỗi
dỗ dành mà cứng lòng.
14. Vì chúng ta đã được dự phần với Ðấng Christ,
miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững bền đến cuối
cùng,
15. trong khi còn nói rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng
Ngài, Thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn.
16. Vả, ai là kẻ nghe tiếng
Ngài rồi nổi loạn, há chẳng phải những người nhờ Môi-se dẫn ra khỏi xứ
Ê-díp-tô sao?
17. Ðức Chúa Trời đã giận ai trong bốn mươi năm? Há chẳng
phải giận nhiều kẻ phạm tội, mà thây họ ngã trong đồng vắng sao?
18.
Ngài lại thề với ai rằng không được vào sự yên nghỉ của Ngài? Há chẳng
phải với những người không vâng lời sao?
19. Vả, chúng ta thấy những
người ấy không thể vào đó được vì cớ không tin.
Hê-bơ-rơ 4 chọn
đoạn khác
1.
Vậy, đang khi còn có lời hứa cho vào sự yên nghỉ Chúa, hãy lo sợ, kẻo
trong chúng ta có ai bị trừ ra chăng.
2. Vì tin Lành nầy đã rao truyền
cho chúng ta cũng như cho họ; những lời họ đã nghe không ích chi hết, vì
trong khi nghe, chẳng lấy đức tin nhận lời đó thuộc về mình.
3. Về phần
chúng ta là kẻ đã tin, thì vào sự yên nghỉ, như Ðức Chúa Trời đã phán
rằng: Nầy là lời thề ta đã lập trong cơn thạnh nộ: Chúng nó sẽ chẳng hề
vào sự yên nghỉ ta! Dầu vậy, công việc của Ngài đã xong rồi từ buổi sáng
thế.
4. Vì luận về ngày thứ bảy, có chép rằng: Ngày thứ bảy Ðức Chúa
Trời nghỉ cả các công việc Ngài.
5. Lại một chỗ khác có chép rằng:
Chúng nó sẽ chẳng hề vào sự yên nghỉ ta.
6. Như vậy, vì đã dành cho mấy
người phải vào đó, và vì những kẻ nghe Tin Lành ấy trước nhứt đã không vào
đó bởi chẳng tin,
7. nên về sau lâu lắm, trong một thơ của Ða-vít, Chúa
lại định một ngày nữa gọi là "Ngày nay," như trên kia đã dẫn rằng: Ngày
nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng.
8. Vả, nếu
Giô-suê đã cho họ yên nghỉ, thì chắc sau không còn nói về một ngày khác
nữa.
9. Vậy thì còn lại một ngày yên nghỉ cho dân Ðức Chúa Trời.
10.
Vì ai vào sự yên nghỉ của Ðức Chúa Trời, thì nghỉ công việc mình, cũng như
Ðức Chúa Trời đã nghỉ công việc của Ngài vậy.
11. Vậy, chúng ta phải
gắng sức vào sự yên nghỉ đó, hầu cho không có một người nào trong chúng ta
theo gương kẻ chẳng tin kia mà vấp ngã.
12. Vì lời của Ðức Chúa Trời là
lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn,
linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng.
13. Chẳng có vật
nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra
trước mắt Ðấng mà chúng ta phải thưa lại,
14. Ấy vậy, vì chúng ta có
thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, tức là Ðức Chúa
Jêsus, Con Ðức Chúa Trời, thì hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin.
15.
Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu
đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như
chúng ta, song chẳng phạm tội.
16. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần
ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta
trong thì giờ có cần dùng.
Hê-bơ-rơ 5 chọn
đoạn khác
1. Phàm thầy tế lễ
thượng phẩm, từ trong loài người chọn ra, thì vì loài người lập nên hầu
việc Ðức Chúa Trời, để dâng lễ vật và hi sinh vì tội lỗi.
2. Người đã
bị vây trong sự yếu đuối, nên có thể thương xót những kẻ ngu dốt sai
lầm.
3. Ấy bởi sự yếu đuối đó mà người buộc phải vì tội lỗi mình dâng
của tế lễ, cũng như vì tội lỗi của dân chúng.
4. Vả, lại không ai chiếm
lấy chức trọng đó cho mình; phải được Ðức Chúa Trời kêu gọi như A-rôn ngày
xưa.
5. Cũng một thể ấy, Ðấng Christ không tự tôn mình làm thầy tế lễ
thượng phẩm; như tại Ðấng đã phán cùng Ngài rằng: Ngươi là Con ta, Ta đã
sanh ngươi ngày nay.
6. Lại nơi khác có phán cùng Ngài rằng: Ngươi làm
thầy tế lễ đời đời Theo ban Mên-chi-xê-đéc.
7. Khi Ðấng Christ còn
trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện
nài xin cho Ðấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài,
nên được nhậm lời.
8. Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi
những sự khốn khổ mình đã chịu,
9. và sau khi đã được làm nên trọn vẹn
rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời
Ngài,
10. lại có Ðức Chúa Trời xưng Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm theo
ban Mên-chi-xê-đéc.
