Mục Lục
[1] [2] [3] [4]
[5] [6] [7] [8]
[9] [10] [11] [12]
[13] [14] [15] [16]
[17] [18] [19] [20]
[21]
Giăng 1 chọn
đoạn khác
1. Ban đầu có Ngôi Lời,
Ngôi Lời ở cùng Ðức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Ðức Chúa Trời.
2. Ban đầu
Ngài ở cùng Ðức Chúa Trời.
3. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi
đã làm nên mà không bởi Ngài.
4. Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự
sáng của loài người.
5. Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề
nhận lấy sự sáng.
6. Có một người Ðức Chúa Trời sai đến, tên là
Giăng.
7. Người đến để làm chứng về sự sáng, hầu cho bởi người ai nấy
đều tin.
8. Chính người chẳng phải là sự sáng, song người phải làm
chứng về sự sáng.
9. Sự sáng nầy là sự sáng thật, khi đến thế gian soi
sáng mọi người.
10. Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi
Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài.
11. Ngài đã đến trong
xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy.
12. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài,
thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là ban cho
những kẻ tin danh Ngài,
13. là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc
bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Ðức Chúa Trời vậy.
14.
Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta
đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ
nơi Cha.
15. Giăng làm chứng về Ngài khi kêu lên rằng: Ấy là về Ngài mà
ta đã nói: Ðấng đến sau ta trổi hơn ta, vì Ngài vốn trước ta.
16. Vả,
bởi sự đầy dẫy của Ngài mà chúng ta đều có nhận được, và ơn càng thêm
ơn.
17. Vì luật pháp đã ban cho Môi-se, còn ơn và lẽ thật bởi Ðức Chúa
Jêsus Christ mà đến.
18. Chẳng hề ai thấy Ðức Chúa Trời; chỉ Con một ở
trong lòng Cha, là Ðấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết.
19. Nầy là
lời chứng của Giăng, khi dân Giu-đa sai mấy thầy tế lễ, mấy người Lê-vi từ
thành Giê-ru-sa-lem đến hỏi người rằng: Ông là ai?
20. Người xưng ra,
chẳng chối chi hết, xưng rằng mình không phải là Ðấng Christ.
21. Họ
lại hỏi: Vậy thì ông là ai? phải là Ê-li chăng? Người trả lời: Không phải.
Ông phải là đấng tiên tri chăng: Người trả lời: Không phải.
22. Họ bèn
nói: Vậy thì ông là ai? hầu cho chúng tôi trả lời cùng những người đã sai
chúng tôi đến. Ông tự xưng mình là ai:
23. Người trả lời: Ta là tiếng
của người kêu trong đồng vắng rằng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng, như
đấng tiên tri Ê-sai đã nói.
24. Những kẻ chịu sai đến cùng Giăng đều là
người Pha-ra-si.
25. Họ lại hỏi rằng: Nếu ông chẳng phải Ðấng Christ,
chẳng phải Ê-li, chẳng phải đấng tiên tri, thì cớ sao ông làm phép báp
tem?
26. Giăng trả lời: Về phần ta, ta làm phép báp tem bằng nước;
nhưng có một Ðấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không biết.
27. Ấy là
Ðấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài.
28. Những việc đó đã
xảy ra tại thành Bê-tha-ni, bên kia sông Giô-đanh, là nơi Giăng làm phép
báp tem.
29. Qua ngày sau, Giăng thấy Ðức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì
nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời, là Ðấng cất tội lỗi thế gian
đi.
30. Ấy về Ðấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn
ta, vì người vốn trước ta.
31. Về phần ta, ta vốn chẳng biết Ngài;
nhưng ta đã đến làm phép báp-tem bằng nước, để Ngài được tỏ ra cho dân
Y-sơ-ra-ên.
32. Giăng lại còn làm chứng nầy nữa: Ta đã thấy Thánh Linh
từ trời giáng xuống như chim bò câu, đậu trên mình Ngài.
33. Về phần
ta, ta vốn không biết Ngài; nhưng Ðấng sai ta làm phép báp-tem bằng nước
có phán cùng ta rằng: Ðấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên
trên, ấy là Ðấng làm phép báp-tem bằng Ðức Thánh Linh.
34. Ta đã thấy
nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Ðức Chúa Trời.
35. Ngày
mai, Giăng lại ở đó với hai môn đồ mình;
36. nhìn Ðức Chúa Jêsus đi
ngang qua, bèn nói rằng: Kìa, Chiên con của Ðức Chúa Trời!
37. Hai môn
đồ nghe lời đó, bèn đi theo Ðức Chúa Jêsus.
38. Ðức Chúa Jêsus vừa xây
lại, thấy hai người đi theo mình, thì phán rằng: Các ngươi tìm chi? Thưa
rằng: Ra-bi (nghĩa là Thầy), Thầy ở đâu?
39. Ngài phán rằng: Hãy đến
xem. Vậy, hai người đi, thấy nơi Ngài ở, và ở lại cùng Ngài trong ngày đó;
lúc bấy giờ độ chừng giờ thứ mười.
40. Trong hai người đã nghe điều
Giăng nói và đi theo Ðức Chúa Jêsus đó, một là Anh-rê, em của Si-môn
Phi-e-rơ.
41. Trước hết người gặp anh mình là Si-môn, thì nói rằng:
Chúng ta đã gặp Ðấng Mê-si (nghĩa là Ðấng Christ).
42. Người bèn dẫn
Si-môn đến cùng Ðức Chúa Jêsus. Ngài vừa ngó thấy Si-môn, liền phán rằng:
Ngươi là Si-môn, con của Giô-na; ngươi sẽ được gọi là Sê-pha (nghĩa là
Phi-e-rơ).
43. Qua ngày sau, Ðức Chúa Jêsus muốn qua xứ Ga-li-lê, tìm
Phi-líp, mà phán rằng: Hãy theo ta.
44. Vả, Phi-líp là người
Bết-sai-đa, đồng thành với Anh-rê và Phi-e-rơ.
45. Phi-líp gặp
Na-tha-na-ên, nói với người rằng: Chúng ta đã gặp Ðấng mà Môi-se có chép
trong luật pháp, và các đấng tiên tri cũng có nói đến; ấy là Ðức Chúa
Jêsus ở Na-xa-rét, con của Giô-sép.
46. Na-tha-na-ên nói rằng: Há có
vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao? Phi-líp nói: Hãy đến xem.
47. Ðức
Chúa Jêsus thấy Na-tha-na-ên đến cùng mình, bèn phán về người rằng: Nầy,
một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá chi
hết.
48. Na-tha-na-ên thưa rằng: Bởi đâu thầy biết tôi? Ðức Chúa Jêsus
đáp rằng: Trước khi Phi-líp gọi ngươi, ta đã thấy ngươi lúc ở dưới cây
vả.
49. Na-tha-na-ên lại nói: Lạy thầy, thầy là Con Ðức Chúa Trời, thầy
là Vua dân Y-sơ-ra-ên!
50. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Vì ta đã phán cùng
ngươi rằng ta thấy ngươi dưới cây vả, thì ngươi tin; ngươi sẽ thấy việc
lớn hơn điều đó!
51. Ngài lại phán: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các
ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Ðức Chúa Trời lên
xuống trên Con người.
Giăng 2 chọn
đoạn khác
1. Cách ba ngày sau, có
đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, và mẹ Ðức Chúa Jêsus có tại
đó.
2. Ðức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài.
3.
Vừa khi thiếu rượu, mẹ Ðức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không có
rượu nữa.
4. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đờn bà kia, ta với ngươi có
sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.
5. Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng:
Người biểu chi, hãy vâng theo cả.
6. Vả, tại đó có sáu cái ché đá, định
dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba lường
nước.
7. Ðức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy;
thì họ đổ đầy tới miệng.
8. Ngài bèn phán rằng: Bây giờ nước múc đi,
đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho.
9. Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã
biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ
hầu bàn có múc nước thì biết rõ), bèn gọi chàng rể,
10. mà nói rằng:
Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế
đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.
11.
Ấy là tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mà Ðức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ
nhất, và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.
12.
Sau việc đó, Ngài với mẹ, anh em, và môn đồ Ngài đều xuống thành
Ca-bê-na-um; và chỉ ở đó ít ngày thôi.
13. Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa
hầu đến; Ðức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem.
14. Trong đền thờ,
Ngài thấy có người buôn bán bò, chiên, bò câu, và có người đổi bạc dọn
hàng ở đó.
15. Ngài bện một cái roi bằng dây, bèn đuổi hết thảy khỏi
đền thờ, chiên và bò nữa; vải tiền người đổi bạc và đổ bàn của họ.
16.
Ngài phán cùng kẻ bán bò câu rằng: Hãy cất bỏ đồ đó khỏi đây, đừng làm cho
nhà Cha ta thành ra nhà buôn bán.
17. Môn đồ Ngài bèn nhớ lại lời đã
chép rằng: Sự sốt sắng về nhà Chúa tiêu nuốt tôi.
18. Các người Giu-đa
cất tiếng thưa cùng Ngài rằng: Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem thấy
phép lạ chi?
19. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong
ba ngày ta sẽ dựng lại!
20. Người Giu-đa lại nói: Người ta xây đền thờ
nầy mất bốn mươi sáu năm, mà thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày!
21.
Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể mình.
22. Vậy, sau khi Ngài được
từ kẻ chết sống lại rồi, môn đồ gẫm Ngài có nói lời đó, thì tin Kinh Thánh
và lời Ðức Chúa Jêsus đã phán.
23. Ðương lúc Ngài ở thành Giê-ru-sa-lem
để giữ lễ Vượt Qua, có nhiều người thấy phép lạ Ngài làm, thì tin danh
Ngài.
24. Nhưng Ðức Chúa Jêsus chẳng phó thác mình cho họ, vì Ngài nhận
biết mọi người,
25. và không cần ai làm chứng về người nào, bởi Ngài tự
thấu mọi điều trong lòng người ta.
Giăng 3 chọn
đoạn khác
1. Trong vòng người
Pha-ra-si, có người tên là Ni-cô-đem, là một người trong những kẻ cai trị
dân Giu-đa.
2. Ban đêm, người nầy đến cùng Ðức Chúa Jêsus mà nói rằng:
Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Ðức Chúa Trời đến; vì những
phép lạ thầy đã làm đó, nếu Ðức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm
được.
3. Ðức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói
cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Ðức
Chúa Trời.
4. Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao
được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao?
5. Ðức Chúa
Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng
nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Ðức Chúa
Trời.
6. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh
Linh là thần.
7. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi
phải sanh lại.
8. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động;
nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào
sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.
9. Ni-cô-đem lại nói: Ðiều đó làm
thể nào được?
10. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi là giáo sư của dân
Y-sơ-ra-ên, mà không hiểu biết những điều đó sao!
11. Quả thật, quả
thật, ta nói cùng ngươi, chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình
đã thấy; còn các ngươi chẳng hề nhận lấy lời chứng của chúng ta.
12. Ví
bằng ta nói với các ngươi những việc thuộc về đất, các ngươi còn chẳng tin
thay; huống chi ta nói những việc thuộc về trời, thì các ngươi tin sao
được?
13. Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Ðấng từ trời xuống, ấy là Con
người vốn ở trên trời.
14. Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng
thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy,
15. hầu cho hễ
ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.
16. Vì Ðức Chúa Trời yêu
thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy
không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
17. Vả, Ðức Chúa Trời đã sai
Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu
cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu.
18. Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán
xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con
một Ðức Chúa Trời.
19. Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến
thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu
xa.
20. Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự
sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng.
21. Nhưng kẻ nào
làm theo lẽ thật thì đến cùng sự sáng, hầu cho các việc của mình được bày
tỏ ra, vì đã làm trong Ðức Chúa Trời.
22. Kế đó, Ðức Chúa Jêsus đi với
môn đồ đến đất Giu-đê; Ngài ở với môn đồ tại đó, và làm phép báp
tem.
23. Giăng cũng làm phép báp tem tại Ê-nôn, gần Sa-lim, vì ở đó có
nhiều nước, và người ta đến đặng chịu phép báp tem.
24. Bấy giờ Giăng
chưa bị bỏ vào ngục.
25. Vả, môn đồ của Giăng có cãi lẫy với một người
Giu-đa về lễ tinh sạch.
26. Họ đến cùng Giăng và nói rằng: Thưa thầy,
kìa, người ở cùng thầy bên kia sông Giô-đanh, mà thầy đã làm chứng cho,
bây giờ đương làm phép báp tem, và ai nấy đều đến cùng người.
27. Giăng
trả lời rằng: Ví chẳng từ trên trời ban cho, thì không một người nào có
thể lãnh chi được.
28. Chính các ngươi làm chứng cho ta rằng ta đã nói:
Ấy không phải ta là Ðấng Christ, nhưng ta đã được sai đến trước
Ngài.
29. Ai mới cưới vợ, nấy là chàng rể, nhưng bạn của chàng rể đứng
gần và nghe người, khi nghe tiếng của chàng rể thì rất đỗi vui mừng; ấy là
sự vui mừng trọn vẹn của ta đó.
30. Ngài phải dấy lên, ta phải hạ
xuống.
31. Ðấng từ trên cao đến là trên hết mọi loài. Kẻ từ đất đến là
thuộc về đất, và nói ra cũng như là thuộc về đất; còn Ðấng từ trời đến thì
trên hết mọi loài.
32. Ngài làm chứng về điều Ngài đã thấy và nghe;
song không có ai nhận lấy lời chứng của Ngài.
33. Ai đã nhận lấy lời
chứng của Ngài thì làm chứng chắc rằng Ðức Chúa Trời là thật.
34. Vì
Ðấng mà Ðức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời Ðức Chúa Trời, bởi Ðức
Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không chừng mực.
35. Cha yêu Con, và
đã giao hết mọi vật trong tay Con.
36. Ai tin Con, thì được sự sống đời
đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ
của Ðức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.
Giăng 4 chọn
đoạn khác
1. Khi
Chúa đã hay rằng người Pha-ra-si có nghe đồn Ngài gọi và làm phép báp tem
được nhiều môn đồ hơn Giăng,
2. (kỳ thiệt không phải chính Ðức Chúa
Jêsus làm phép báp tem, nhưng là môn đồ Ngài),
3. thì Ngài lìa xứ
Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.
4. Vả, Ngài phải đi ngang qua xứ
Sa-ma-ri.
5. Vậy Ngài đến một thành thuộc về xứ Sa-ma-ri, gọi là
Si-kha, gần đồng ruộng mà Gia-cốp cho Giô-sép là con mình.
6. Tại đó có
cái giếng Gia-cốp. Nhơn đi đàng mỏi mệt, Ðức Chúa Jêsus ngồi gần bên
giếng; bấy giờ độ chừng giờ thứ sáu.
7. Một người đờn bà Sa-ma-ri đến
múc nước. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy cho ta uống.
8. Vì môn đồ Ngài
đã đi ra phố đặng mua đồ ăn.
9. Người đờn bà Sa-ma-ri thưa rằng: Ủi
kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đờn
bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân
Sa-ma-ri.)
10. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng ngươi biết sự ban cho
của Ðức Chúa Trời, và biết người nói: "Hãy cho ta uống" là ai, thì chắc
ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống.
11. Người
đờn bà thưa: Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi
đâu có nước sống ấy?
12. Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại
cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy
vật người nữa, vậy Chúa há lớn hơn Gia-cốp sao?
13. Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi;
14. nhưng uống nước ta sẽ
cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người
đó văng ra cho đến sự sống đời đời.
15. Người đờn bà thưa: Lạy Chúa,
xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước
nữa.
16. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại
đây.
17. Người đờn bà thưa rằng: Tôi không có chồng. Ðức Chúa Jêsus lại
phán: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm;
18. vì ngươi đã
có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi;
điều đó ngươi đã nói thật vậy.
19. Người đờn bà thưa rằng: Lạy Chúa,
tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri.
20. Tổ phụ chúng tôi đã thờ
lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại
thành Giê-ru-sa-lem.
21. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đờn bà,
hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi
nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem.
22. Các ngươi thờ lạy sự các
ngươi không biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến.
23. Nhưng giờ
hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ
thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích
vậy.
24. Ðức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm
thần và lẽ thật mà thờ lạy.
25. Người đờn bà thưa: Tôi biết rằng Ðấng
Mê-si (nghĩa là Ðấng Christ) phải đến; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi
việc cho chúng ta.
26. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với
ngươi đây, chính là Ðấng đó.
27. Khi đó, môn đồ tới, đều sững sờ về
Ngài nói với một người đờn bà; nhưng chẳng ai hỏi rằng: Thầy hỏi người ấy
điều chi? hay là: Sao thầy nói với người?
28. Người đờn bà bèn bỏ cái
vò nước của mình lại và vào thành, nói với người tại đó rằng:
29. Hãy
đến xem một người đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm; ấy chẳng phải là Ðấng
Christ sao?
30. Chúng bèn từ trong thành ra và đến cùng Ðức Chúa
Jêsus.
31. Song le, môn đồ nài nỉ một bên Ngài mà rằng: Thưa thầy, xin
hãy ăn.
32. Ngài đáp rằng: Ta có một thứ lương thực để nuôi mình mà các
ngươi không biết.
33. Vậy môn đồ nói với nhau rằng: Có ai đã đem chi
cho thầy ăn chăng?
34. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ðồ ăn của ta tức là
làm theo ý muốn của Ðấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.
35.
Các ngươi há chẳng nói rằng còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt sao? Song ta
nói với các ngươi: Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho
mùa gặt.
36. Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu chứa hoa lợi cho sự
sống đời đời, hầu cho người gieo giống và con gặt được cùng nhau vui
vẻ.
37. Vì đây người ta có thể nói rằng: Người nầy thì gieo, người kia
thì gặt, là rất phải.
38. Ta đã sai các ngươi gặt nơi mình không làm;
kẻ khác đã làm, còn các ngươi thì đã vào tiếp lấy công lao của họ.
39.
Có nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì cứ lời đờn bà đã làm chứng
về Ngài mà rằng: Ngài đã bảo tôi mọi điều tôi đã làm.
40. Vậy, các
người Sa-ma-ri đã đến cùng Ngài, xin Ngài vào trọ nơi mình; Ngài bèn ở lại
đó hai ngày.
41. Khi đã nghe lời Ngài rồi, người tin Ngài càng đông hơn
nữa.
42. Họ nói với người đờn bà rằng: Ấy không còn phải vì điều ngươi
đã nói với chúng ta mà chúng ta tin đâu; vì chính chúng ta đã nghe Ngài,
và biết rằng chính Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian.
43. Khỏi hai
ngày ấy, Ðức Chúa Jêsus từ đó đi qua xứ Ga-li-lê
44. (vì chính Ngài đã
phán rằng một người tiên tri chẳng bao giờ được tôn kính trong quê hương
mình).
45. Khi đã đến xứ Ga-li-lê, Ngài được dân xứ ấy tiếp rước tử tế,
bởi dân đó đã thấy mọi điều Ngài làm tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày
lễ; vì họ cũng có đi dự lễ.
46. Vậy, Ngài lại đến thành Ca-na, trong xứ
Ga-li-lê, là nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Nguyên ở tại thành
Ca-bê-na-um, có một quan thị vệ kia, con trai người mắc bịnh.
47. Quan
đó nghe Ðức Chúa Jêsus đã từ xứ Giu-đê đến xứ Ga-li-lê, bèn tìm đến và xin
Ngài xuống đặng chữa cho con mình gần chết.
48. Ðức Chúa Jêsus phán
rằng: Nếu các ngươi không thấy phép lạ và điềm lạ, thì các ngươi chẳng
tin!
49. Quan thị vệ trả lời rằng: Lạy Chúa, xin Chúa xuống trước khi
con tôi chưa chết!
50. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, con của ngươi
sống. Người đó tin lời Ðức Chúa Jêsus đã phán cho mình, bèn đi.
51.
Người đang đi dọc đàng, các đầy tớ người đến đón mà rằng: Con trai chủ
sống.
52. Người bèn hỏi họ con trai mình đã thấy khá nhằm giờ nào. Họ
trả lời rằng: bữa qua, hồi giờ thứ bảy, cơn rét lui khỏi.
53. Người cha
nhận biết rằng ấy là chính giờ đó Ðức Chúa Jêsus đã phán cùng mình rằng:
Con của ngươi sống; thì người với cả nhà đều tin.
54. Ấy là phép lạ thứ
hai mà Ðức Chúa Jêsus đã làm, khi Ngài từ xứ Giu-đê trở về xứ
Ga-li-lê.
Giăng 5
chọn
đoạn khác
1. Kế đó, có một ngày lễ của dân Giu-đa,
Ðức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem.
2. Số là, tại thành
Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một cái ao, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là
Bê-tết-đa, xung quanh ao có năm cái vòm cửa.
3. Những kẻ đau ốm, mù
quáng, tàn tật, bại xuội nằm tại đó rất đông, chờ khi nước động;
4. vì
một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động; lúc
nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kỳ mắc bịnh gì, cũng được
lành.
5. Nơi đó, có một người bị bịnh đã được ba mươi tám năm.
6.
Ðức Chúa Jêsus thấy người nằm, biết rằng đau đã lâu ngày thì phán: Ngươi
có muốn lành chăng?
7. Người bịnh thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng có ai
để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã
xuống ao trước tôi rồi.
8. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đứng dậy, vác
giường ngươi và đi.
9. Tức thì người ấy được lành, vác giường mình và
đi. Vả, bấy giờ là ngày Sa-bát.
10. Các người Giu-đa bèn nói với kẻ
được chữa lành rằng: Nay là ngày Sa-bát, ngươi không phép mang giường mình
đi.
11. Người trả lời rằng: Chính người đã chữa tôi được lành biểu tôi
rằng: Hãy vác giường ngươi và đi.
12. Họ hỏi rằng: Người đã biểu ngươi:
Hãy vác giường và đi, là ai?
13. Nhưng người đã được chữa lành không
biết là ai: vì Ðức Chúa Jêsus đã lẫn trong đám đông tại chỗ đó.
14. Sau
lại, Ðức Chúa Jêsus gặp người đó trong đền thờ, bèn phán rằng: Kìa, ngươi
đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi
chăng.
15. Người đó đi nói với các người Giu-đa rằng ấy là Ðức Chúa
Jêsus đã chữa lành cho mình.
16. Nhơn đó dân Giu-đa bắt bớ Ðức Chúa
Jêsus, vì cớ Ngài làm những sự ấy trong ngày Sa-bát.
17. Nhưng Ngài
phán cùng họ rằng: Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc
như vậy.
18. Bởi cớ đó, dân Giu-đa càng kiếm cách nữa để giết Ngài,
chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa-bát thôi, mà lại vì Ngài gọi Ðức Chúa
Trời là Thân phụ mình, làm ra mình bằng Ðức Chúa Trời.
19. Vậy, Ðức
Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng
các ngươi, Con chẳng tự mình làm việc gì được; chỉ làm điều chi mà Con
thấy Cha làm; vì mọi điều Cha làm, Con cũng làm y như vậy.
20. Cha yêu
Con và tỏ cho Con công việc lớn lao hơn những việc nầy nữa, để các ngươi
lấy làm lạ lùng.
21. Vả, Cha khiến những kẻ chết sống lại và ban sự
sống cho họ thể nào, thì Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể
ấy.
22. Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán
xét cho Con,
23. đặng ai nấy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha
vậy. Ai không tôn kính Con, ấy là không tôn kính Cha, là Ðấng đã sai Con
đến.
24. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà
tin Ðấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét,
song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.
25. Quả thật, quả thật, ta nói
cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng
của Con Ðức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống.
26. Vì như Cha có
sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình
vậy.
27. Cha đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con
người.
28. Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ
mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi:
29. ai đã làm lành thì sống lại để được
sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán.
30. Ta không thể tự
mình làm nổi việc gì; ta xét đoán theo điều ta nghe, và sự xét đoán ta là
công bình, vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Ðấng đã sai
ta.
31. Nếu ta tự mình làm chứng lấy, thì sự làm chứng ấy không đáng
tin.
32. Có người khác làm chứng cho ta, và ta biết rằng chứng người đó
làm cho ta là đáng tin.
33. Các ngươi có sai sứ đến cùng Giăng, thì
người đã làm chứng cho lẽ thật.
34. Còn ta, lời chứng mà ta nhận lấy
chẳng phải bởi người ta; nhưng ta nói vậy, đặng các ngươi được cứu.
35.
Giăng là đuốc đã thắp và sáng, các ngươi bằng lòng vui tạm nơi ánh sáng
của người.
36. Nhưng ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng; vì các
việc Cha đã giao cho ta làm trọn, tức là các việc ta làm đó, làm chứng cho
ta rằng Cha đã sai ta.
37. Chính Cha, là Ðấng đã sai ta, cũng làm chứng
về ta. Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, chưa hề thấy mặt Ngài,
38. và
đạo Ngài không ở trong các ngươi, vì các ngươi không tin Ðấng mà Ngài đã
sai đến.
39. Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống
đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy.
40. Các ngươi không muốn
đến cùng ta để được sự sống!
41. Ta chẳng cầu vinh hiển bởi người ta mà
đến đâu;
42. nhưng ta biết rằng các ngươi chẳng có sự yêu mến Ðức Chúa
Trời ở trong các ngươi.
43. Ta nhơn danh Cha ta mà đến, các ngươi không
nhận lấy ta. Nếu có kẻ khác lấy danh riêng mình mà đến, thì các ngươi sẽ
nhận lấy.
44. Các ngươi vẫn chịu vinh hiển lẫn của nhau, không tìm kiếm
vinh hiển bởi một mình Ðức Chúa Trời đến, thì thể nào các ngươi tin
được?
45. Chớ ngờ rằng ấy là ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha,
người sẽ tố cáo các ngươi là Môi-se, làm người mà các ngươi trông
cậy.
46. Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta
mà người đã chép.
47. Nhưng nếu các ngươi chẳng tin những lời người
chép, các ngươi há lại tin lời ta sao?
Giăng 6 chọn
đoạn khác
1. Rồi
đó, Ðức Chúa Jêsus qua bờ bên kia biển Ga-li-lê, là biển
Ti-bê-ri-át.
2. Một đoàn dân đông theo Ngài, vì từng thấy các phép lạ
Ngài làm cho những kẻ bịnh.
3. Nhưng Ðức Chúa Jêsus lên trên núi, ngồi
đó với môn đồ.
4. Vả, lễ Vượt Qua, là lễ của đến Giu-đa gần tới.
5.
Ðức Chúa Jêsus ngước mắt lên, thấy một đoàn dân đông đến cùng mình, bèn
phán với Phi-líp rằng: Chúng ta sẽ mua bánh ở đâu, để cho dân nầy có mà
ăn?
6. Ngài phán điều đó đặng thử Phi-líp, chớ Ngài đã biết điều Ngài
sẽ làm rồi.
7. Phi-líp thưa rằng: Hai trăm đơ-ni-ê bánh không đủ phát
cho mỗi người một ít.
8. Một môn đồ, là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ,
thưa rằng:
9. Ðây có một đứa con trai, có năm cái bánh mạch nha và hai
con cá; nhưng đông người dường nầy, thì ngằn ấy có thấm vào đâu?
10.
Ðức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy truyền cho chúng ngồi xuống. Vả, trong
nơi đó có nhiều cỏ. Vậy, chúng ngồi xuống, số người ước được năm
ngàn.
11. Ðức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bèn phân phát cho những
kẻ đã ngồi; Ngài cũng lấy cá phát cho chúng nữa, ai muốn bao nhiêu mặc
ý.
12. Khi chúng đã ăn được no nê, Ngài phán với môn đồ rằng: Hãy lượm
những miếng còn thừa, hầu cho không mất chút nào.
13. Vậy, môn đồ lượm
những miếng thừa của năm cái bánh mạch nha, sau khi người ta đã ăn rồi,
chứa đầy mười hai giỏ.
14. Những người đó thấy phép lạ Ðức Chúa Jêsus
đã làm, thì nói rằng: Người nầy thật là Ðấng tiên tri phải đến thế
gian.
15. Bấy giờ Ðức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm
vua, bèn lui ở một mình trên núi.
16. Ðến chiều, môn đồ xuống nơi bờ
biển,
17. và vào trong một chiếc thuyền, sang thẳng bờ bên kia, hướng
về thành Ca-bê-na-um. Trời chợt tối, mà Ðức Chúa Jêsus còn chưa đến cùng
các môn đồ.
18. Gió thổi ào ào, đến nỗi biển động dữ dội.
19. Khi
các môn đồ đã chèo ra độ chừng hai mươi lăm hay là ba mươi ếch-ta-đơ, thấy
Ðức Chúa Jêsus đi trên mặt biển, gần tới chiếc thuyền, thì sợ hãi.
20.
Nhưng Ngài phán rằng: Ấy là ta đây, đừng sợ chi!
21. Bấy giờ, môn đồ
muốn rước Ngài vào thuyền; tức thì chiếc thuyền đậu vào bờ, là nơi định
đi.
22. Ðoàn dân ở bờ biển bên kia, đã nhận rằng ở đó chỉ có một chiếc
thuyền với môn đồ Ngài, chỉ một mình môn đồ đi mà thôi.
23. Qua ngày
sau, có mấy chiếc thuyền khác từ thành Ti-bê-ri-át lại gần nơi chúng đã ăn
bánh khi Chúa tạ ơn rồi,
24. đoàn dân thấy Ðức Chúa Jêsus không ở đó
môn đồ cũng không, bèn vào mấy thuyền kia mà đi qua thành Ca-bê-na-um để
tìm Ðức Chúa Jêsus.
25. Chúng vừa tìm được Ngài tại bờ bên kia biển,
bèn thưa rằng: Lạy thầy, thầy đến đây bao giờ?
26. Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi tìm ta chẳng
phải vì đã thấy mấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được
no.
27. Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại
đến sự sống đời đời, là thứ Con người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Con,
mà Cha, tức là chính Ðức Chúa Trời, đã ghi ấn tín của mình.
28. Chúng
thưa rằng: Chúng tôi phải làm chi cho được làm công việc Ðức Chúa
Trời?
29. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi tin Ðấng mà Ðức Chúa Trời
đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài.
30. Chúng bèn nói rằng: Thế thì
thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc
gì?
31. Tổ phụ chúng ta đã ăn ma-na trong đồng vắng, theo như lời chép
rằng: Ngài đã ban cho họ ăn bánh từ trên trời xuống.
