Mục Lục
[1] [2] [3] [4]
[5] [6] [7] [8]
[9] [10] [11] [12]
[13] [14] [15] [16]
Mác 1 chọn
đoạn khác
1. Ðầu Tin Lành của Ðức
Chúa Jêsus Christ, là Con Ðức Chúa Trời.
2. Như đã chép trong sách tiên
tri Ê-sai rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước mặt ngươi, Người sẽ dọn đường
cho ngươi.
3. Có tiếng kêu trong đồng vắng rằng: Hãy dọn đường Chúa,
Ban bằng các nẻo Ngài;
4. Giăng đã tới, trong đồng vắng vừa làm vừa
giảng phép báp-tem ăn năn, cho được tha tội.
5. Cả xứ Giu-đê và hết
thảy dân sự thành Giê-ru-sa-lem đều đến cùng người, xưng tội mình và chịu
người làm phép báp tem dưới sông Giô-đanh.
6. Giăng mặc áo lông lạc đà,
buộc dây lưng da ngang hông; ăn những châu chấu và mật ong rừng.
7.
Người giảng dạy rằng: Có Ðấng quyền phép hơn ta đến sau ta; ta không đáng
cúi xuống mở dây giày Ngài.
8. Ta làm phép báp-tem cho các ngươi bằng
nước; nhưng Ngài sẽ làm phép báp-tem cho các ngươi bằng Ðức
Thánh-Linh.
9. Vả, trong những ngày đó, Ðức Chúa Jêsus đến từ Na-xa-rét
là thành xứ Ga-li-lê, và chịu Giăng làm phép báp-tem dưới sông
Giô-đanh.
10. Vừa khi lên khỏi nước, Ngài thấy các từng trời mở ra, và
Ðức Thánh-Linh ngự xuống trên mình Ngài như chim bò câu.
11. Lại có
tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi
đường.
12. Tức thì Ðức Thánh Linh giục Ngài đến nơi đồng vắng
13.
Ngài ở nơi đồng vắng chịu quỉ Sa-tan cám dỗ bốn mươi ngày, ở chung với thú
rừng, và có thiên sứ đến hầu việc Ngài.
14. Sau khi Giăng bị tù, Ðức
Chúa Jêsus đến xứ Ga-li-lê, giảng Tin-Lành của Ðức Chúa Trời,
15. mà
rằng: Kỳ đã trọn, nước Ðức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và
tin đạo Tin Lành.
16. Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy Si-môn
với Anh-rê, em người, đương thả lưới dưới biển; vì hai người vốn làm nghề
chài.
17. Ðức Chúa Jêsus bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta, và ta sẽ
khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.
18. Tức thì hai người bỏ
chài lưới mà theo Ngài.
19. Ði một đỗi xa xa, Ngài thấy Gia-cơ, con
Xê-bê-đê, với em là Giăng, đương vá lưới trong thuyền.
20. Ngài liền
kêu hai người; thì họ để Xê-bê-đê, cho mình, ở lại trong thuyền với mấy
người làm thuê, mà theo Ngài.
21. Kế đó, đi đến thành Ca-bê-na-um; nhằm
ngày Sa-bát, tức thì Ðức Chúa Jêsus vào nhà hội, khởi dạy dỗ tại
đó.
22. Chúng đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy như có
quyền phép, chớ chẳng phải như các thầy thông giáo đâu.
23. Vả, cũng
một lúc ấy, trong nhà hội có người bị tà ma ám,
24. kêu lên rằng: Hỡi
Jêsus, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để
diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai: là Ðấng Thánh của Ðức Chúa
Trời.
25. Nhưng Ðức Chúa Jêsus nghiêm trách nó rằng: Hãy nín đi, ra
khỏi người.
26. Tà ma bèn vật mạnh người ấy, cất tiếng kêu lớn, và ra
khỏi người.
27. Ai nấy đều lấy làm lạ, đến nỗi hỏi nhau rằng: Cái gì
vậy? Sự dạy mới sao! Người nầy lấy quyền phép sai khiến đến tà ma, mà nói
cũng phải vâng lời!