11. Về sự đó, chúng ta có nhiều điều nên nói, và
khó cắt nghĩa, vì anh em đã trở nên chậm hiểu.
12. Ðáng lẽ anh em đã
làm thầy từ lâu rồi, nay còn cần người ta lấy những điều sơ học của lời
Ðức Chúa Trời mà dạy anh em; anh em cần ăn sữa thay vì đồ ăn đặc.
13.
Vả, kẻ nào chỉ ăn sữa thôi, thì không hiểu đạo công bình; vì còn là thơ
ấu.
14. Nhưng đồ ăn đặc là để cho kẻ thành nhơn, cho kẻ hay dụng tâm tư
luyện tập mà phân biệt điều lành và dữ.
Hê-bơ-rơ 6 chọn
đoạn khác
1. Ấy
vậy, chúng ta phải bỏ qua các điều sơ học về Tin Lành của Ðấng Christ, mà
tấn tới sự trọn lành, chớ nên lập lại nền nữa, tức là: từ bỏ các việc
chết, tin Ðức Chúa Trời,
2. sự dạy về phép báp tem, phép đặt tay, sự kẻ
chết sống lại, sự phán xét đời đời.
3. Ví bằng Ðức Chúa Trời cho phép,
thì chúng ta sẽ làm điều đó.
4. Vì chưng những kẻ đã được soi sáng một
lần, đã nếm sự ban cho từ trên trời, dự phần về Ðức Thánh Linh,
5. nếm
đạo lành Ðức Chúa Trời, và quyền phép của đời sau,
6. nếu lại vấp ngã,
thì không thể khiến họ lại ăn năn nữa, vì họ đóng đinh Con Ðức Chúa Trời
trên thập tự giá cho mình một lần nữa, làm cho Ngài sỉ nhục tỏ
tường.
7. Vả, một đám đất nhờ mưa đượm nhuần mà sanh cây cỏ có ích cho
người cày cấy, thì đất đó hưởng phần phước lành của Ðức Chúa Trời.
8.
Nhưng đất nào chỉ sanh ra những cỏ rạ, gai gốc, thì bị bỏ, và hầu bị rủa,
cuối cùng phải bị đốt.
9. Hỡi những kẻ rất yêu dấu, dẫu chúng ta nói
vậy, vẫn còn đương trông đợi những việc tốt hơn từ nơi anh em, là những
việc đưa đến sự cứu rỗi.
10. Ðức Chúa Trời không phải là không công
bình mà bỏ quên công việc và lòng yêu thương của anh em đã tỏ ra vì danh
Ngài, trong khi hầu việc các thánh đồ và hiện nay đương còn hầu việc
nữa.
11. Nhưng chúng ta mong rằng mỗi người trong anh em tỏ lòng sốt
sắng như vậy, đặng giữ lòng đầy dẫy sự trông cậy cho đến cuối cùng;
12.
đến nỗi anh em không trễ nải, nhưng cứ học đòi những kẻ bởi đức tin và
lòng nhịn nhục mà được hưởng lời hứa.
13. Khi Ðức Chúa Trời hứa cùng
Áp-ra-ham, và vì không thể chỉ Ðấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình
Ngài mà thề với người rằng:
14. Chắc ta sẽ ban phước cho ngươi nhiều,
và khiến hậu tự ngươi sanh sản đông thêm.
15. Ấy, Áp-ra-ham đã nhịn
nhục đợi chờ như vậy, rồi mới được điều đã hứa.
16. Người ta thường
mượn danh một Ðấng lớn hơn mình mà thề, phàm có cãi lẫy điều gì, thì lấy
lời thề mà định.
17. Ðức Chúa Trời cũng vậy, muốn càng tỏ ra cho những
kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi, thì dùng
lời thề;
18. hầu cho nhờ hai điều chẳng thay đổi đó, và về hai điều ấy
Ðức Chúa Trời chẳng có thể nói dối, mà chúng ta tìm được sự yên ủi lớn
mạnh, là kẻ đã trốn đến nơi ẩn náu, mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước
mặt chúng ta.
19. Chúng ta giữ điều trông cậy nầy như cái neo của linh
hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn,
20. trong nơi thánh
mà Ðức Chúa Jêsus đã vào như Ðấng đi trước của chúng ta, vì đã trở nên
thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc.
Hê-bơ-rơ 7
chọn
đoạn khác
1. Vua, Mên-chi-xê-đéc đó là vua của Sa-lem, thầy tế lễ của
Ðức Chúa Trời rất cao, đã đi rước Áp-ra-ham và chúc phước cho, trong khi
người thắng trận các vua trở về;
2. Áp-ra-ham đã lấy một phần mười về
mọi của cải mình mà dâng cho vua; theo nghĩa đen tên vua ấy, trước hết là
vua sự công bình, lại là vua của Sa-lem nữa, nghĩa là vua bình an;
3.
người không cha, không mẹ, không gia phổ; không có ngày đầu mới sanh, cũng
không có ngày rốt qua đời, như vậy là giống Con Ðức Chúa Trời,
Mên-chi-xê-đéc nầy làm thầy tế lễ đời đời vô cùng.