32. Ðức Chúa Jêsus
đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Môi-se chưa hề cho
các ngươi bánh từ trên trời đâu; nhưng Cha ta ban cho các ngươi bánh thật,
là bánh từ trên trời xuống.
33. Bởi chưng bánh Ðức Chúa Trời là bánh từ
trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian.
34. Chúng thưa rằng:
Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn!
35. Ðức Chúa Jêsus
phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin
ta chẳng hề khát.
36. Nhưng ta đã nói: Các ngươi đã thấy ta, mà chẳng
tin.
37. Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta
không bỏ ra ngoài đâu.
38. Vì ta từ trên trời xuống, chẳng phải để làm
theo ý ta, nhưng làm theo ý Ðấng đã sai ta đến.
39. Vả, ý muốn của Ðấng
đã sai ta đến là hễ sự gì Ngài đã ban cho ta, thì ta chớ làm mất, nhưng ta
phải làm cho sống lại nơi ngày sau rốt.
40. Ðây là ý muốn của Cha ta,
phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm
cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt.
41. Nhưng vì Ngài đã phán: Ta là
bánh từ trên trời xuống, nên các ngươi Giu-đa lằm bằm về Ngài,
42. mà
rằng: Ấy chẳng phải là Jêsus, con của Giô-sép, mà chúng ta đều biết cha mẹ
người chăng? Vậy, thể nào người nói được rằng: Ta đã từ trên trời mà
xuống?
43. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chớ lằm bằm với
nhau.
44. Ví bằng Cha, là Ðấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai
được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau
rốt.
45. Các sách tiên tri có chép rằng: Ai nấy đều sẽ được Ðức Chúa
Trời dạy dỗ. Hễ ai đã nghe Cha và học theo Ngài thì đến cùng ta.
46. Ấy
chẳng phải kẻ nào đã từng thấy Cha, trừ ra Ðấng từ Ðức Chúa Trời mà đến;
Ðấng ấy đã thấy Cha.
47. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ
ai tin thì được sự sống đời đời.
48. Ta là bánh của sự sống.
49. Tổ
phụ các ngươi đã ăn ma-na trong đồng vắng, rồi cũng chết.
50. Ðây là
bánh từ trời xuống, hầu cho ai ăn chẳng hề chết.
51. Ta là bánh từ trên
trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng; và bánh mà ta sẽ ban
cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta.
52. Bởi đó, các ngươi
Giu-đa cãi lẽ với nhau, mà rằng: Lẽ nào người nầy lấy thịt mình cho chúng
ta ăn sao?
53. Ðức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Quả thật, quả
thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt của Con người,
cùng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi
đâu.
54. Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày
sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại.
55. Vì thịt ta thật là đồ ăn,
huyết ta thật là đồ uống.
56. Người nào ăn thịt ta và uống huyết ta,
thì ở trong ta, và ta ở trong người.
57. Như Cha, là Ðấng hằng sống, đã
sai ta đến, và ta sống bởi Cha; cũng một thể ấy, người nào ăn ta, sẽ sống
bởi ta vậy.
58. Ðây là bánh từ trên trời xuống. Bánh đó chẳng phải như
ma-na mà tổ phụ các ngươi đã ăn, rồi cũng sẽ chết; kẻ nào ăn bánh nầy sẽ
sống đời đời.
59. Ðức Chúa Jêsus phán những điều đó lúc dạy dỗ trong
nhà hội tại thành Ca-bê-na-um.
60. Có nhiều môn đồ nghe Ngài, thì nói
rằng: Lời nầy thật khó; ai nghe được?
61. Nhưng Ðức Chúa Jêsus tự mình
biết môn đồ lằm bằm về việc đó, bèn phán rằng: Ðiều đó xui cho các ngươi
vấp phạm sao?
62. Vậy, nếu các ngươi thấy Con người lên nơi Ngài vốn ở
khi trước thì thể nào?
63. Ấy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng
ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự
sống.
64. Song trong vòng các ngươi có kẻ không tin. Vì Ðức Chúa Jêsus
biết từ ban đầu, ai là kẻ không tin, ai là kẻ sẽ phản Ngài.
65. Ngài
lại phán rằng: Chính vì cớ đó, mà ta đã nói cùng các ngươi rằng nếu Cha
chẳng ban cho, thì chẳng ai tới cùng ta được.
66. Từ lúc ấy, có nhiều
môn đồ Ngài trở lui, không đi với Ngài nữa.
67. Ðức Chúa Jêsus phán
cùng mười hai sứ đồ rằng: Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng?
68.
Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những
lời của sự sống đời đời;
69. chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là
Ðấng thánh của Ðức Chúa Trời.
70. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta há chẳng
đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là
quỉ!
71. Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn Ích-ca-ri-ốt; vì chính hắn
là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài.
Giăng 7 chọn
đoạn khác
1. Kế đó,
Ðức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê. Ngài không ưng đi trong xứ Giu-đê, bởi
dân Giu-đa vẫn tìm phương giết Ngài.
2. Và, ngày lễ của dân Giu-đa, gọi
là lễ Lều Tạm gần đến.
3. Anh em Ngài nói rằng: Hãy đi khỏi đây, và qua
xứ Giu-đê, để cho các môn đồ cũng được xem công việc thầy làm.
4. Khi
nào người ta muốn tỏ mình ra, thì không làm kín giấu việc gì. Vì thầy làm
những sự đó, hãy tỏ mình cho thiên hạ.
5. Bởi chưng chính các anh em
Ngài không tin Ngài.
6. Ðức Chúa Jêsus phán cùng anh em rằng: Thì giờ
ta chưa đến; còn về các ngươi, thì giờ được tiện luôn luôn.
7. Thế gian
chẳng ghét các ngươi được; nhưng ghét ta, vì ta làm chứng nầy về họ rằng
công việc họ là ác.
8. Các ngươi hãy lên dự lễ nầy, còn ta chưa lên dự
lễ đó, vì thì giờ ta chưa trọn.
9. Ngài nói xong, cứ ở lại xứ
Ga-li-lê.
10. Lúc anh em Ngài đã lên dự lễ rồi, thì Ngài cũng lên,
nhưng đi cách kín giấu, không thố lộ.
11. Vậy, các ngươi Giu-đa tìm
Ngài trong ngày lễ, và nói rằng: Nào người ở đâu?
12. Trong đám đông có
tiếng xôn xao bàn về Ngài. Người thì nói: Ấy là một người lành; kẻ thì
nói: Không phải; người phỉnh dỗ dân chúng!
13. Song chẳng ai dám nói về
Ngài tỏ tường, vì sợ dân Giu-đa.
14. Giữa kỳ lễ, Ðức Chúa Jêsus lên đền
thờ dạy dỗ.
15. Các ngươi Giu-đa sững sờ mà nói rằng: Người nầy chưa
từng học, làm sao biết được Kinh Thánh?
16. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng:
Ðạo lý của ta chẳng phải bởi ta, nhưng bởi Ðấng đã sai ta đến.
17. Nếu
ai khứng làm theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải
là bởi Ðức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta.
18. Kẻ nói theo ý mình,
thì tìm vinh hiển riêng mình; nhưng kẻ tìm vinh hiển của Ðấng đã sai mình
đến, mới là chân thật, và chắc trong mình không có điều gì không công bình
đâu.
19. Môi-se há chẳng ban luật pháp cho các ngươi sao? Mà trong các
ngươi không có một ai tuân theo luật pháp! Cớ sao các ngươi kiếm thế giết
ta?
20. Dân chúng trả lời rằng: Ngươi bị quỉ ám, nào ai là người tìm
thế giết ngươi?
21. Ðức Chúa Jêsus đáp lại rằng: Ta đã làm một việc,
các ngươi thảy đều lấy làm lạ.
22. Môi-se đã truyền phép cắt bì cho các
ngươi (phép đó không phải bởi Môi-se, nhưng bởi tổ tông), và các ngươi làm
phép cắt bì cho người đờn ông trong ngày Sa-bát!
23. Nếu người đờn ông
chịu phép cắt bì ngày Sa-bát, cho khỏi phạm luật pháp Môi-se, thì sao ta
chữa cho cả mình người bình được lành trong ngày Sa-bát, mà các ngươi lại
nổi giận?
24. Ðừng cứ bề ngoài mà xét đoán, nhưng phải xét đoán theo lẽ
công bình.
25. Có mấy kẻ trong dân thành Giê-ru-sa-lem nói rằng: Ðó có
phải là người mà người ta tìm giết chăng?
26. Kìa, người nói tự do, mà
không ai nói chi người hết. Dễ thường các quan đã nhận thật người là Ðấng
Christ?
27. Thế mà, chúng ta biết người nầy từ đâu lại; song khi Ðấng
Christ sẽ đến, thì không ai biết Ngài từ đâu đến.
28. Bấy giờ, Ðức Chúa
Jêsus đang dạy trong đền thờ, thì kêu lên rằng: Các ngươi quen ta, các
ngươi biết ta từ đâu lại! Ta đã đến chẳng phải tự ta, nhưng Ðấng đã sai ta
đến là thật, mà các ngươi không biết Ngài.
29. Ta thì biết Ngài; vì ta
từ Ngài đến, và Ngài là Ðấng đã sai ta đến.
30. Vậy, họ kiếm thế bắt
Ngài; nhưng không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.
31. Song
trong vòng dân chúng nhiều kẻ tin Ngài, nói rằng: Khi Ðấng Christ đến, sẽ
có làm nhiều phép lạ hơn người nầy đã làm chăng?
32. Người Pha-ra-si
nghe lời đoàn dân nghị luận về Ngài, thì mấy thầy tế lễ cả đồng tình với
họ, cắt lính đi bắt Ngài.
33. Ðức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta còn ở
với các ngươi ít lâu nữa; rồi ta đi về cùng Ðấng sai ta đến.
34. Các
ngươi sẽ kiếm ta mà chẳng thấy, và nơi ta ở, các ngươi không thể đến
được.
35. Các người Giu-đa nói với nhau rằng: Thế thì người sẽ đi đâu
mà ta không tìm được? Có phải người sẽ đi đến cùng những kẻ lưu lạc trong
dân Gờ-réc và dạy dân Gờ-réc chăng?
36. Người đã nói rằng: Các ngươi sẽ
tìm ta, mà chẳng thấy, và nơi ta ở, các ngươi không thể đến được, ấy là
nghĩa làm sao?
37. Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Ðức
Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà
uống.
38. Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng
mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.
39. Ngài phán điều đó chỉ về Ðức
Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Ðức Thánh Linh
chưa ban xuống, vì Ðức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển.
40. Trong đoàn
dân có nhiều người nghe những lời đó, thì nói: Người nầy thật là đấng tiên
tri. Người khác thì nói: Ấy là Ðấng Christ.
41. Người khác nữa lại nói:
Ðấng Christ há từ Ga-li-lê mà đến sao?
42. Kinh Thánh há chẳng nói rằng
Ðấng Christ phải ra từ dòng dõi vua Ða-vít sao?
43. Vậy, dân chúng cãi
lẽ nhau về Ngài.
44. Có mấy kẻ trong đám dân muốn bắt Ngài, những không
ai đặt tay trên mình Ngài.
45. Vậy bọn lính trở về cùng các thầy tế lễ
cả và các người Pha-ra-si. Những người nầy hỏi họ rằng: Sao các ngươi
không điệu người đến?
46. Bọn lính thưa rằng: Chẳng hề có người nào đã
nói như người nầy!
47. Những người Pha-ra-si nói rằng: Các ngươi cũng
đã bị phỉnh dỗ sao?
48. Có một người nào trong các quan hay là trong
những người Pha-ra-si tin đến người đó chăng?
49. Song lũ dân nầy không
biết luật chi cả, thật là dân đáng rủa!
50. Ni-cô-đem (là người trước
có đến cùng Ðức Chúa Jêsus và là một người trong đám họ) nói rằng:
51.
Luật chúng ta há bắt tội một người nào chưa tra hỏi đến, và chưa biết điều
người ấy đã làm, hay sao?
52. Họ trả lời rằng: Ngươi cũng là người
Ga-li-lê sao? Ngươi hãy tra xét, sẽ thấy rằng chẳng có tiên tri nào từ xứ
Ga-li-lê mà ra hết.
53. Ai nấy đều trở về nhà mình.
Giăng 8
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus lên trên núi ô-li-ve.
2. Nhưng đến tảng
sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy
dỗ họ.
3. Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ra-si dẫn lại
cho Ngài một người đờn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người
giữa đám đông,
4. mà nói cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đờn
bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm.
5. Vả, trong luật pháp Môi-se có
truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; còn thầy,
thì nghĩ sao?
6. Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài.
Nhưng Ðức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất.
7. Vì họ cứ
hỏi nữa, thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô
tội, hãy trước nhứt ném đá vào người.
8. Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết
trên mặt đất.
9. Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những
người có tuổi đi trước; Ðức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đờn bà,
người vẫn đương đứng chính giữa đó.
10. Ðức Chúa Jêsus bấy giờ lại
ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đờn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ
kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?
11. Người
thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không
định tội người; hãy đi, đừng phạm tội nữa.
12. Ðức Chúa Jêsus lại cất
tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta,
chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.
13. Người
Pha-ra-si bèn nói rằng: Thầy tự làm chứng về mình, thì lời chứng thầy
không đáng tin.
14. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Dẫu ta tự làm chứng về
mình, nhưng lời chứng ta là đáng tin, vì ta biết mình đã từ đâu đến và đi
đâu; song các ngươi không biết ta từ đâu mà đến, cũng chẳng hay ta đi
đâu.
15. Các ngươi xét đoán theo xác thịt; ta thì không xét đoán người
nào hết.
16. Nếu ta xét đoán ai, sự xét đoán của ta đúng với lẽ thật;
vì ta không ở một mình, nhưng Cha là Ðấng đã sai ta đến vẫn ở cùng
ta.
17. Vả, có chép trong luật pháp của các ngươi rằng lời chứng hai
người là đáng tin:
18. ta tự làm chứng cho ta, và Cha là Ðấng đã sai ta
đến cũng làm chứng cho ta.
19. Chúng thưa cùng Ngài rằng: Cha của thầy
ở đâu? Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chẳng biết ta, và cũng chẳng
biết Cha ta. Nếu các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta nữa.
20. Ðức
Chúa Jêsus phán mọi lời đó tại nơi Kho, đương khi dạy dỗ trong đền thờ; và
không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.
21. Ngài lại phán
cùng chúng rằng: Ta đi, các ngươi sẽ tìm ta, và các ngươi sẽ chết trong
tội lỗi mình. Các ngươi không thể đến được nơi ta đi.
22. Người Giu-đa
bèn nói rằng: Người đã nói: Các ngươi không thể đến được nơi ta đi, vậy
người sẽ tự tử sao?
23. Ngài phán rằng: Các ngươi bởi dưới mà có; còn
ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy; còn ta không thuộc về
thế gian nầy.
24. Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi
mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Ðấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội
lỗi các ngươi.
25. Chúng bèn hỏi Ngài rằng: Vậy thầy là ai? Ðức Chúa
Jêsus đáp rằng: Như lời ta đã nói với các ngươi từ ban đầu.
26. Ta có
người sự nói và đoán xét về các ngươi; nhưng Ðấng đã sai ta đến là thật,
và điều chi ta nghe bởi Ngài, ta truyền lại cho thế gian.