28. Danh tiếng Ðức Chúa Jêsus tức thì đồn ra khắp
cả miền xung quanh xứ Ga-li-lê.
29. Vừa ở nhà hội ra, Chúa và môn đồ đi
với Gia-cơ và Giăng vào nhà Si-môn và Anh-rê.
30. Và, bà gia Si-môn
đang nằm trên giường, đau rét; tức thì chúng thưa với Ngài về chuyện
người.
31. Ngài bèn lại gần, cầm tay người đỡ dậy; bịnh rét dứt đi, và
người bắt tay hầu hạ.
32. Ðến chiều, mặt trời đã lặn, người ta đem mọi
kẻ bịnh và kẻ bị quỉ ám đến cùng Ngài.
33. Cả thành nhóm lại trước
cửa.
34. Ngài chữa lành nhiều kẻ đau các thứ bịnh, và đuổi nhiều quỉ,
chẳng cho phép các quỉ nói ra, vì chúng nó biết Ngài.
35. Sáng hôm sau
trời còn mờ mờ, Ngài chờ dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ, và cầu nguyện
tại đó.
36. Si-môn cùng đồng bạn đi tìm Ngài.
37. Khi kiếm được thì
thưa rằng: Hết thảy đương tìm thầy.
38. Ngài phán: Chúng ta đi nơi
khác, trong những làng xung quanh đây, để ta cũng giảng đạo ở đó nữa; vì
ấy là cốt tại việc đó mà ta đã đến.
39. Ngài trải khắp xứ Ga-li-lê,
giảng dạy trong các nhà hội và đuổi quỉ.
40. Có một người phung đến
cùng Ngài, quì xuống cầu xin rằng: Nếu Chúa khứng, có thể khiến tôi sạch
được.
41. Ðức Chúa Jêsus động lòng thương xót, giơ tay rờ người, mà
phán rằng: Ta khứng, hãy sạch đi.
42. Liền khi đó, phung lặn mất, người
trở nên sạch.
43. tức thì Ðức Chúa Jêsus cho người ấy ra, lấy giọng
nghiêm phán rằng:
44. Hãy giữ chớ tỏ điều đó cùng ai; song khá đi tỏ
mình cùng thầy tế lễ, và vì người được sạch, hãy dâng của lễ theo như
Môi-se dạy, để điều đó làm chứng cho họ.
45. Nhưng người ấy đi, đồn
việc đó ra, tới đâu cũng thuật chuyện, đến nỗi Chúa Giê-xu không vào thành
cách rõ ràng được nữa; song Ngài ở ngoài, tại nơi vắng vẻ; và người ta từ
bốn phương đều đến cùng Ngài.
Mác 2 chọn
đoạn khác
1. Khỏi một vài ngày, Ðức
Chúa Jêsus trở lại thành Ca-bê-na-um, và chúng nghe nói Ngài ở trong
nhà.
2. Họ họp lại tại đó đông lắm, đến nỗi trước cửa cũng không còn
chỗ trống; Ngài giảng đạo cho họ nghe.
3. Bấy giờ có mấy kẻ đem tới cho
Ngài một người đau bại, có bốn người khiêng.
4. Nhưng, vì đông người,
không lại gần Ngài được, nên dở mái nhà ngay chỗ Ngài ngồi, rồi do lỗ đó
dòng giường người bại xuống.
5. Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn
phán với kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha.
6. Vả, có
mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng:
7. Sao người nầy nói như
vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài mình Ðức Chúa Trời, còn có ai tha tội
được chăng?
8. Ðức Chúa Jêsus trong trí đã tự hiểu họ nghĩ như vậy, tức
thì phán rằng: Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy?
9. Nay bảo kẻ
bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay là bảo người rằng: Hãy đứng dậy vác
giường mà đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn?
10. Vả, để cho các ngươi
biết rằng Con người ở thế gian có quyền tha tội, thì Ngài phán cùng kẻ bại
rằng:
11. Ta biểu ngươi, hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà.
12. Kẻ
bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy
làm lạ, ngợi khen Ðức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể
nầy.