4. Hãy nghĩ xem,
chính tiên tổ là Áp-ra-ham đã lấy một phần mười trong những vật rất tốt
của mình chiếm được mà dâng cho vua, thì vua tôn trọng là dường nào.
5.
Nhưng con cháu họ Lê-vi chịu chức tế lễ, theo luật, có phép thâu lấy một
phần mười của dân, nghĩa là của anh em mình, vì chính họ cũng từ Áp-ra-ham
mà ra.
6. Nhưng vua vốn không phải đồng họ, cũng lấy một phần mười của
Áp-ra-ham và chúc phước cho kẻ được lời hứa.
7. Vả, người bực cao chúc
phước cho kẻ bực thấp, ấy là điều không cãi được.
8. Lại, đằng nầy,
những kẻ thâu lấy một phần mười đều là người hay chết: còn đằng kia, ấy là
kẻ mà có lời làm chứng cho là người đang sống.
9. Lại có thể nói rằng
Lê-vi là kẻ thâu lấy một phần mười đó, chính mình người cũng bởi Áp-ra-ham
mà đóng một phần mười;
10. vì lúc Mên-chi-xê-đéc đi đón tiên tổ, thì
Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ.
11. Nếu có thể được sự trọn vẹn bởi chức
tế lễ của người Lê-vi (vì luật pháp ban cho dân đang khi còn dưới quyền
chức tế lễ), thì cớ sao còn cần phải dấy lên một thầy tế lễ khác, lập theo
ban Mên-chi-xê-đéc, không theo ban A-rôn?
12. Chức tế lễ đã thay đổi
thì luật pháp cũng cần phải thay đổi.
13. Vả, Ðấng mà những lời đó chỉ
về, thuộc một chi phái khác, trong chi phái đó chưa từng có ai dự việc nơi
bàn thờ.
14. Vì thật rõ ràng Chúa chúng ta ra từ Giu-đa về chi phái ấy,
Môi-se không nói điều chi về chức tế lễ.
15. Mọi điều đó càng thêm rõ
hơn nữa, khi chúng ta thấy một thầy tế lễ khác dấy lên, giống như
Mên-chi-xê-đéc,
16. lập nên không theo luật lệ của điều răn xác thịt,
nhưng theo quyền phép của sự sống chẳng hay hư hay hết.
17. Vả, nầy là
lời làm chứng cho Ngài rằng: Con làm thầy tế lễ đời đời Theo ban
Mên-chi-xê-đéc.
18. Như vậy, điều răn trước kia vì không quyền không
ích nên đã bị bỏ rồi;
19. bởi chưng luật pháp không làm trọn chi hết,
lại có một sự trông cậy hay hơn đem vào thay cho luật pháp, và bởi sự
trông cậy đó chúng ta đến gần Ðức Chúa Trời.
20. Vả lại, sự thay đổi
nầy chẳng phải là không có lời thề mà được làm ra. Những thầy tế lễ khác
không bởi lời thề mà được lập lên,
21. nhưng Ngài đã được lập lên bằng
lời thề, bởi Ðấng đã phải cùng Ngài rằng: Chúa đã thề rồi, và không hối
lời thề ấy đâu; Con làm thầy tế lễ đến đời đời.
22. Vì thế, Ðức Chúa
Jêsus đã trở nên Ðấng bảo lãnh cho một cái giao ước rất tôn trọng hơn cái
trước.
23. Vả lại, số thầy tế lễ rất nhiều, vì sự chết nên không giữ
luôn được chức vụ.
24. Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức
tế lễ không hề đổi thay.
25. Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ
nhờ Ngài mà đến gần Ðức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những
kẻ ấy.
26. Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần
dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất
lên cao hơn các từng trời:
27. không như những thầy tế lễ thượng phẩm
khác, cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân;
Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế
lễ.
28. Vì luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng
phẩm; nhưng lời thề có sau luật pháp thì lập Con, là Ðấng đã nên trọn lành
đời đời.
Hê-bơ-rơ 8
chọn
đoạn khác
1. Ðại ý điều chúng ta mới nói đó, là
chúng ta có một thầy tế lễ thượng phẩm, ngồi bên hữu ngai của Ðấng tôn
nghiêm trong các từng trời,
2. làm chức việc nơi thánh và đền tạm thật,
bởi Chúa dựng lên, không phải bởi một người nào.
3. Phàm thầy tế lễ
thượng phẩm đã được lập lên là để dâng lễ vật và hi sinh; vậy thì Ðấng nầy
cũng cần phải dâng vật gì.