27. Chúng
không hiểu rằng Ngài phán về Cha.
28. Vậy Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Khi
các ngươi treo Con người lên, bấy giờ sẽ biết ta là ai, và biết ta không
tự mình làm điều gì, nhưng nói điều Cha ta đã dạy ta.
29. Ðấng đã sai
ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng
Ngài.
30. Bởi Ðức Chúa Jêsus nói như vậy, nên có nhiều kẻ tin
Ngài.
31. Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đã tin Ngài, rằng:
Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta;
32. các ngươi
sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.
33. Người Giu-đa
thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy
sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?
34. Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi
mọi của tội lỗi.
35. Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở
đó luôn.
36. Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự
do.
37. Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, nhưng các ngươi
tìm thế để giết ta, vì đạo ta không được chỗ nào ở trong lòng các
ngươi.
38. Ta nói điều ta đã thấy nơi Cha ta; còn các ngươi cứ làm điều
đã học nơi cha mình.
39. Chúng trả lời rằng: Cha chúng tôi tức là
Áp-ra-ham, Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi là con Áp-ra-ham, thì
chắc sẽ làm công việc của Áp-ra-ham.
40. Nhưng hiện nay, các ngươi tìm
mưu giết ta, là người lấy lẽ thật đã nghe nơi Ðức Chúa Trời mà nói với các
ngươi; Áp-ra-ham chưa hề làm điều đó!
41. Các ngươi làm công việc của
cha mình. Chúng nói rằng: Chúng tôi chẳng phải là con ngoại tình; chúng
tôi chỉ có một Cha, là Ðức Chúa Trời.
42. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ví
bằng Ðức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi sẽ yêu ta, vì ta bởi
Ðức Chúa Trời mà ra và từ Ngài mà đến; bởi chưng ta chẳng phải đã đến tự
mình đâu, nhưng ấy chính Ngài đã sai ta đến.
43. Tại sao các ngươi
không hiểu lời ta? Ấy là bởi các ngươi chẳng có thể nghe được đạo của
ta.
44. Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi
muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết
người, chẳng bền giữ được lẽ thật, và không có lẽ thật trong nó đâu. Khi
nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là
cha sự nói dối.
45. Nhưng vì ta nói lẽ thật, nên các ngươi không tin
ta.
46. Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được chăng? Nếu ta nói lẽ
thật, sao các ngươi không tin ta?
47. Ai ra bởi Ðức Chúa Trời, thì nghe
lời Ðức Chúa Trời; cho nên các ngươi chẳng nghe, tại các ngươi không thuộc
về Ðức Chúa Trời.
48. Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi nói thầy là
người Sa-ma-ri, và bị quỉ ám, há không phải sao?
49. Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Ta chẳng phải bị quỉ ám, nhưng ta tôn kính Cha ta, còn các ngươi làm
nhục ta.
50. Ta chẳng tìm sự vinh hiển ta, có một Ðấng tìm và đoán
xét.
51. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời
ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ.
52. Người Giu-đa nói rằng: Bây giờ
chúng tôi thấy rõ thầy bị quỉ ám; Áp-ra-ham đã chết, các đấng tiên tri
cũng vậy, mà thầy nói: Nếu kẻ nào giữ lời ta sẽ chẳng hề chết!
53. Thầy
lại trọng hơn cha chúng tôi, Áp-ra-ham, là người đã chết sao? Các đấng
tiên tri cũng đã chết; thầy mạo xưng mình là ai?
54. Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Nếu ta tự tôn vinh, thì sự vinh hiển ta chẳng ra gì; ấy là Cha ta
làm vinh hiển ta, là Ðấng các ngươi xưng là Ðức Chúa Trời của mình.
55.
Dầu vậy, các ngươi chưa biết Ngài đâu; còn ta thì biết. Và nếu ta nói rằng
ta không biết Ngài, ta sẽ cũng nói dối như các ngươi vậy; song ta biết
Ngài, và ta giữ lời Ngài.
56. Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng
nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ.
57. Người Giu-đa
nói rằng: Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham!
58. Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi
chưa có Áp-ra-ham, đã có ta.
59. Bấy giờ chúng lấy đá đặng quăng vào
Ngài; nhưng Ðức Chúa Jêsus đi lén trong chúng, ra khỏi đền
thờ.
Giăng 9
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus vừa đi qua, thấy một
người mù từ thuở sanh ra.
2. Môn đồ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy ai đã phạm
tội, người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy?
3. Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Ðó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội;
nhưng ấy để cho những việc Ðức Chúa Trời được tỏ ra trong người.
4.
Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Ðấng đã sai ta
đến; tối lại, thì không ai làm việc được.
5. Ðương khi ta còn ở thế
gian, ta là sự sáng của thế gian.
6. Nói xong Ngài nhổ xuống đất, lấy
nước miếng trộn thành bùn, và đem xức trên mắt người mù.
7. Ðoạn Ngài
phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa là chịu sai đi).
Vậy, người đi đến ao đó, rửa, và trở lại, thì được thấy rõ.
8. Xóm
giềng người mù và những kẻ trước kia từng thấy người đi ăn mày đều nói
rằng: nầy có phải là người vẫn ngồi ăn xin đó chăng?
9. Người thì nói:
Ấy là hắn; kẻ lại nói: Không phải, song một người nào giống hắn. Người mù
nói rằng: Chính tôi đây.
10. Chúng bèn hỏi người rằng: Tại sao mắt
ngươi đã mở được?
11. Người trả lời rằng: Người tên gọi là Jêsus kia đã
hóa bùn, xức mắt tôi, và nói tôi rằng: hãy đi đến rửa nơi ao Si-lô-ê. Vậy,
tôi đi đến, rửa tại đó, rồi thấy được.
12. Chúng hỏi rằng: Người ấy ở
đâu. Người trả lời rằng: Tôi không biết.
13. Chúng dẫn người trước đã
mù đó đến cùng người Pha-ra-si.
14. Vả, ấy là ngày Sa-bát mà Ðức Chúa
Jêsus đã hòa bùn và mở mắt cho người đó.
15. Người Pha-ra-si lại hỏi
người thế nào được sáng mắt lại. Người rằng: Người ấy rà bùn vào mắt tôi,
tôi rửa rồi thấy được.
16. Có mấy kẻ trong những người Pha-ra-si bèn
nói rằng: Người nầy không phải từ Ðức Chúa Trời đến đâu vì không giữ ngày
Sa-bát. Nhưng kẻ khác rằng: Một kẻ có tội làm phép lạ như vậy thể nào
được? Rồi họ bèn chia phe ra.
17. Bấy giờ chúng hỏi người mù nữa rằng:
Còn ngươi, về người đã làm sáng mắt ngươi đó thì ngươi nói làm sao? Người
trả lời rằng: Ấy là một đấng tiên tri.
18. Song le, người Giu-đa không
tin rằng người ấy trước đã mù mà được sáng lại, cho đến khi gọi cha mẹ
người đến.
19. Họ gạn hỏi rằng: Ðây có quả thật là con trai các ngươi
mà các ngươi nói rằng nó mù từ thuở sanh ra chăng? Thế thì sao bây giờ nó
sáng vậy?
20. Cha mẹ người trả lời rằng: Chúng tôi nhìn biết là con
trai chúng tôi nó đã mù từ thuở sanh ra;
21. nhưng hiện nay tại làm sao
thấy được, thì chúng tôi không rõ. Chúng tôi cùng không biết ai mở mắt nó
nữa. Hãy hỏi nó, nó đã đủ tuổi, chính nó sẽ nói cho.
22. Cha mẹ người
nói vậy, vì sợ dân Giu-đa; bởi dân Giu-đa đã định rằng hễ ai xưng Ðức Chúa
Jêsus là Ðấng Christ thì phải bị đuổi ra khỏi nhà hội.
23. Ấy vì cớ đó
cho nên cha mẹ người nói rằng: Nó đã đủ tuổi, hãy hỏi nói.
24. Vậy,
người Pha-ra-si gọi người trước đã mù một lần nữa, mà nói rằng: Hãy ngợi
khen Ðức Chúa Trời, chúng ta biết người đó là kẻ có tội.
25. Người trả
lời rằng: Tôi chẳng biết người có phải là kẻ tội chăng, chỉ biết một điều,
là tôi đã mù mà bây giờ lại sáng.
26. Họ lại hỏi rằng: Người đã làm
điều gì cho ngươi? Mở mắt ngươi thế nào?
27. Người trả lời rằng: Tôi đã
nói với các ông rồi, mà các ông chẳng nghe tôi. Cớ sao các ông muốn nghe
lại lần nữa? Há cũng muốn làm môn đồ người chăng?
28. Họ bèn mắng nhiếc
người, mà rằng: Ấy, chính ngươi là môn đồ người; còn chúng ta là môn đồ
của Môi-se.
29. Chúng ta biết Ðức Chúa Trời đã phán cùng Môi-se, nhưng
người này thì chúng ta chẳng biết bởi đâu đến.
30. Người trả lời rằng:
Người đã mở mắt tôi, mà các ông chẳng biết người ở đâu đến, ấy là sự lạ
lùng lắm!
31. Chúng ta vẫn biết Ðức Chúa Trời chẳng nhậm lời kẻ có tội,
mà nếu ai kính sợ Ðức Chúa Trời, làm theo ý muốn Ngài, thì Ngài nhậm
lời.
32. Người ta chẳng bao giờ nghe nói có ai mở mắt kẻ mù từ thuở
sanh ra.
33. Nếu người này chẳng phải đến từ Ðức Chúa Trời, thì không
làm gì được hết.
34. Chúng trả lời rằng: Cả mình ngươi sinh ra trong
tội lỗi, lại muốn dạy dỗ chúng ta sao! Ðoạn họ đuổi họ ra ngoài.
35.
Ðức Chúa Jêsus nghe họ đã đuổi họ ra và Ngài có gặp người, bèn phán hỏi
rằng: Ngươi có tin đến Con Ðức Chúa Trời chăng?
36. Người thưa rằng:
Thưa Chúa người là ai hầu cho tôi tin đến?
37. Ðức Chúa Jêsus phán
rằng: Ngươi đã thấy người và ấy là người đương nói cùng ngươi.
38.
Người thưa rằng: Lạy Chúa, tôi tin; bèn sấp mình xuống trước mặt
Ngài.
39. Ðức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã đến thế gian đặng làm sự
phán xét nầy: Hễ ai chẳng thấy, thì thấy; còn ai thấy, lại hóa mù.
40.
Mấy người Pha-ra-si bên cạnh Ngài nghe điều đó, thì nói với Ngài rằng: Còn
chúng ta cũng là kẻ mù chăng?
41. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu các
ngươi là kẻ mù, thì không có tội lỗi chi hết; nhưng vì các ngươi nói rằng:
Chúng ta thấy, nên tội lỗi các ngươi vẫn còn lại.
Giăng 10
chọn
đoạn khác
1. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào chẳng
bởi cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào trước nơi khác, thì người đó
là trộm cướp.
2. Nhưng kẻ bởi cửa mà vào, là người chăn chiên.
3.
Người canh cửa mở cho chiên nghe tiếng người chăn; người chăn kêu tên
chiên mình mà dẫn ra ngoài.
4. Khi người đã đem chiên ra hết, thì đi
trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người.
5. Nhưng chiên chẳng
theo người lạ; trái lại nó chạy trốn, vì chẳng quen tiếng người lạ.
6.
Ðức Chúa Jêsus phán lời ví dụ đó, nhưng chúng không hiểu Ngài muốn nói
chi.
7. Ðức Chúa Jêsus lại phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta
nói cùng các ngươi, ta là cửa của chiên.
8. Hết thảy những kẻ đã đến
trước ta đều là quân trộm cướp; nhưng chiên không nghe chúng nó.
9. Ta
là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp
đồng cỏ.
10. Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến,
hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật.
11. Ta là người chăn
hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.
12. Kẻ
chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không phải thuộc về nó. Nếu
thấy muôn sói đến thì nó bỏ chiên chạy trốn; muôn sói cướp lấy chiên và
làm cho tản lạc.
13. Ấy vì nó là kẻ chăn thuê, chẳng lo lắng chi đến
chiên.
14. Ta là người chăn chiên hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên
ta quen ta,
15. cũng như Cha biết ta và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta
phó sự sống mình.
16. Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này;
ta cùng phải dẫn nó về nữa. Chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một
bầy, và một người chăn mà thôi.
17. Nầy, tại sao Cha yêu ta: Ấy vì ta
phó sự sống mình để được lấy lại.
18. Chẳng có ai cất sự sống ta đi,
nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã
lãnh mạng lịnh nầy nơi Cha ta.
19. Nhơn những lời đó người Giu-đa lại
chia phe ra nữa.
20. Phần nhiều người trong đám họ nói rằng: Người bị
quỉ ám, người là điên sao các ngươi nghe làm chi?
21. Kẻ khác nói rằng:
Ấy đó chẳng phải là lời nói của một kẻ bị quỉ ám. Quỉ há có thể mở mắt kẻ
mù được sao?
22. Tại thành Giê-ru-sa-lem có giữ lễ Khánh Thành đền thờ.
Bấy giờ là mùa đông;
23. Ðức Chúa Jêsus đi dạo trong đền thờ, dưới hiên
cửa Sa-lô-môn.
24. Người Giu-đa nhóm xung quanh Ngài mà nói rằng: Thầy
để chúng tôi nghĩ vơ vẫn mãi cho đến khi nào? Nếu thầy là Ðấng Christ, hãy
nói rõ cho chúng tôi.
25. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta đã bảo các ngươi,
mà các ngươi không tin; những việc ta nhơn danh Cha ta mà làm đều làm
chứng cho ta.
26. Nhưng các ngươi không tin ta, vì các ngươi chẳng phải
là chiên của ta.
27. Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo
ta.
28. Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và
chẳng ai cướp nó khỏi tay ta.
29. Cha ta là Ðấng lớn hơn hết đã cho ta
chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha.
30. Ta với Cha là
một.
31. Người Giu-đa lại lượm đá đặng ném Ngài
32. Ðức Chúa Jêsus
phán rằng: Ta đã làm trước mắt các ngươi lắm việc lành bởi Cha đến; vì
việc chi mà các ngươi ném đã ta?
33. Người Giu-đa trả lời rằng: Ấy
chẳng phải vì một việc lành mà chúng ta ném đá ngươi, nhưng vì lời lộng
ngôn: ngươi là người, mà tự xưng là Ðức Chúa Trời.
34. Ðức Chúa Jêsus
đáp rằng: Trong luật pháp của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã phán:
Các ngươi là các thần, hay sao?
35. Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời
Ðức Chúa Trời phán đến là các thần, và nếu Kinh Thánh không thể bỏ
được,
36. thì ta đây, là Ðấng Cha đã biệt ra thánh, và sai xuống thế
gian, nói: Ta là Con Ðức Chúa Trời, cớ sao các ngươi cáo ta là nói lộng
ngôn?
37. Ví bằng ta không làm những việc của Cha ta, thì các ngươi chớ
tin ta.
38. Còn nếu ta làm, thì, dầu các ngươi chẳng tin ta, hãy tin
những việc ta, để các ngươi hiểu và biết rằng Cha ở trong ta và ta ở trong
Cha.
39. Chúng còn kiếm cách để bắt Ngài nữa; nhưng Ngài tránh khỏi tay
họ.
40. Ðoạn, Ngài lại sang bên kia sông Giô-đanh, đến nơi Giăng đã làm
phép báp tem trước hết, và trú tại đó.
41. Có nhiều kẻ đến cùng Ngài,
mà nói rằng: Giăng chưa làm một phép lạ nào, nhưng mọi điều Giăng đã nói
về người nầy là thật.
42. Tại đó có nhiều người tin Ngài.
Giăng 11
chọn
đoạn khác
1. Có một người đau, tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng
của Ma-ri và chị người là Ma-thê.
2. Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho
Chúa, và lấy tóc mình lau chơn Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đương
đau.
3. Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Ðức Chúa Jêsus rằng:
Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh.
4. Ðức Chúa Jêsus vừa nghe lời đó,
bèn phán rằng: Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Ðức
Chúa Trời, hầu cho Con Ðức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.
5. Vả, Ðức
Chúa Jêsus yêu Ma-thê, em người và La-xa-rơ.
6. Khi Ngài nghe người nầy
đau, bèn ở lại hai ngày nữa trong nơi Ngài đương ở.
7. Rồi đó, Ngài
phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê.
8. Môn đồ thưa
rằng: Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại
nơi họ sao!
9. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có
mười hai giờ sao? nếu ai đi ban ngày, thì không vấp vì thấy sự sáng của
thế gian nầy.
10. Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, vì không có sự
sáng.
11. Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn ta, đương
ngủ; nhưng ta đi đánh thức người.
12. Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu
người ngủ, chắc sẽ được lành.
13. Vả, Ðức Chúa Jêsus phán lời đó chỉ về
sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường.
14. Ðức
Chúa Jêsus bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi.
15. Ta
vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta
hãy đi đến cùng người.
16. Nhơn đó, Thô-ma, gọi là Ði-đim, nói với môn
đồ khác rằng: Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!
17. Khi
Ðức Chúa Jêsus đến nơi, thấy đã chôn La-xa-rơ trong mộ bốn ngày
rồi.
18. Vả, thành Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem chỉ độ mười lăm
ếch-ta-đơ.
19. Có nhiều người Giu-đa đã đến đó đặng yên ủi Ma-thê và
Ma-ri về sự anh chết.
20. Lúc Ma-thê nghe Ðức Chúa Jêsus đến, thì đi
đón Ngài; nhưng Ma-ri thì ngồi tại nhà.
21. Ma-thê thưa cùng Ðức Chúa
Jêsus rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết;
22. mà
bây giờ tôi cùng biết mọi điều Ngài sẽ xin Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời ắt
ban cho.
23. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Anh ngươi sẽ sống lại.
24.
Ma-thê thưa rằng: Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh
tôi sẽ sống lại.
25. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự
sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.
26. Còn ai sống
mà tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?
27. Người thưa
rằng: Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Ðấng Christ, Con Ðức Chúa Trời, là
Ðấng phải đến thế gian.
28. Người nói xong, liền về, lén kêu em là
Ma-ri, mà rằng: Thầy ở đằng kia, đương gọi em lại.
29. Ma-ri vừa nghe
mấy lời, vội vàng đứng dậy đến cùng Ngài.
30. Vả, Ðức Chúa Jêsus chưa
vào trong làng, nhưng còn đứng nơi Ma-thê đón Ngài.
31. Khi những người
Giu-đa đương ở trong nhà với Ma-ri và yên ủi người, thấy người đứng dậy đi
ra vội vả như vậy, thì theo sau, vì nghĩ rằng người đến mộ đặng
khóc.
32. Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Ðức Chúa Jêsus đứng, vừa thấy
Ngài, thì sấp mình xuống chơn Ngài mà nói rằng: Lạy Chúa, nếu có Chúa đây,
thì anh tôi không chết!
33. Ðức Chúa Jêsus thấy người khóc, và những
người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng:
Các ngươi đã chôn người ở đâu?
34. Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy
lại coi.
35. Ðức Chúa Jêsus khóc.
36. Người Giu-đa bèn nói rằng:
Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào!
37. Có một vài người trong chúng
nói: Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người nầy
không chết sao?
38. Bấy giờ, Ðức Chúa Jêsus lại đau lòng nữa, bèn đến
phần mộ; mộ bằng một cái hang, trước cửa hang có một hòn đá chận
lại.
39. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lăn hòn đá đi. Ma-thê, là em gái
kẻ chết, thưa rằng: Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày
rồi.
40. Ðức Chúa Jêsus lại phán: Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng
nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời sao?
41. Vậy,
họ lăn hòn đá đi. Ðức Chúa Jêsus bèn nhướng mắt lên trời mà rằng: Thưa
Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi.
42. Tôi biết rõ rằng Cha nhậm
lời tôi luôn, nhưng tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân nầy đứng chung quanh
tôi, hầu cho họ tin rằng ấy chính Cha là Ðấng đã sai tôi đến.
43. Khi
Ngài nói xong, bèn kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy
ra!
44. Người chết đi ra, chơn tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ
khăn. Ðức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Hãy mở cho người, và để người
đi.
45. Có nhiều người Giu-đa đã đến cùng Ma-ri và thấy sự Ðức Chúa
Jêsus làm bèn tin Ngài.
46. Nhưng một vài người trong bọn đó đi tìm
người Pha-ra-si, mách cho họ sự Ðức Chúa Jêsus đã làm.
47. Các thầy tế
lễ cả và người Pha-ra-si nhóm tòa công luận, bàn rằng: Người nầy làm phép
lạ nhiều lắm, chúng ta tính thế nào?
48. Nếu chúng ta để cho người làm,
thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi nầy và cả nước chúng
ta nữa.
49. Nhưng một người trong bọn họ, tên là Cai-phe, làm thầy cả
thượng phẩm đương niên, nói rằng: Các ngươi chẳng biết gì hết!
50. Các
ngươi chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư
mất.
51. Vả, người nói điều đó chẳng phải tự mình, nhưng bởi làm thầy
cả thượng phẩm đương niên, người nói tiên tri về Ðức Chúa Jêsus sẽ vì dân
mà chết;
52. và không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Ðức
Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn.
53. Từ ngày đó, chúng lập mưu
giết Ngài.
54. Cho nên Ðức Chúa Jêsus không tỏ mình rõ ràng trong vòng
dân Giu-đa nữa, song Ngài đi trong miền gần đồng vắng, nơi một thành gọi
là Ép-ra-im; và ở lại đó với môn đồ.
55. Lễ Vượt Qua của dân Giu-đa gần
đến, có lắm người trong xứ lên thành Giê-ru-sa-lem trước ngày lễ để tẩy
uế.
56. Vậy, chúng kiếm Ðức Chúa Jêsus, và đứng trong đền thờ, nói với
nhau rằng: Các ngươi tưởng thế nào? Người không đến giữ lễ hay sao?
57.
Vả, các thầy tế lễ cả và người Pha-ra-si đã ra lịnh, nếu ai biết Ðức Chúa
Jêsus ở đâu, thì phải mách với họ, để họ bắt Ngài.
Giăng 12
chọn
đoạn khác
1. Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Ðức Chúa Jêsus đến thành
Bê-tha-ni, nơi La-xa-rơ ở, là người Ngài đã khiến sống lại từ kẻ
chết.
2. Người ta đãi tiệc Ngài tại đó, và Ma-thê hầu hạ; La-xa-rơ là
một người trong đám ngồi đồng bàn với Ngài.
3. Bấy giờ, Ma-ri lấy một
cân dầu cam tùng hương thật, quí giá, xức chơn Ðức Chúa Trời, và lấy tóc
mình mà lau; cả nhà thơm nức mùi dầu đó.
4. Nhưng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt,
là một môn đồ về sau phản Ngài, nói rằng:
5. Sao không bán dầu thơm đó
lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng bố thí cho kẻ nghèo?
6. Người nói vậy, chẳng
phải là cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn là tay trộm cướp, và giữ túi
bạc, trộm lấy của người ta để ở trong.
7. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy
để mặc người, người đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta.
8. Vì
các ngươi thường có kẻ nghèo ở với mình, còn ta, các ngươi không có ta
luôn luôn.
9. Một bọn người Giu-đa nghe Ðức Chúa Jêsus có tại đó, bèn
đến, chẳng những vì Ngài thôi, lại cũng để xem La-xa-rơ, là người Ngài đã
khiến từ kẻ chết sống lại.
10. Các thầy tế lễ cả bèn định giết luôn
La-xa-rơ nữa,
11. vì có nhiều người Giu-đa nhơn cớ người mà chia rẽ họ
và tin theo Ðức Chúa Jêsus.
12. Qua ngày sau, có một đám dân đông đến
đặng dự lễ, biết Ðức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem,
13. bèn lấy
những lá kè ra đón Ngài, và reo lên rằng: Hô-sa-na! Chúc phước cho Ðấng
nhơn danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên!
14. Ðức Chúa Jêsus gặp
một con lừa con, bèn lên cỡi, y như lời chép rằng:
15. Hỡi con gái
thành Si-ôn, chớ sợ chi, nầy, Vua ngươi đến, cỡi trên lừa con của lừa
cái.
16. Môn đồ trước vốn không hiểu điều đó; nhưng đến khi Ðức Chúa
Jêsus đã được vinh hiển, mới nhớ lại những sự đó đã chép về Ngài, và người
ta đã làm thành cho Ngài.
17. Ðoàn dân ở cùng Ngài, khi Ngài kêu
La-xa-rơ ra khỏi mộ và khiến từ kẻ chết sống lại, đều làm chứng về
Ngài.
18. Ấy cũng tại điều đó mà đoàn dân đi đón Ngài, vì có nghe rằng
Ngài đã làm phép lạ ấy.
19. Nhơn đó, người Pha-ra-si nói với nhau rằng:
Các ngươi thấy mình chẳng làm nổi chi hết; kìa, cả thiên hạ đều chạy theo
người!
20. Và, trong đám đã lên đặng thờ lạy trong kỳ lễ, có mấy người
Gờ-réc,
21. đến tìm Phi-líp, là người ở thành Bết-sai-đa, thuộc xứ
Ga-li-lê, mà xin rằng: Thưa chúa chúng tôi muốn ra mắt Ðức Chúa
Jêsus.
22. Phi-líp đi nói với Anh-rê; rồi Anh-rê với Phi-líp đến thưa
cùng Ðức Chúa Jêsus.
23. Ðức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Giờ đã đến, khi
Con người sẽ được vinh hiển.
24. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các
ngươi, nếu hột giống lúa mì kia, chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ
ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều.
25. Ai yêu sự
sống mình thì sẽ mất đi, ai ghét sự sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại
đến sự sống đời đời.
26. Nếu ai hầu việc ta, thì phải theo ta, và ta ở
đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó; nếu ai hầu việc ta, thì Cha ta ắt
tôn quí người.
27. Hiện nay tâm thần ta bối rối; ta sẽ nói gì? Lạy Cha,
xin cứu Con khỏi giờ nầy! nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ
nầy!
28. Cha ơi, xin làm sáng danh Cha! Bấy giờ có tiếng từ trên trời
phán xuống rằng: Ta đã làm sáng danh rồi, ta còn làm cho sáng danh
nữa!
29. Ðoàn dân ở tại đó nghe tiếng thì nói rằng ấy là tiếng sấm; có
kẻ khác nói: Một vị thiên sứ nào nói với Ngài.
30. Ðức Chúa Jêsus cất
tiếng phán rằng: Ấy chẳng phải vì ta mà tiếng nầy vang ra, nhưng vì các
ngươi.
31. Hiện bây giờ, có sự phán xét thế gian nầy, và hiện nay vua
chúa của thế gian nầy phải bị xua đuổi.
32. Còn ta, khi ta đã được treo
lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta.
33. Ngài phán vậy để chỉ
mình phải chết cách nào.
34. Ðoàn dân thưa rằng: Chúng tôi có họ trong
luật pháp rằng Ðấng Christ còn đời đời, vậy sao thầy nói Con người phải bị
treo lên? Con người đó là ai?
35. Ðức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Sự sáng
còn ở giữa các ngươi ít lâu; hãy đi trong khi các ngươi còn có sự sáng, e
rằng sự tối tăm đến thình lình cùng các ngươi chăng; kẻ đi trong nơi tối
tăm thì chẳng biết mình đi đâu.
36. Các ngươi đương có sự sáng, hãy tin
sự sáng, hầu cho trở nên con cái của sự sáng. Ðức Chúa Jêsus phán như vậy,
rồi đi, và ẩn mình cách xa họ.
37. Vả, dẫu Ngài đã làm bấy nhiêu phép
lạ trước mặt chúng, họ cũng không tin Ngài,
38. để được ứng nghiệm lời
nầy của đấng tiên tri Ê-sai: Lạy Chúa, ai đã tin lời giảng chúng tôi, Và
cánh tay Chúa đã tỏ ra cho ai?
39. Vả lại, chúng không thể tin, vì
Ê-sai lại có nói rằng:
40. Ngài đã khiến mắt họ mù, lòng họ cứng, Hầu
cho mắt chẳng thấy, lòng chẳng hiểu, Không tự hối cải, Và ta chẳng chữa
lành cho.
41. Ê-sai nói điều đó, khi thấy sự vinh hiển của Ngài và nói
về Ngài.
42. Nhưng, trong hàng quan trưởng cũng có nhiều người tin Ðức
Chúa Jêsus; song vì cớ người Pha-ra-si, nên không xưng Ngài ra, sợ bị đuổi
khỏi nhà hội chăng.
43. Vì họ chuộng danh vọng bởi người ta đến hơn là
danh vọng bởi Ðức Chúa Trời đến.
44. Tuy vậy, Ðức Chúa Jêsus cất tiếng
phán rằng: Ai tin ta, chẳng phải tin ta, nhưng tin Ðấng đã sai ta
đến.
45. Còn ai thấy ta, là thấy Ðấng đã sai ta đến.
46. Ta là sự
sáng đã đến thế gian, để ai tin ta, chẳng ở nơi tối tăm nữa.
47. Lại
nếu kẻ nào nghe lời ta mà không vâng giữ ấy chẳng phải ta xét đoán kẻ đó;
vì ta đến chẳng để xét đoán thế gian, nhưng để cứu chuộc.
48. Người nào
bỏ ta ra và không nhận lãnh lời ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời ta đã rao
giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng.
49. Bởi ta chẳng
nói theo ý riêng ta; nhưng Cha sai ta đến, đã truyền lịnh cho ta phải nói
điều chi và phải nói thể nào.
50. Ta biết mạng lịnh Cha, ấy là sự sống
đời đời. Vậy, những điều ta nói, thì nói theo như Cha ta đã
dặn.
Giăng 13
chọn
đoạn khác
1. Trước ngày lễ Vượt Qua, Ðức Chúa Jêsus
biết giờ mình phải lìa thế gian đặng trở về cùng Ðức Chúa Cha đến rồi;
Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối
cùng.
2. Ðương bữa ăn tối (ma quỉ đã để mưu phản Ngài vào lòng Giu-đa
Ích-ca-ri-ốt con trai Si-môn),
3. Ðức Chúa Jêsus biết rằng Cha đã giao
phó mọi sự trong tay mình, và mình sẽ về với Ðức Chúa Trời,
4. nên đứng
dậy khỏi bàn, cởi áo ra, lấy khăn vấn ngang lưng mình.