4. Nếu Ngài còn ở thế gian, thì Ngài chẳng
phải là thầy tế lễ, vì ở thế gian có những thầy tế lễ dâng lễ vật theo
luật pháp dạy,
5. và giữ sự thờ phượng, sự thờ phượng đó chẳng qua là
hình và bóng của những sự trên trời mà thôi, cũng như khi Môi-se gần dựng
đền tạm, thì Ðức Chúa Trời phán bảo rằng: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo
như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi.
6. Nhưng thầy tế lễ thượng
phẩm chúng ta đã được một chức vụ rất tôn trọng hơn, vì Ngài là Ðấng trung
bảo của giao ước tốt hơn, mà giao ước ấy lập lên trên lời hứa tốt
hơn.
7. Vì nếu ước thứ nhứt không thiếu gì, thì chẳng có chỗ nào lập
ước thứ hai.
8. Vả, trong những lời nầy thật có ý trách, là lời Ðức
Chúa Trời phán cùng dân Giu-đa rằng: Chúa phán: kìa, nhựt kỳ đến, Khi đó
ta sẽ cùng nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa lập một ước mới,
9. Không phải
như ước ta đã lập với tổ tiên chúng nó, Trong ngày ta cầm tay họ dẫn ra
khỏi xứ Ê-díp-tô. Vì họ không bền giữ lời ước ta, Nên ta không đoái xem
họ, ấy là lời Chúa phán.
10. Chúa lại phán: Nầy là lời ước mà ta sẽ lập
với nhà Y-sơ-ra-ên Sau những ngày đó: Ta sẽ để luật pháp ta trong trí họ
Và ghi tạc vào lòng; Ta sẽ làm Ðức Chúa Trời họ, Họ sẽ làm dân ta.
11.
Trong vòng họ sẽ chẳng có ai dạy bảo công dân mình Và anh em mình, rằng:
Hãy nhìn biết Chúa; Vì hết thảy trong vòng họ, Từ kẻ rất nhỏ cho đến kẻ
rất lớn đều sẽ biết ta,
12. Nhơn ta sẽ tha sự gian ác của họ, Và không
nhớ đến tội lỗi họ nữa.
13. Gọi ước đó là ước mới, thì đã xưng ước
trước là cũ; vả, điều chi đã cũ đã già, thì gần tiêu mất đi.
Hê-bơ-rơ 9
chọn
đoạn khác
1. Ước trước cũng có những luật về việc thờ phượng và một
nơi thánh dưới đất.
2. Vả, một đền tạm đã dựng lên: phần thứ nhứt gọi
là nơi thánh, có chơn đèn, bàn và bánh bày ra;
3. rồi đến phía trong
màn thứ hai, tức là phần gọi là nơi rất thánh,
4. có lư hương bằng vàng
và hòm giao ước, toàn bọc bằng vàng. Trong hòm có một cái bình bằng vàng
đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước;
5.
phía trên có hai chê-ru-bin vinh hiển, bóng nó che phủ nơi chuộc tội.
Nhưng đây không phải dịp kể các điều đó cho rõ ràng.
6. Các vật đã sắp
đặt như vậy, hằng ngày những thầy tế lễ vào phần thứ nhứt trong đền tạm,
đặng làm trọn việc tế lễ;
7. nhưng, phần thứ hai, thì mỗi năm một lần
chỉ một mình thầy tế lễ thượng phẩm vào, chẳng bao giờ mà không đem huyết
dâng vì chính mình và vì sự lầm lỗi dân chúng.
8. Ðức Thánh Linh lấy đó
chỉ ra rằng hễ đền tạm thứ nhứt đương còn, thì đường vào nơi rất thánh
chưa mở.
9. Ấy là một hình bóng chỉ về đời bây giờ, để tỏ rằng các lễ
vật và hi sinh dâng đó, không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành
về lương tâm.
10. Ðó chẳng qua là mạng lịnh của xác thịt, cũng như các
kỳ ăn, uống rửa sạch, chỉ lập cho đến kỳ hoán cải vậy.
11. Nhưng Ðấng
Christ đã hiện đến làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau
nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay
người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy.
12. Ngài đã vào nơi rất
thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng
dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.
13. Vì nếu huyết
của dê đực cùng tro bò cái tơ mà người ta rưới trên kẻ ô uế còn làm sạch
được phần xác thịt họ và nên thánh thay,
14. huống chi huyết của Ðấng
Christ, là Ðấng nhờ Ðức Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì tích
cho Ðức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết,
đặng hầu việc Ðức Chúa Trời hằng sống, là dường nào!
15. Nhơn đó, Ngài
là Ðấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã
phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời
đời đã hứa cho mình.
16. Vì khi có chúc thơ, thì cần phải đợi đến kẻ
trối chết đã hứa cho mình.
17. Chúc thơ chỉ có giá trị sau khi chết, và
hễ kẻ trối còn sống thì nó không có quyền gì.
18. Ấy vậy, chính giao
ước trước nào chẳng phải là không dùng máu mà lập.