5. Kế đó, Ngài
đổ Nước vào chậu, và rửa chơn cho môn đồ, lại lấy khăn mình đã vấn mà lau
chơn cho.
6. Vậy, Ngài đến cùng Si-môn Phi-e-rơ, thì người thưa rằng:
Chúa ôi, chính Chúa lại rửa chơn cho tôi sao!
7. Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Hiện nay ngươi chẳng biết sự ta làm; nhưng về sau sẽ biết.
8.
Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa sẽ chẳng rửa chơn tôi bao giờ! Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Nếu ta không rửa cho ngươi, ngươi chẳng có phần chi với ta
hết.
9. Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng những rửa chơn mà
thôi, lại cũng rửa tay và đầu nữa!
10. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ai đã
tắm rồi, chỉ cần rửa chơn, thì được sạch cả. Vả, các ngươi đã được tinh
sạch, nhưng chưa được tinh sạch đều.
11. Vì Ngài đã biết ai sẽ phản
Ngài; tại thế cho nên Ngài phán rằng: các ngươi chẳng phải hết thảy đều
được tinh sạch.
12. Sau khi đã rửa chơn cho môn đồ, Ngài mặc áo lại;
đoạn ngồi vào bàn mà phán rằng: các ngươi có hiểu điều ta đã làm cho các
ngươi chăng?
13. Các ngươi gọi ta bằng Thầy bằng Chúa; Các ngươi nói
phải, vì ta thật vậy.
14. Vậy, nếu ta là Chúa là Thầy, mà đã rửa chơn
cho các ngươi, thì các ngươi cũng nên rửa chơn lẫn cho nhau.
15. Vì ta
đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các
ngươi.
16. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, đầy tớ chẳng lớn
hơn chủ mình, sứ giả cũng chẳng lớn hơn kẻ sai mình.
17. Ví bằng các
ngươi biết những sự nầy, thì có phước, miễn là các ngươi làm theo.
18.
Ta không nói về các ngươi hết thảy, ta biết những kẻ ta đã lựa chọn; nhưng
lời nầy trong Kinh Thánh phải được ứng nghiệm: Người ăn bánh ta, dở gót
nghịch cùng ta.
19. Hiện bây giờ, ta nói điều nầy cùng các ngươi trước
việc chưa xảy đến; để khi việc xảy đến rồi, các ngươi sẽ tin ta là Ðấng
đó.
20. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai tiếp người mà ta
đã sai, tức là tiếp ta; hễ ai tiếp ta, tức là tiếp Ðấng đã sai ta
đến.
21. Khi Ðức Chúa Jêsus đã phán như vậy rồi, thì tâm thần Ngài bối
rối, bèn tỏ ra rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, một người
trong các ngươi sẽ phản ta.
22. Các môn đồ ngó nhau, không biết Ngài
nói về ai đó.
23. Vả, có một môn đồ dựa vào ngực Ðức Chúa Jêsus, tức là
người mà Ngài yêu.
24. Si-môn Phi-e-rơ ra dấu cho người đó rằng: Hãy
nói cho chúng ta biết thầy phán về ai.
25. Vậy, người nghiêng mình trên
ngực Ðức Chúa Jêsus, hỏi rằng: Lạy Chúa, ấy là ai?
26. Ðức Chúa Jêsus
đáp rằng: Ấy là kẻ mà ta trao cho miếng bánh ta sẽ nhúng đây. Ðoạn, Ngài
nhúng một miếng, rồi lấy cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, con trai của
Si-môn.
27. Liền khi Giu-đa đã lấy miếng bánh, thì quỉ Sa-tan vào lòng
người. Ðức Chúa Jêsus bèn phán cùng người rằng: Sự ngươi làm hãy làm mau
đi.
28. Nhưng các ngươi ngồi đồng bàn đó chẳng ai hiểu vì sao Ngài phán
cùng người như vậy.
29. Có kẻ tưởng rằng tại Giu-đa có túi bạc, nên Ðức
Chúa Jêsus biểu người: Hãy mua đồ chúng ta cần dùng về kỳ lễ; hay là Hãy
bố thí cho kẻ nghèo.
30. Còn Giu-đa, khi lãnh lấy miếng bánh rồi, liền
đi ra. Khi ấy đã tối.
31. Khi Giu-đa đã ra rồi, Ðức Chúa Jêsus phán
rằng: Hiện bây giờ Con người được vinh hiển, và Ðức Chúa Trời được vinh
hiển nơi Con người.
32. Ðức Chúa Trời cũng sẽ làm cho Con người vinh
hiển nơi chính mình Ngài, và Ngài sẽ kíp làm cho vinh hiển.
33. Hỡi các
con trẻ ta, ta còn tạm ở với các ngươi; các ngươi sẽ tìm ta, và như ta đã
nói với người Giu-đa rằng: Các ngươi không thể đến nơi ta đi, thì bây giờ
ta cũng nói với các ngươi như vậy.
34. Ta ban cho các ngươi một điều
răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể
nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy.
35. Nếu các ngươi yêu
nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ
ta.
36. Si-môn Phi-e-rơ thưa cùng Ngài rằng: Lạy Chúa, Chúa đi đâu? Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Nơi ta đi, bây giờ ngươi chẳng có thể theo ta được;
nhưng rồi sau ngươi sẽ theo ta.
37. Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, sao
hiện bây giờ tôi không thể theo Chúa được? Tôi liều sự sống tôi vì
Chúa!
38. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi liều sự sống ngươi vì ta sao!
Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, khi gà chưa gáy, ngươi đã chối ta
ba lần!
Giăng 14
chọn
đoạn khác
1. Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin
Ðức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa.
2. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở;
bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi
một chỗ.
3. Khi ta đã đi, và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ
trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở
đó.
4. Các ngươi biết ta đi đâu, và biết đường đi nữa.
5. Thô-ma
thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường
được?
6. Vậy Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự
sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.
7. Ví bằng các ngươi
biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy
Ngài.
8. Phi-líp thưa rằng: Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ
rồi.
9. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi Phi-líp, ta ở cùng các ngươi đã
lâu thay, mà ngươi chưa biết ta! Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha. Sao
ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi?
10. Ngươi há không tin
rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta, hay sao? Những lời ta nói với các
ngươi, chẳng phải ta từ nói; ấy là Cha ở trong ta, chính Ngài làm trọn
việc riêng của Ngài.
11. Khi ta nói rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong
ta, thì hãy tin ta; bằng chẳng, hãy tin bởi công việc ta.
12. Quả thật,
quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm;
lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha.
13. Các ngươi nhơn
danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh
nơi Con.
14. Nếu các ngươi nhơn danh ta xin điều chi, ta sẽ làm
cho.
15. Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta.
16.
Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Ðấng Yên ủi khác, để
ở với các ngươi đời đời,
17. tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể
nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết
Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sự ở trong các ngươi.
18. Ta không
để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi.
19. Còn ít lâu,
thế gian chẳng thấy ta nữa, nhưng các ngươi sẽ thấy ta; vì ta sống thì các
ngươi cũng sẽ sống.
20. Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng ta ở
trong Cha ta; các ngươi ở trong ta, và ta ở trong các ngươi.
21. Ai có
các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu
mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết
ta.
22. Giu-đe, chớ không phải là Ích-ca-ri-ốt, thưa Ngài rằng: Lạy
Chúa, vì sao Chúa sẽ tỏ mình cho chúng tôi, mà không tỏ mình cho thế
gian:
23. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu ai yêu mến ta, thì vâng giữ lời
ta, Cha ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong
người.
24. Còn kẻ nào chẳng yêu mến ta, thì không vâng giữ lời ta; và
lời các ngươi nghe đó, chẳng phải bởi ta, nhưng bởi Cha, là Ðấng đã sai ta
đến.
25. Ta đã nói những điều đó với các ngươi đang khi ta còn ở cùng
các ngươi.
26. Nhưng Ðấng Yên ủi, tức là Ðức Thánh Linh mà Cha sẽ nhơn
danh ta sai xuống, Ðấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các
ngươi nhớ mọi điều ta đã phán cùng các ngươi.
27. Ta để sự bình an lại
cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự
bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ
hãi.
28. Các ngươi từng nghe ta nói rằng: Ta đi, và ta trở lại cùng các
ngươi. Nếu các ngươi yêu mến ta, thì sẽ vui mừng về điều ta đi đến cùng
Cha, bởi vì Cha tôn trọng hơn ta.
29. Hiện nay ta đã nói những điều đó
với các ngươi trước khi xảy đến, để khi những điều đó xảy đến thì các
ngươi tin.
30. Ta sẽ chẳng nói chi với các ngươi nữa, vì vua chúa thế
gian nầy hầu đến; người chẳng có chi hết nơi ta.
31. Nhưng thế gian
phải biết rằng ta yêu mến Cha, và làm theo điều Cha đã phán dặn. Hãy đứng
dậy, chúng ta phải đi khỏi đây.
Giăng 15 chọn
đoạn khác
1. Ta là gốc nho thật,
Cha ta là người trồng nho.
2. Hễ nhánh nào trong ta mà không kết quả
thì Ngài chặt hết; và Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả, để được sai
trái hơn.
3. Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho.
4.
Hãy cứ ở trong ta, thì ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không
dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các
ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được.
5. Ta là gốc
nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm
trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được.
6. Nếu ai chẳng cứ
trong ta thì phải ném ra ngoài, cũng như nhánh nho; nhánh khô đi, người ta
lượm lấy, quăng vào lửa, thì nó cháy.
7. Ví bằng các ngươi cứ ở trong
ta, và những lời ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì
sẽ được điều đó.
8. Nầy, Cha ta sẽ được sáng danh là thể nào: ấy là các
ngươi được kết nhiều quả, thì sẽ làm môn đồ của ta vậy.
9. Như Cha đã
yêu thương ta thể nào, ta cũng yêu thương các ngươi thể ấy; hãy cứ ở trong
sự yêu thương của ta.
10. Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta,
thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều
răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.
11. Ta nói cùng các
ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta trong các ngươi, và sự vui
mừng các ngươi được trọn vẹn.
12. Ðiều răn của ta đây nầy: Các ngươi
hãy yêu nhau, cũng như ta đã yêu các ngươi.
13. Chẳng có sự yêu thương
nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình.
14. Ví thử các ngươi làm
theo điều ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu ta.
15. Ta chẳng gọi các
ngươi là đầy tớ nữa, vì đầy tớ chẳng biết điều chủ mình làm nhưng ta đã
gọi các ngươi là bạn hữu ta, vì ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều ta
đã nghe nơi Cha ta.
16. Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn ta, bèn là ta
đã chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi và kết quả, hầu cho trái các
ngươi thường đậu luôn: lại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhơn danh ta cầu
xin Cha, thì Ngài ban cho các ngươi.
17. Ta truyền cho các ngươi những
điều răn đó, đặng các ngươi yêu mến lẫn nhau vậy.
18. Ví bằng người đời
ghét các ngươi, thì hãy biết rằng họ đã ghét ta trước các ngươi.
19.
Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình;
nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và ta đã lựa chọn các ngươi
giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.
20. Hãy nhớ lời ta
đã nói cùng các ngươi: Ðầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta,
ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời ta, ắt cũng giữ lời các
ngươi.
21. Nhưng vì danh ta họ sẽ lấy mọi điều đó đãi các ngươi, bởi họ
không biết Ðấng đã sai ta đến.
22. Nếu ta không đến và không phán dạy
họ, thì họ chẳng có tội lỗi gì; song bây giờ họ không có thể chữa chối
được tội lỗi mình.
23. Kẻ nào ghét ta cũng ghét Cha ta nữa.
24. Ví
thử ta không làm giữa họ những việc mà chưa có người khác làm, thì họ vô
tội, nhưng bây giờ họ đã thấy các việc ấy, và lại ghét ta cùng Cha
ta.
25. Dường ấy, để cho ứng nghiệm lời đã chép trong luật pháp họ
rằng: Họ ghét ta vô cớ.
26. Khi nào Ðấng Yên ủi sẽ đến, là Ðấng ta sẽ
bởi Cha sai xuống, tức là Thần lẽ thật ra từ Cha, ấy chính Ngài sẽ làm
chứng về ta.
27. Còn các ngươi cũng sẽ làm chứng về ta, vì các ngươi đã
ở cùng ta từ lúc ban đầu vậy.
Giăng 16 chọn
đoạn khác
1. Ta bảo các ngươi
những điều đó, để cho các ngươi khỏi vấp phạm.
2. Họ sẽ đuổi các ngươi
ra khỏi nhà hội; vả lại, giờ đến, khi ai giết các ngươi, tưởng rằng thế là
hầu việc Ðức Chúa Trời.
3. Họ sẽ làm điều đó, vì không biết Cha, cũng
không biết ta nữa.
4. Nhưng ta đã bảo những điều đó cho các ngươi, để
khi giờ sẽ đến, các ngươi nhớ lại rằng ta đã nói những điều đó rồi. Từ lúc
ban đầu ta chưa nói cho các ngươi, vì ta đương ở cùng các ngươi.
5.
Hiện nay ta về cùng Ðấng đã sai ta đến, và trong các ngươi chẳng một ai
hỏi ta rằng: Thầy đi đâu?
6. Nhưng vì ta đã nói những điều đó cho các
ngươi, thì lòng các ngươi chứa chan sự phiền não.
7. Dầu vậy, ta nói
thật cùng các ngươi: Ta đi là ích lợi cho các ngươi; vì nếu ta không đi,
Ðấng Yên ủi sẽ không đến cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai
Ngài đến.
8. Khi Ngài đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về
sự công bình và về sự phán xét.
9. Về tội lỗi, vì họ không tin
ta;
10. về sự công bình, vì ta đi đến cùng Cha và các ngươi chẳng thấy
ta nữa;
11. về sự phán xét, vì vua chúa thế gian nầy đã bị đoán
xét.
12. Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa; nhưng bây giờ
những điều đó cao quá sức các ngươi.
13. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến,
thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng
nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến.
14.
Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao
bảo cho các ngươi.
15. Mọi sự Cha có, điều là của ta; nên ta nói rằng
Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi vậy.
16. Còn ít
lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy ta, vì
ta đi về cùng Cha.
17. Bấy giờ, một vài môn đồ nói với nhau rằng: Ngài
dạy: Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại
thấy ta; và rằng: Vì ta về cùng Cha; thế là làm sao?
18. Vậy, môn đồ
nói rằng: Ngài nói: Ít lâu, là nghĩa gì? Chúng ta không hiểu Ngài nói về
việc chi.
19. Ðức Chúa Jêsus hiểu ý môn đồ muốn hỏi, bèn phán rằng: Ta
vừa nói: Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi
lại thấy ta; các ngươi đương hỏi nhau về nghĩa câu ấy đó chi.
20. Quả
thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ khóc lóc, than vãn,
còn người đời sẽ mừng rỡ; các ngươi sẽ ở trong sự lo buồn, nhưng sự lo
buồn các ngươi sẽ đổi làm vui vẻ.
21. Người đờn bà, lúc sanh đẻ thì đau
đớn, vì giờ mình đến rồi; song khi đứa con đã lọt lòng, người không còn
nhớ sự khốn khổ mình nữa, mừng rằng mình đã sanh ra một người trong thế
gian.
22. Khác nào như các ngươi hiện ở trong cơn đau đớn, nhưng ta sẽ
lại thấy các ngươi, thì lòng các ngươi vui mừng, và chẳng ai cướp lấy sự
vui mừng các ngươi được.
23. Trong ngày đó, các ngươi không còn hỏi ta
về điều chi nữa. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, điều chi các
ngươi sẽ cầu xin nơi Cha, thì Ngài sẽ nhơn danh ta mà ban cho các
ngươi.
24. Ðến bây giờ, các ngươi chưa từng nhơn danh ta mà cầu xin
điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các
ngươi được trọn vẹn.
25. Ta đã dùng ví dụ mà nói cho các ngươi mọi điều
đó. Giờ đến, là khi ta chẳng còn dùng ví dụ mà nói cùng các ngươi nữa,
nhưng khi ấy ta sẽ nói rõ ràng về Cha cho các ngươi.
26. Trong ngày đó,
các ngươi sẽ nhơn danh ta mà cầu xin, ta chẳng nói rằng ta vì các ngươi sẽ
cầu xin Cha đâu;
27. vì chính Cha yêu thương các ngươi, nhơn các ngươi
đã yêu mến ta, và tin rằng ta từ nơi Cha mà đến.
28. Ta ra từ Cha mà
đến thế gian; nay ta lìa bỏ thế gian mà về cùng Cha.
29. Các môn đồ
thưa rằng: Bây giờ thầy phán rõ ràng, và không phán bằng lời ví dụ.
30.
Bây giờ chúng tôi biết thầy thông biết mọi điều, không cần phải có ai hỏi
thầy; bởi đó nên chúng tôi tin thầy ra từ Ðức Chúa Trời.
31. Ðức Chúa
Jêsus đáp rằng: Bây giờ các ngươi tin chăng?
32. Nầy, giờ đến, đã đến
rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình;
nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta.
33. Ta đã bảo các ngươi
những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ
có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế
gian rồi!
Giăng 17
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus phán như vậy, đoạn,
ngước mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, giờ đã đến; xin làm vinh hiển Con,
hầu cho Con cũng làm vinh hiển Cha,
2. và nhơn quyền phép Cha đã ban
cho Con cai trị loài xác thịt, Con được ban sự sống đời đời cho những kẻ
mà Cha đã giao phó cho Con.
3. Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha,
tức là Ðức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Ðấng Cha đã sai
đến.
4. Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho
làm.
5. Cha ôi! bây giờ xin lấy sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước
khi chưa có thế gian mà làm vinh hiển Con nơi chính mình Cha.
6. Con đã
tỏ danh Cha ra cho những người Cha giao cho Con từ giữa thế gian; họ vốn
thuộc về Cha, Cha giao họ cho Con, và họ đã giữ lời Cha.
7. Hiện nay họ
đã biết rằng mọi sự Cha đã giao cho Con đều là từ Cha mà đến.
8. Vì Con
đã truyền cho họ những lời Cha đã truyền cho Con, và họ đã nhận lấy; nhìn
biết quả thật rằng Con đến từ nơi Cha, và tin rằng ấy là Cha sai Con
đến.
9. Con vì họ mà cầu nguyện; chẳng phải vì thế gian mà cầu nguyện,
nhưng vì kẻ Cha đã giao cho Con, bởi chưng họ thuộc về Cha.
10. Phàm
mọi điều thuộc về Con tức là thuộc về Cha, mọi điều thuộc về Cha tức là
thuộc về Con, và Con nhơn họ được tôn vinh.
11. Con không ở thế gian
nữa, nhưng họ còn ở thế gian, và Con về cùng Cha. Lạy Cha thánh, xin gìn
giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ cũng hiệp làm một
như chúng ta vậy.
12. Ðang khi Con còn ở với họ, Con gìn giữ họ, trừ
đứa con của sự hư mất ra, thì trong đám họ không một người nào bị thất
lạc, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.
13. Nhưng bây giờ Con về
cùng Cha, và đương khi còn ở thế gian, Con nói những điều đó, hầu cho
trong lòng họ được đầy dẫy sự vui mừng của Con.
14. Con đã truyền lời
Cha cho họ, và thế gian ghen ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng
như Con không thuộc về thế gian vậy.
15. Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi
thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác.
16. Họ không thuộc
về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian.
17. Xin Cha lấy lẽ
thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật.
18. Như Cha đã sai Con
trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian.
19. Con vì họ tự
làm nên thánh, hầu cho họ cũng nhờ lẽ thật mà được nên thánh vậy.
20.
Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời
họ mà tin đến Con nữa,
21. để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong
Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế
gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến.
22. Con đã ban cho họ sự vinh
hiển mà Cha đã ban cho Con, để hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là
một:
23. Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm
một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương
Con.
24. Cha ôi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con
cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha
đã ban cho Con, vì Cha đã yêu Con trước khi sáng thế.
25. Hỡi Cha công
bình, thế gian chẳng từng nhận biết Cha; song Con đã nhận biết Cha, và
những kẻ nầy nhận rằng chính Cha đã sai Con đến.
26. Con đã tỏ danh Cha
ra cho họ, Con lại sẽ tỏ ra nữa, để cho tình yêu thương của Cha dùng yêu
thương Con ở trong họ, và chính mình Con cũng ở trong họ nữa.
Giăng 18
chọn
đoạn khác
1. Sau khi phán những điều ấy, Ðức Chúa Jêsus đi với môn đồ
mình sang bên kia khe Xết-rôn; tại đó có một cái vườn, Ngài bèn vào, môn
đồ cũng vậy.
2. Vả, Giu-đa là kẻ phản Ngài, cũng biết chỗ nầy, vì Ðức
Chúa Jêsus thường cùng môn đồ nhóm họp tại đó.
3. Vậy, Giu-đa lãnh một
cơ binh cùng những kẻ bởi các thầy tế lễ cả và người Pha-ra-si sai đến,
cầm đèn đuốc khí giới vào nơi đó.
4. Ðức Chúa Jêsus biết mọi điều sẽ
xảy đến cho mình, bèn bước tới mà hỏi rằng: Các ngươi tìm ai?
5. Chúng
trả lời rằng: Tìm Jêsus người Na-xa-rét. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Chính
ta đây! Giu-đa là kẻ phản Ngài cũng đứng đó với họ.
6. Vừa khi Ðức Chúa
Jêsus phán: Chính ta đây, chúng bèn thối lui và té xuống đất.
7. Ngài
lại hỏi một lần nữa: Các ngươi tìm ai? Chúng trả lời rằng: Tìm Jêsus người
Na-xa-rét.
8. Ðức Chúa Jêsus lại phán: Ta đã nói với các ngươi rằng
chính ta đây; vậy nếu các ngươi tìm bắt ta, thì hãy để cho những kẻ nầy
đi.
9. Ấy để được ứng nghiệm lời Ngài đã phán: Con chẳng làm mất một
người nào trong những kẻ mà Cha đã giao cho Con.
10. Bấy giờ, Si-môn
Phi-e-rơ có một thanh gươm, bèn rút ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng
phẩm, chém đứt tai bên hữu. Ðầy tớ đó tên là Man-chu.
11. Nhưng Ðức
Chúa Jêsus phán cùng Phi-e-rơ rằng: Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ; ta há chẳng
uống chén mà Cha đã ban cho ta uống sao?
12. Bấy giờ, cả cơ binh, người
quản cơ và những kẻ sai của dân Giu-đa bắt Ðức Chúa Jêsus trói lại.
13.
Trước hết chúng giải Ngài đến An-ne; vì người nầy là ông gia Cai-phe làm
thầy cả thượng phẩm đương niên.
14. Vả, Cai-phe là người đã bàn với dân
Giu-đa rằng: Thà một người chết vì dân thì ích hơn.
15. Si-môn Phi-e-rơ
với một môn đồ khác theo sau Ðức Chúa Jêsus. Môn đồ đó có quen với thầy cả
thượng phẩm, nên vào với Ðức Chúa Jêsus trong sân thầy cả thượng
phẩm.
16. Song Phi-e-rơ đứng ngoài, gần bên cửa, Môn đồ kia, tức là
người quen với thầy cả thượng phẩm, đi ra nói cùng người đờn bà canh cửa,
rồi đem Phi-e-rơ vào.
17. Bấy giờ, con đòi đó, tức là người canh cửa,
nói cùng Phi-e-rơ rằng: Còn ngươi, cũng là môn đồ của người đó, phải
chăng? Người trả lời rằng: Ta chẳng phải.
18. Các đầy tớ và kẻ sai vì
trời lạnh nhúm một đống lửa, rồi đứng gần một bên mà sưởi. Phi-e-rơ đứng
với họ, và cũng sưởi.
19. Vậy, thầy cả thượng phẩm gạn hỏi Ðức Chúa
Jêsus về môn đồ Ngài và đạo giáo Ngài.
20. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta
từng nói rõ ràng cùng thiên hạ; ta thường dạy dỗ trong nhà hội và đền thờ,
là nơi hết thảy dân Giu-đa nhóm lại, chớ ta chẳng từng nói kín giấu điều
gì.
21. Cớ sao ngươi gạn hỏi ta? Hãy hỏi những kẻ đã nghe ta nói điều
chi với họ; những kẻ đó biết điều ta đã nói.
22. Ngài đương phán như
vậy, có một người trong những kẻ sai có mặt tại đó, cho Ngài một vả, mà
rằng: Ngươi dám đối đáp cùng thầy cả thượng phẩm dường ấy sao?
23. Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Ví thử ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho ta xem;
nhược bằng ta nói phải, làm sao ngươi đánh ta?
24. An-ne bèn sai giải
Ðức Chúa Jêsus vẫn bị trói đến Cai-phe là thầy cả thượng phẩm.
25. Vả
lại, Si-môn Phi-e-rơ đương đứng sưởi đằng kia, thì có kẻ hỏi người rằng:
Còn ngươi, ngươi cũng là môn đồ người phải không? Người chối đi mà trả lời
rằng: Ta không phải.
26. Một người đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, bà
con với người mà Phi-e-rơ chém đứt tai, nói rằng: Ta há chẳng từng thấy
người ở trong vườn với người sao?
27. Phi-e-rơ lại chối một lần nữa;
tức thì gà gáy.
28. Kế đó, chúng điệu Ðức Chúa Jêsus từ nhà Cai-phe đến
trường án; bấy giờ đương sớm mai. Nhưng chính mình chúng không vào nơi
trường án, cho khỏi bị ô uế, và cho được ăn lễ Vượt Qua.
29. Vậy,
Phi-lát bước ra, đi đến cùng chúng mà hỏi rằng: Các ngươi kiện người nầy
về khoản gì?
30. Thưa rằng: Ví chẳng phải là tay gian ác, chúng tôi
không nộp cho quan.
31. Phi-lát bèn truyền cho chúng rằng: Các ngươi
hãy tự bắt lấy người, và xử theo luật mình. Người Giu-đa thưa rằng: Chúng
tôi chẳng có phép giết ai cả.
32. Ấy là cho được ứng nghiệm lời Ðức
Chúa Jêsus đã phán, để chỉ về mình phải chết cách nào.
33. Phi-lát bèn
vào trường án, truyền đem Ðức Chúa Jêsus đến, mà hỏi rằng: Chính ngươi là
Vua dân Giu-đa phải chăng?
34. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi nói điều
đó tự ý mình, hay là có người đã nói điều đó với ngươi về ta?
35.
Phi-lát trả lời rằng: Nào có phải ta là người Giu-đa đâu? Dân ngươi cùng
mấy thầy tế lễ cả đã nộp ngươi cho ta; vậy ngươi đã làm điều gì?
36.
Ðức Chúa Jêsus đáp lại rằng: Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy.
Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận,
đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc
về hạ giới.
37. Phi-lát bèn nói rằng: Thế thì ngươi là vua sao? Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời, ta là vua. Nầy, vì sao ta đã sanh và vì
sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ
thật thì nghe lấy tiếng ta.
38. Phi-lát hỏi rằng: Lẽ thật là cái gì?
Khi người đã hỏi vậy rồi lại đi ra đến cùng dân Giu-đa, mà rằng: Ta chẳng
thấy người có tội lỗi gì cả.
39. Nhưng các ngươi có lệ thường, hễ đến
ngày lễ Vượt Qua, thì ta tha cho các ngươi một tên tù, vậy các ngươi có
muốn ta tha Vua dân Giu-đa cho chăng?
40. Chúng bèn kêu lên nữa rằng:
Ðừng tha nó, nhưng tha Ba-ra-ba! Vả, Ba-ra-ba là một kẻ trộm
cướp.
Giăng 19
chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ, Phi-lát bắt Ðức Chúa Jêsus và
sai đánh đòn Ngài.
2. Bọn lính đương một cái mão triều bằng gai, đội
trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một cái áo điều.
3. Ðoạn, họ đến gần,
nói với Ngài rằng: Lạy Vua dân Giu-đa! Họ lại cho Ngài mấy cái vả.
4.
Phi-lát ra một lần nữa, mà nói với chúng rằng: Ðây nầy, ta dẫn người ra
ngoài, để các ngươi biết rằng ta không tìm thấy người có tội lỗi
chi.
5. Vậy, Ðức Chúa Jêsus đi ra, đầu đội mão triều gai, mình mặc áo
điều; và Phi-lát nói cùng chúng rằng: Kìa, xem người nầy!
6. Nhưng khi
các thầy tế lễ cả và các kẻ sai thấy Ngài, thì kêu lên rằng: Hãy đóng đinh
hắn trên cây thập tự, hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự! Phi-lát nói cùng
chúng rằng: Chính mình các ngươi hãy bắt mà đóng đinh người; bởi vì về
phần ta không thấy người có tội lỗi chi hết.
7. Dân Giu-đa lại nói
rằng: Chúng tôi có luật, chiếu luật đó hắn phải chết; vì hớn tự xưng là
Con Ðức Chúa Trời.
8. Khi Phi-lát đã nghe lời đó, lại càng thêm sợ
hãi.
9. Người lại trở vào nơi trường án mà nói với Ðức Chúa Jêsus rằng:
Ngươi từ đâu? Nhưng Ðức Chúa Jêsus không đáp gì hết.
10. Phi-lát hỏi
Ngài rằng: Ngươi chẳng nói chi với ta hết sao? Ngươi há chẳng biết rằng ta
có quyền buông tha ngươi và quyền đóng đinh ngươi sao?
11. Ðức Chúa
Jêsus đáp rằng: Nếu chẳng phải từ trên cao đã ban cho ngươi, thì ngươi
không có quyền gì trên ta; vậy nên, kẻ nộp ta cho ngươi là có tội trọng
hơn nữa.
12. Từ lúc đó, Phi-lát kiếm cách để tha Ngài; nhưng dân Giu-đa
kêu lên rằng: Ví bằng quan tha người nầy, thì quan không phải là trung
thần của Sê-sa; vì hễ ai tự xưng là vua, ấy là xướng lên nghịch cùng Sê-sa
vậy!
13. Phi-lát nghe lời đó bèn dẫn Ðức Chúa Jêsus ra ngoài, rồi ngồi
trên tòa án, tại nơi gọi là Ba-vê, mà tiếng Hê-bơ-rơ gọi là
Ga-ba-tha.
14. Vả, bấy giờ là ngày sắm sửa về lễ Vượt Qua, độ chừng giờ
thứ sáu. Phi-lát nói cùng dân Giu-đa rằng: Vua các ngươi kia kìa!