19. Lúc Môi-se phán
mọi điều răn của luật pháp cho dân chúng, có lấy máu của bò con và dê đực,
với nước, dây nhung đỏ tía và nhành ngưu tất rảy trên sách cùng trên cả
dân chúng,
20. mà nó rằng: Nầy là huyết của sự giao ước mà Ðức Chúa
Trời đã dạy lập với các ngươi.
21. Ðoạn, người cũng lấy huyết rảy đền
tạm cùng mọi đồ thờ.
22. Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ
huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ.
23. Vậy,
nếu những tượng chỉ về các vật trên trời đã phải nhờ cách ấy mà được sạch,
thì chính các vật trên trời phải nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa để được
sạch.
24. Vả Ðấng Christ chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra,
theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì
chúng ta hiện ra trước mặt Ðức Chúa Trời.
25. Ấy chẳng phải là dâng
chính mình Ngài nhiều lần, như thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm vào trong
nơi rất thánh mà dâng huyết không phải là huyết mình;
26. bằng chẳng
vậy, thì từ buổi sáng thế đến nay, Ngài đã phải chịu khổ nhiều lần rồi.
Nhưng hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài đã hiện ra chỉ một lần,
dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.
27. Theo như đã định cho loài
người phải chết một lần, rồi chịu phán xét,
28. cũng vậy, Ðấng Christ
đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ
hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu
rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.
Hê-bơ-rơ 10 chọn
đoạn khác
1. Vả, luật pháp
chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên
không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Ðức
Chúa Trời trở nên trọn lành được.
2. Nếu được, thì những kẻ thờ phượng
đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhơn đó, há
chẳng thôi dâng tế lễ hay sao?
3. Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là
mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi.
4. Vì huyết của bò đực và dê đực
không thể cất tội lỗi đi được.
5. Bởi vậy cho nên, Ðấng Christ khi vào
thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hy sinh, cũng chẳng muốn lễ vật,
Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi.
6. Chúa chẳng nhậm của lễ
thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội.
7. Tôi bèn nói: Hỡi Ðức Chúa
Trời, nầy tôi đến Trong sách có chép về tôi Tôi đến để làm theo ý muốn
Chúa.
8. Trước đã nói: Chúa chẳng muốn, chẳng nhậm những hi sinh, lễ
vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, đó là theo luật pháp dạy; sau lại
nói: Ðây nầy, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.
9. Vậy thì, Chúa đã bỏ
điều trước, đặng lập điều sau.
10. Ấy là theo ý muốn đó mà chúng ta
được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Ðức Chúa Jêsus Christ một lần đủ
cả.
11. Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng
một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được,
12. còn như Ðấng
nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Ðức Chúa
Trời.
13. từ rày về sau đương đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ
dưới chơn Ngài vậy.
14. Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho
những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời.
15. Ðức Thánh Linh cũng làm
chứng cho chúng ta như vậy; vì đã phán rằng:
16. Chúa phán: Nầy là giao
ước ta lập với chúng nó Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp ta vào lòng
chúng nó Và ghi tạc nơi trí khôn,
17. Lại phán: Ta sẽ chẳng còn nhớ đến
tội lỗi gian ác của chúng nó nữa.
18. Bởi hễ có sự tha thứ thì không
cần dâng của lễ vì tội lỗi nữa.
19. Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết
Ðức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào nơi rất thánh,
20. bởi đường mới và sống
mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài,
21. lại
vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Ðức Chúa
Trời,
22. nên chúng ta hãy lấy lòng thật thà với đức tin đầy dẫy trọn
vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong,
mà đến gần Chúa.
23. Hãy cầm giữ sự làm chứng về điều trông cậy chúng
ta chẳng chuyển lay, vì Ðấng đã hứa cùng chúng ta là thành tín.
24. Ai
nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt
lành;
25. chớ bỏ qua sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên
bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm
như vậy chừng nấy.
26. Vì nếu chúng ta đã nhận biết lẽ thật rồi, mà lại
cố ý phạm tội, thì không còn có tế lễ chuộc tội nữa,
27. nhưng chỉ có
sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội
nghịch mà thôi.
28. Ai đã phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người
làm chứng, thì chết đi không thương xót,
29. huống chi kẻ giày đạp Con
Ðức Chúa Trời, coi huyết của giao ước, tức là huyết mà mình nhờ nên thánh,
là ô uế, lại khinh lờn Ðức Thánh Linh ban ơn, thì anh em há chẳng tưởng
rằng người ấy đáng bị hình rất nghiêm đoán phạt hay sao?
30. Vì chúng
ta biết Ðấng đã phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta; ta sẽ báo ứng, ấy là
lời Chúa phán. Lại rằng: Chúa sẽ xét đoán dân mình.
31. Sa vào tay Ðức
Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay!
32. Hãy nhớ lại những
lúc ban đầu đó, anh em đã được soi sáng rồi, bèn chịu cơn chiến trận lớn
về những sự đau đớn:
33. phần thì chịu sỉ nhục, gặp gian nan, như làm
trò cho thiên hạ xem, phần thì chia khổ với những kẻ bị đối đãi đồng một
cách.
34. Vì anh em đã thương xót kẻ bị tù, và vui lòng chịu của cải
mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quí hơn hằng còn luôn.
35. Vậy
chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho.
36.
Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Ðức Chúa Trời
rồi, thì được như lời đã hứa cho mình.
37. Còn ít lâu, thật ít lâu nữa,
Thì Ðấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu.
38. Người công bình của
ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm
đẹp chút nào.
39. Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất
đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi.
Hê-bơ-rơ 11
chọn
đoạn khác
1. Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình
đương trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.
2. Ấy
là nhờ đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt.
3. Bởi đức
tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Ðức Chúa Trời, đến
nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến.
4. Bởi
đức tin, A-bên đã dâng cho Ðức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và
được xưng công bình, vì Ðức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ
vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.
5. Bởi đức
tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy
người nữa, vì Ðức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được
tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Ðức Chúa Trời
rồi.
6. Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài;
vì kẻ đến gần Ðức Chúa Trời phải tin rằng có Ðức Chúa Trời, và Ngài là
Ðấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.
7. Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa
mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ, đóng một
chiếc tàu để cứu nhà mình; bởi đó người định tội thế gian, và trở nên kẻ
kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy.
8. Bởi đức tin, Áp-ra-ham
vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không
biết mình đi đâu.
9. Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho
mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và
Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người.
10. Vì người chờ đợi
một thành có nền vững chắc, mà Ðức Chúa Trời đã xây cất và sáng
lập.
11. Cũng bởi đức tin mà Sa-ra dẫu có tuổi còn có sức sanh con cái
được, vì người tin rằng Ðấng hứa cho mình điều đó là thành tín.
12.
Cũng vì đó mà chỉ một người, lại là một người già yếu, sanh ra muôn vàn
con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm
được.
13. Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận
lãnh những điều hứa cho mình; chỉn trông thấy và chào mừng những điều đó
từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất.
14. Những kẻ nói
như thế, tỏ rõ rằng mình đương đi tìm nơi quê hương.
15. Ví thử họ đã
tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở
lại,
16. nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở
trên trời; nên Ðức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Ðức Chúa Trời
của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.
17. Bởi đức tin, Áp-ra-ham
dâng Y-sác trong khi bị thử thách: người là kẻ đã nhận lãnh lời hứa, dâng
con một mình,
18. là về con đó mà Ðức Chúa Trời có phán rằng: Ấy bởi
trong Y-sác mà người sẽ có một dòng dõi lấy tên ngươi mà kêu.
19. Người
tự nghĩ rằng Ðức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại; cũng
giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình.
20. Bởi đức tin,
Y-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những sự hầu đến.
21. Bởi đức
tin, Gia-cốp lúc gần chết, chúc phước cho hai con của Giô-sép, và nương
trên gậy mình mà lạy.
22. Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời nói về
việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra, và truyền lịnh về hài cốt mình.
23.
Bởi đức tin, khi Môi-se mới sanh ra, cha mẹ người đem giấu đi ba tháng, vì
thấy là một đứa con xinh tốt, không sợ chiếu mạng của vua.
24. Bởi đức
tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa
Pha-ra-ôn,
25. đành cùng dân Ðức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm
hưởng sự vui sướng của tội lỗi:
26. người coi sự sỉ nhục về Ðấng Christ
là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban
thưởng.
27. Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì
người đứng vững như thấy Ðấng không thấy được.
28. Bởi đức tin người
giữ lễ Vượt Qua và làm phép rưới huyết, hầu cho đấng hủy diệt chẳng hề hại
đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên.
29. Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên vượt
qua Biển đỏ như đi trên đất khô, còn người Ê-díp-tô thử đi qua, bị nuốt
mất tại đó.
30. Bởi đức tin, các tường thành Giê-ri-cô đổ xuống, sau
khi người ta đi vòng quanh bảy ngày.
31. Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp
không chết với kẻ chẳng tin, vì nàng đã lấy ý tốt tiếp rước các kẻ do
thám.
32. Ta còn nói chi nữa? Vì nếu ta muốn nói về Ghê-đê-ôn, Ba-rác,
Sam-sôn, Giép-thê, Ða-vít, Sa-mu-ên và các đấng tiên tri, thì không đủ thì
giờ.
33. Những người đó bởi đức tin đã thắng được các nước, làm sự công
bình, được những lời hứa, bịt mồm sư tử,
34. tắt ngọn lửa hừng, lánh
khỏi lưỡi gươm, thắng bịnh tật, tỏ sự bạo dạn nơi chiến tranh, khiến đạo
binh nước thù chạy trốn
35. Có người đờn bà đã được người nhà mình chết
sống lại, có kẻ bị hình khổ dữ tợn mà không chịu giải cứu, để được sự sống
lại tốt hơn.
36. Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu
xiềng xích, lao tù nữa.
37. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết
bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu
thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi,
38. thế gian không xứng đáng cho
họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm
dưới đất.