15.
Những người đó bèn kêu lên rằng: Hãy trừ hắn đi, trừ hắn đi! Ðóng đinh hắn
trên cây thập tự đi! Phi-lát nói với chúng rằng: Ta sẽ đóng đinh Vua các
ngươi lên thập tự giá hay sao? Các thầy tế lễ cả thưa rằng: Chúng tôi
không có vua khác chỉ Sê-sa mà thôi.
16. Người bèn giao Ngài cho chúng
đặng đóng đinh trên thập tự giá. Vậy, chúng bắt Ngài và dẫn đi.
17. Ðức
Chúa Jêsus vác thập tự giá mình, đi đến ngoài thành, tại nơi gọi là cái
Sọ, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Gô-gô-tha.
18. Ấy đó là chỗ họ đóng đinh
Ngài, lại có hai người khác với Ngài, mỗi bên một người, còn Ðức Chúa
Jêsus ở chính giữa.
19. Phi-lát cũng sai làm một tấm bảng, rồi treo lên
trên thập tự giá. Trên bảng đó có đề chữ rằng: Jêsus Người Na-xa-rét, Là
Vua Dân Giu-đa.
20. Vì nơi Ðức Chúa Jêsus bị đóng đinh ở gần thành, và
chữ đề trên bảng đó viết bằng chữ Hê-bơ-rơ, chữ La-tinh và chữ Gờ-réc, nên
có nhiều người Giu-đa đọc đến.
21. Các thầy tế lễ cả của dân Giu-đa bèn
nói với Phi-lát rằng: Xin đừng viết: Vua dân Giu-đa; nhưng viết rằng,
người nói: Ta là Vua dân Giu-đa.
22. Phi-lát trả lời rằng: Lời ta đã
viết, thì ta đã viết rồi.
23. Quân lính đã đóng đinh Ðức Chúa Jêsus
trên thập tự giá rồi, bèn lấy áo xống của Ngài chia làm bốn phần, mỗi tên
lính chiếm một phần. Họ cũng lấy áo dài của Ngài, nhưng áo dài đó không có
đường may, nguyên một tấm vải dệt ra, từ trên chí dưới.
24. Vậy, họ nói
với nhau rằng: Ðừng xé áo nầy ra, song chúng ta hãy bắt thăm, ai trúng nấy
được. Ấy để cho được ứng nghiệm lời Kinh Thánh nầy: Chúng đã chia nhau áo
xống của ta, Lại bắt thăm lấy áo dài ta. Ðó là việc quân lính làm.
25.
Tại một bên thập tự giá của Ðức Chúa Jêsus, có mẹ Ngài đứng đó, với chị mẹ
Ngài là Ma-ri vợ Cơ-lê-ô-ba, và Ma-ri Ma-đơ-len nữa.
26. Ðức Chúa Jêsus
thấy mẹ mình, và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người, thì nói cùng mẹ rằng:
Hỡi đờn bà kia, đó là con của ngươi!
27. Ðoạn, Ngài lại phán cùng người
môn đồ rằng: Ðó là mẹ ngươi! Bắt đầu từ bấy giờ, môn đồ ấy rước người về
nhà mình.
28. Sau đó, Ðức Chúa Jêsus biết mọi việc đã được trọn rồi,
hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, thì phán rằng: Ta khát.
29. Tại
đó, có một cái bình đựng đầy giấm. Vậy, họ lấy một miếng bông đá thấm đầy
giấm, buộc vào cây ngưu tất đưa kề miệng Ngài.
30. Khi Ðức Chúa Jêsus
chịu lấy giấm ấy rồi, bèn phán rằng: Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục
đầu mà trút linh hồn.
31. Vì bấy giờ là ngày sắm sửa về ngày Sa-bát, mà
Sa-bát nầy là rất trọng thể, nên dân Giu-đa ngại rằng những thây còn treo
lại trên thập tự giá trong ngày Sa-bát chăng, bèn xin Phi-lát cho đánh gãy
ống chơn những người đó và cất xuống.
32. Vậy, quân lính lại, đánh gãy
ống chơn người thứ nhứt, rồi đến người kia, tức là kẻ cùng bị đóng đinh
với Ngài.
33. Khi quân lính đến nơi Ðức Chúa Jêsus, thấy Ngài đã chết
rồi, thì không đánh gãy ống chơn Ngài;
34. nhưng có một tên lính lấy
giáo đâm ngang sườn Ngài, tức thì máu và nước chảy ra.
35. Kẻ đã thấy
thì làm chứng về việc đó, (lời chứng của người là thật, và người vẫn biết
mình nói thật vậy), hầu cho các ngươi cũng tin.
36. Vì điều đó xảy ra,
cho được ứng nghiệm lời Thánh Kinh nầy: Chẳng một cái xương nào của Ngài
sẽ bị gãy.
37. Lại có lời Kinh Thánh nầy nữa: Chúng sẽ ngó thấy người
mà mình đã đâm.
38. Sau đó, Giô-sép người A-ri-ma-thê, làm môn đồ Ðức
Chúa Jêsus một cách kín giấu, vì sợ dân Giu-đa, xin phép Phi-lát cho lấy
xác Ðức Chúa Jêsus; thì Phi-lát cho phép. Vậy, người đến và lấy xác
Ngài.
39. Ni-cô-đem, là người khi trước đã tới cùng Ðức Chúa Jêsus
trong ban đêm, bấy giờ cũng đến, đem theo độ một trăm cân một dược hòa với
lư hội.
40. Vậy, hai người lấy xác Ðức Chúa Jêsus, dùng vải gai và
thuốc thơm gói lại, theo như tục khâm liệm của dân Giu-đa.
41. Vả, tại
nơi Ngài bị đóng đinh, có một cái vườn, trong vườn đó có một cái huyệt
mới, chưa chôn ai.
42. Ấy là nơi hai người chôn Ðức Chúa Trời, vì bấy
giờ là ngày sắm sửa của dân Giu-đa, và mộ ấy ở gần.
Giăng 20
chọn
đoạn khác
1. Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc rạng đông, trời còn mờ
mờ, Ma-ri Ma-đơ-len tới mộ, thấy hòn đá lấp cửa mộ đã dời đi.
2. Vậy,
người chạy tìm Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ khác, là người Ðức Chúa Jêsus
yêu, mà nói rằng: Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài ở tại
đâu.
3. Phi-e-rơ với môn đồ khác bèn bước ra, đi đến mồ.
4. Cả hai
đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phi-e-rơ, và đến mồ trước.
5.
Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất; nhưng không vào.
6. Si-môn
Phi-e-rơ theo đến, vào trong mộ, thấy vải bỏ dưới đất,
7. và cái khăn
liệm trùm đầu Ðức Chúa Jêsus chẳng cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để
riêng ra một nơi khác.
8. Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng
bước vào, thì thấy và tin.
9. Vì chưng hai người chưa hiểu lời Kinh
Thánh rằng Ðức Chúa Jêsus phải từ kẻ chết sống lại.
10. Ðoạn, hai môn
đồ trở về nhà mình.
11. Song Ma-ri đứng bên ngoài, gần mộ, mà khóc.
Người vừa khóc, vừa cúi xuống dòm trong mộ,
12. thấy hai vị thiên sứ
mặc áo trắng, một vị ngồi đằng đầu, một vị ngồi đằng chơn, chỗ xác Ðức
Chúa Jêsus đã nằm.
13. Hai thiên sứ hỏi: Hỡi đờn bà kia, sao ngươi
khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài
ở đâu.
14. Vừa nói xong người xây lại thấy Ðức Chúa Jêsus tại đó; nhưng
chẳng biết ấy là Ðức Chúa Jêsus.
15. Ðức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Hỡi
đờn bà kia, sao ngươi khóc? Ngươi tìm ai? Người ngỡ rằng đó là kẻ làm vườn
bèn nói rằng: Hỡi chúa, ví thật ngươi là kẻ đã đem Ngài đi, xin nói cho ta
biết ngươi để Ngài đâu, thì ta sẽ đến mà lấy.
16. Ðức Chúa Trời phán
rằng: Hỡi Ma-ri, Ma-ri bèn xây lại, lấy tiếng Hê-bơ-rơ mà thưa rằng:
Ra-bu-ni (nghĩa là thầy)!
17. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Chớ rờ đến ta;
vì ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên
cùng Cha ta và Cha các ngươi, cùng Ðức Chúa Trời ta và Ðức Chúa Trời các
ngươi.
18. Ma-ri Ma-đơ-len đi rao bảo cho môn đồ rằng mình đã thấy
Chúa, và Ngài đã phán cùng mình những điều đó.
19. Buổi chiều nội ngày
đó, là ngày thứ nhứt trong tuần lễ, những cửa nơi các môn đồ ở đều đương
đóng lại, vì sự dân Giu-đa, Ðức Chúa Jêsus đến đứng chính giữa các môn đồ
mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
20. Nói đoạn, Ngài giơ tay và sườn
mình cho môn đồ xem. Các môn đồ vừa thấy Chúa thì đầy sự mừng rỡ.
21.
Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể
nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy.
22. Khi Ngài phán điều đó rồi, thì
hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Ðức Thánh Linh.
23. Kẻ nào mà
các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha; còn kẻ nào các ngươi cầm tội
lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó.
24. Vả, lúc Ðức Chúa Jêsus đến, thì
Thô-ma, tức Ði-đim, là một người trong mười hai sứ đồ, không có ở đó với
các môn đồ.
25. Các môn đồ khác nói với người rằng: Chúng ta đã thấy
Chúa. Nhưng người trả lời rằng: Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay
Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta không đặt bàn
tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.
26. Cách tám ngày, các môn đồ lại
nhóm nhau trong nhà, có Thô-ma ở với. Khi cửa đương đóng, Ðức Chúa Jêsus
đến, đứng chính giữa môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
27.
Ðoạn, Ngài phán cùng Thô-ma rằng: Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem
bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng
lòng, song hãy tin!
28. Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa tôi và Ðức Chúa Trời
tôi!
29. Ðức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước
cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!
30. Ðức Chúa Jêsus đã làm
trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách
nầy.
31. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Ðức Chúa
Jêsus là Ðấng Christ, tức là Con Ðức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin,
thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.
Giăng 21 chọn
đoạn khác
1. Rồi đó, Ðức Chúa
Jêsus lại hiện ra cùng môn đồ nơi gần biển Ti-bê-ri-át. Việc Ngài hiện ra
như vầy:
2. Si-môn Phi-e-rơ, Thô-ma gọi là Ði-đim, Na-tha-na-ên nguyên
ở thành Ca-na trong xứ Ga-li-lê các con trai của Xê-bê-đê và hai người môn
đồ khác nữa nhóm lại cùng nhau.
3. Si-môn Phi-e-rơ nói rằng: Tôi đi
đánh cá. Các người kia trả lời rằng: Chúng tôi đi với anh. Các ngươi ấy ra
đi xuống thuyền, nhưng trong đêm đó, chẳng được chi hết.
4. Ðến sáng,
Ðức Chúa Jêsus đứng trên bờ, nhưng môn đồ không biết đó là Ðức Chúa
Jêsus.
5. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi các con, không có chi ăn hết
sao? Thưa rằng: Không
6. Ngài phán rằng: Hãy thả lưới bên hữu thuyền,
thì các ngươi sẽ được. Vậy, các người ấy thả lưới xuống, được nhiều cá đến
nổi không thể kéo lên nữa.
7. Môn đồ mà Ðức Chúa Jêsus yêu bèn nói với
Phi-e-rơ rằng: Ấy là Chúa! Khi Si-môn Phi-e-rơ nghe rằng ấy là Chúa, bèn
lấy áo dài quấn mình (vì đương ở trần) và nhảy xuống nước.
8. Các môn
đồ khác đem thuyền trở lại, kéo tay lưới đầy cá, vì cách bờ chỉ chừng hai
trăm cu-đê mà thôi.
9. Lúc môn đồ đã lên bờ, thấy tại đó có lửa than, ở
trên để cá, và có bánh.
10. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đem các ngươi
mới đánh được đó lại đây.
11. Si-môn Phi-e-rơ xuống thuyền, kéo tay
lưới đầy một trăm năm mươi ba con cá lớn lên bờ; và, dầu nhiều cá dường
ấy, lưới vẫn không đứt.
12. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy lại mà ăn.
Nhưng không một người môn đồ nào dám hỏi rằng: Ngươi là ai? Vì biết quả
rằng ấy là Chúa.
13. Ðức Chúa Jêsus lại gần, lấy bánh cho môn đồ, và
cho luôn cá nữa.
14. Ấy là lần thứ ba mà Ðức Chúa Jêsus hiện ra cùng
môn đồ Ngài, sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại.
15. Khi ăn rồi, Ðức Chúa
Jêsus phán cùng Si-môn Phi-e-rơ rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta
hơn những kẻ nầy chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng
tôi yêu Chúa. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn những chiên con
ta.
16. Ngài lại phán lần thứ hai cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con
Giô-na, ngươi yêu ta chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết
rằng tôi yêu Chúa. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn chiên ta.
17.
Ngài phán cùng người đến lần thứ ba rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi
yêu ta chăng? Phi-e-rơ buồn rầu vì Ngài phán cùng mình đến ba lần: Ngươi
yêu ta chăng: Người bèn thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc; Chúa
biết rằng tôi yêu Chúa! Ðức Chúa Trời phán rằng: Hãy chăn chiên ta.
18.
Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, khi ngươi còn trẻ, ngươi tự mình
thắt lưng lấy, muốn đi đâu thì đi; nhưng khi ngươi già, sẽ giơ bàn tay ra,
người khác thắt lưng cho và dẫn ngươi đi đến nơi mình không muốn.
19.
Ngài nói điều đó để chỉ về Phi-e-rơ sẽ chết cách nào đặng sáng danh Ðức
Chúa Jêsus. Và sau khi đã phán như vậy, Ngài lại rằng: Hãy theo ta.
20.
Phi-e-rơ xây lại, thấy môn đồ mà Ðức Chúa Jêsus yêu đến sau mình, tức là
người đương bữa ăn tối, nghiêng mình trên ngực Ðức Chúa Jêsus mà hỏi rằng:
Lạy Chúa, ai là kẻ phản Chúa?
21. Khi thấy người đó, Phi-e-rơ hỏi Ðức
Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, còn người nầy, về sau sẽ ra thế nào?
22. Ðức
Chúa Trời đáp rằng: nếu ta muốn người cứ ở cho tới khi ta đến, thì can hệ
gì với ngươi? Còn ngươi, hãy theo ta.
23. Vậy, có tiếng đồn ra trong
vòng các anh em rằng người môn đồ đó sẽ không chết. Nhưng Ðức Chúa Jêsus
vốn chẳng phải nói rằng: Người đó sẽ không chết; song nói rằng: Nếu ta
muốn người cứ ở cho tới khi ta đến, thì can hệ gì với ngươi? đó
thôi.
24. Ấy chính là môn đồ đó làm chứng về những việc nầy và đã chép
lấy; chúng ta biết lời chứng của người là thật.
25. Lại còn nhiều việc
nữa mà Ðức Chúa Jêsus đã làm; ví bằng người ta cứ từng việc mà chép hết,
thì ta tưởng rằng cả thế gian không thể chứa hết các sách người ta chép
vậy.