39. Hết thảy những người đó dầu nhơn đức tin đã được chứng
tốt, song chưa hề nhận lãnh điều đã được hứa cho mình.
40. Vì Ðức Chúa
Trời có sắm sẵn điều tốt hơn cho chúng ta, hầu cho ngoại chúng ta ra họ
không đạt đến sự trọn vẹn được.
Hê-bơ-rơ 12 chọn
đoạn khác
1. Thế thì, vì
chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta
cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn
nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta,
2. nhìn xem Ðức Chúa
Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Ðấng vì sự vui mừng đã
đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay
ngồi bên hữu ngai Ðức Chúa Trời.
3. Vậy, anh em hãy nghĩ đến Ðấng đã
chịu sự đối nghịch của kẻ tội lỗi dường ấy, hầu cho khỏi bị mỏi mệt sờn
lòng.
4. Anh em chống trả với tội ác còn chưa đến mỗi đổ huyết;
5.
lại đã quên lời khuyên anh em như khuyên con, rằng: Hỡi con, chớ dể ngươi
sự sửa phạt của Chúa, Và khi Chúa trách, chớ ngã lòng;
6. Vì Chúa sửa
phạt kẻ Ngài yêu, Hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt.
7.
Ví bằng anh em chịu sửa phạt, ấy là Ðức Chúa Trời đãi anh em như con, vì
có người nào là con mà cha không sửa phạt?
8. nhưng nếu anh em được
khỏi sự sửa phạt mà ai nấy cũng phải chịu, thì anh em là con ngoại tình,
chớ không phải con thật.
9. Cha về phần xác sửa phạt, mà chúng ta còn
kính sợ thay, huống chi Cha về phần hồn, chúng ta há chẳng càng nên vâng
phục lắm để được sự sống sao?
10. Vả, cha về phần xác theo ý mình mà
sửa phạt chúng ta tạm thời, nhưng Ðức Chúa Trời vì ích cho chúng ta mà sửa
phạt, để khiến chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết Ngài.
11.
Thật các sự sửa phạt lúc đầu coi như một cớ buồn bã, chớ không phải sự vui
mừng; nhưng về sau sanh ra bông trái công bình và bình an cho những kẻ đã
chịu luyện tập như vậy.
12. Vậy, hãy dở bàn tay yếu đuối của anh em
lên, luôn cả đầu gối lỏng lẻo nữa.
13. Khá làm đường thẳng cho chơn anh
em theo, hầu cho kẻ nào què khỏi lạc đường mà lại được chữa lành
nữa.
14. Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh,
vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Ðức Chúa Trời.
15. Khá
coi chừng kẻo có kẻ trật phần ân điển của Ðức Chúa Trời, kẻo rễ đắng châm
ra, có thể ngăn trở và làm ô uế phần nhiều trong anh em chăng.
16. Hãy
coi chừng, trong anh em chớ có ai gian dâm, cũng đừng có ai khinh lờn như
Ê-sau, chỉ vì một món ăn mà bán quyền con trưởng.
17. Thật vậy, anh em
biết rằng đến sau, người muốn cha mình chúc phước cho, thì lại bị bỏ; vì
dẫu người khóc lóc cầu xin, cũng chẳng đổi được ý cha mình đã định
rồi.
18. Anh em chẳng tới gần một hòn núi mà người ta có thể rờ đến
được, cũng chẳng đến gần lửa hừng, hoặc tối tăm, hoặc âm ế, hoặc gió
dữ,
19. hoặc tiếng loa thổi vang, hoặc tiếng nói kinh khiếp đến nỗi ai
nghe đều nài xin đừng nói với mình nữa;
20. vì họ không chịu nổi lời
phán nầy: Dẫu loài thú vật tới gần núi nầy cũng sẽ bị ném đá.
21. Lại
cảnh trạng đó rất kinh khiếp, đến nỗi Môi-se nói rằng: Ta thật sợ sệt và
run rẩy cả người.
22. Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của
Ðức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn
thiên sứ nhóm lại,
23. gần Hội thánh của những con trưởng được ghi tên
trong các từng trời, gần Ðức Chúa Trời, là quan án của mọi người, gần các
linh hồn người nghĩa được vẹn lành,
24. gần Ðức Chúa Jêsus, là Ðấng
trung bảo của giao ước mới, và gần huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn
huyết của A-bên vậy.
25. Anh em hãy giữ, chớ từ chối Ðấng phán cùng
mình; vì nếu những kẻ kia cự Ðấng truyền lời báo cáo ở dưới đất, còn không
tránh khỏi thay, huống chi chúng ta, nếu cự Ðấng truyền lời báo cáo từ
trên trời, thì càng không tránh khỏi được.
26. Tiếng Ðấng ấy bây giờ
rúng động cả đất, hiện nay phán hứa rằng: Còn một lần nữa, ta sẽ chẳng
những rúng động đất mà thôi, những cũng rúng động trời nữa.
27. Và,
trong những chữ: Còn một lần nữa, tỏ ra rằng các vật hay bị rúng động, vì
là những vật đã chịu dựng nên, sẽ bị cất đi, hầu cho những vật không hề
rúng động được còn lại.
28. Như vậy, vì chúng ta có phần trong một nước
không hay rúng động, nên hãy cảm ơn, hầu cho lấy lòng kính sợ hầu việc Ðức
Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài;
29. vì Ðức Chúa Trời chúng ta là đám
lửa hay thiêu đốt.
Hê-bơ-rơ 13 chọn
đoạn khác
1. Hãy hằng có tình
yêu thương anh em.
2. Chớ quên sự tiếp khách; có khi kẻ làm điều đó, đã
tiếp đãi thiên sứ mà không biết.
3. Hãy nhớ những kẻ mắc vòng xiềng
xích, như mình cùng phải xiềng xích với họ, lại cũng hãy nhớ những kẻ bị
ngược đãi, vì mình cũng có thân thể giống như họ.
4. Mọi người phải
kính trọng sự hôn nhân, chốn quê phòng chớ có ô uế, vì Ðức Chúa Trời sẽ
đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình.
5. Chớ tham tiền; hãy
lấy điều mình có làm đủ rồi, vì chính Ðức Chúa Trời có phán rằng: Ta sẽ
chẳng lìa ngươi đâu, chẳng bỏ ngươi đâu.
6. Như vậy, chúng ta được lấy
lòng tin chắc mà nói rằng: Chúa giúp đỡ tôi, tôi không sợ chi hết. Người
đời làm chi tôi được?
7. Hãy nhớ những người dắt dẫn mình, đã truyền
đạo Ðức Chúa Trời cho mình; hãy nghĩ xem sự cuối cùng đời họ là thể nào,
và học đòi đức tin họ.
8. Ðức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và
cho đến đời đời không hề thay đổi.
9. Anh em chớ để cho mọi thứ đạo lạ
dỗ dành mình; vì lòng nhờ ân điển được vững bền, ấy là tốt, chớ không phải
nhờ đồ ăn, là sự chẳng ích chi cho kẻ làm như vậy.
10. Chúng ta có một
cái bàn thờ, phàm kẻ hầu việc trong đền tạm không có phép lấy gì tại đó mà
ăn.
11. Vả, huyết của con sinh bị thầy tế lễ thượng phẩm đem vào nơi
thánh để làm lễ chuộc tội, còn thân thể nó thì đốt đi bên ngoài trại
quân.
12. Ấy vì đó mà chính mình Ðức Chúa Jêsus đã chịu khổ tại ngoài
cửa thành để lấy huyết mình làm cho dân nên thánh.
13. Vậy nên chúng ta
hãy ra ngoài trại quân, đặng đi tới cùng Ngài, đồng chịu điều sỉ
nhục.
14. Vì dưới đời nầy, chúng ta không có thành còn luôn mãi, nhưng
chúng ta tìm thành hầu đến.
15. Vậy, hãy cậy Ðức Chúa Jêsus mà hằng
dâng tế lễ bằng lời ngợi khen cho Ðức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của
môi miếng xưng danh Ngài ra.
16. Chớ quên việc lành và lòng bố thí, và
sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Ðức Chúa Trời.
17. Hãy vâng lời kẻ dắt dẫn
anh em và chịu phục các người ấy, bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn
anh em, dường như phải khai trình, hầu cho các người ấy lấy lòng vui mừng
mà làm xong chức vụ mình, không phàn nàn chi, vì ấy chẳng ích lợi gì cho
anh em.
18. Hãy cầu nguyện cho chúng tôi, vì chúng tôi biết mình chắc
có lương tâm tốt, muốn ăn ở trọn lành trong mọi sự.
19. Tôi lại nài xin
anh em các ngươi đi, để tôi đến cùng anh em cho sớm hơn.
20. Ðức Chúa
Trời bình an, là Ðấng bởi huyết giao ước đời đời mà đem Ðấng chăn chiên
lớn là Ðức Chúa Jêsus chúng ta ra khỏi từ trong kẻ chết,
21. nguyền xin
Ngài bởi Ðức Chúa Jêsus Christ khiến anh em nên trọn vẹn trong sự lành,
đặng làm thành ý muốn Ngài, và làm ra sự đẹp ý Ngài trong chúng ta; sự
vinh hiển đáng về Ngài đời đời vô cùng! A-men.
22. Hỡi anh em, xin hãy
vui lòng nhận lấy những lời khuyên bảo nầy; ấy tôi đã viết vắn tắt cho anh
em vậy.
23. Hãy biết rằng anh em chúng ta là Ti-mô-thê đã được thả ra;
nếu người sớm đến, tôi sẽ cùng người đi thăm anh em.
24. Hãy chào thăm
mọi người dắt dẫn anh em và hết thảy các thánh đồ. Các thánh đồ ở Y-ta-li
gởi lời thăm anh em.
25. Nguyền xin ân điển ở với anh em hết
thảy!