13. Bấy giờ, Ðức Chúa Jêsus trở lại về phía mé biển; cả dân chúng
đến cùng Ngài, rồi Ngài dạy dỗ họ.
14. Ngài vừa đi qua thấy Lê-vi, con
A-phê, đương ngồi tại sở thâu thuế, thì phán cùng người rằng: Hãy theo ta.
Người đứng dậy theo Ngài.
15. Ðức Chúa Jêsus đương ngồi ăn tại nhà
Lê-vi, có nhiều kẻ thâu thuế và người có tội đồng bàn với Ngài và môn đồ
Ngài; vì trong bọn đó có nhiều kẻ theo Ngài rồi.
16. Các thầy thông
giáo và người Pha-ra-si thấy Ngài ăn với người thâu thuế và kẻ phạm tội,
thì nói với môn đồ Ngài rằng: Người cùng ăn với kẻ thâu thuế và người có
tội sao!
17. Ðức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán cùng họ rằng: Chẳng phải
kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến
gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội.
18. Vả, môn đồ của Giăng và
người Pha-ra-si đều kiêng ăn. Có người đến thưa cùng Ðức Chúa Jêsus rằng:
Bởi cớ nào môn đồ của Giăng và môn đồ của người Pha-ra-si đều kiêng ăn,
còn môn đồ của thầy không kiêng ăn?
19. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Bạn
hữu của chàng rể có kiêng ăn được trong khi chàng rể còn ở cùng mình
chăng? Hễ chàng rể còn ở với họ đến chừng nào, thì họ không thể kiêng ăn
được đến chừng nấy.
20. Song tới kỳ chàng rể phải đem đi khỏi họ, trong
ngày đó họ sẽ kiêng ăn.
21. Không ai vá miếng nỉ mới vào cái áo cũ; nếu
vậy thì miếng nỉ mới chằng rách áo cũ, mà đàng rách càng xấu thêm.
22.
Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu vậy, rượu làm vỡ bầu, rượu
mất và bầu cũng chẳng còn.
23. Nhằm ngày Sa-bát, Ðức Chúa Jêsus đi qua
đồng lúa mì; đang đi đường, môn đồ Ngài bứt bông lúa mì.
24. Các người
Pha-ra-si bèn nói cùng Ngài rằng: Coi kìa, sao môn đồ thầy làm điều không
nên làm trong ngày Sa-bát?
25. Ngài đáp rằng: Các ngươi chưa đọc đến sự
vua Ða-vít làm trong khi vua cùng những người đi theo bị túng đói hay
sao?
26. Thể nào trong đời A-bi-tha làm thầy cả thượng phẩm, vua ấy vào
đến Ðức Chúa Trời, ăn bánh bày ra, lại cũng cho những người đi theo ăn
nữa, dầu bánh ấy chỉ những thầy tế lễ mới được phép ăn thôi?
27. Ðoạn,
Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày
Sa-bát mà dựng nên loài người.
28. Vậy thì Con người cũng làm chủ ngày
Sa-bát.
Mác 3
chọn
đoạn khác
1. Lần khác, Ðức Chúa Jêsus vào nhà hội, ở
đó có một người nam teo bàn tay.
2. Chúng rình xem thử Ngài có chữa
người đó trong ngày Sa-bát chăng, đặng cáo Ngài.
3. Ngài phán cùng
người teo tay rằng: hãy dậy, đứng chính giữa đây.
4. rồi Ngài hỏi họ
rằng: trong ngày Sa-bát, nên làm việc lành hay việc dữ, cứu người hay giết
người? Nhưng họ đều nín lặng.
5. Bấy giờ, Ngài lấy mắt liếc họ, vừa
giận vừa buồn vì lòng họ cứng cỏi, rồi phán cùng người nam rằng: hãy giơ
tay ra. Người giơ ra, thì tay được lành.
6. Các người Pha-ra-si đi ra,
tức thì bàn luận với phe Hê-rốt nghịch cùng Ngài, đặng giết Ngài đi.
7.
Ðức Chúa Jêsus cùng môn đồ Ngài lánh ra nơi bờ biển, có đoàn dân đông lắm
từ xứ Ga-li-lê đến theo Ngài. Từ xứ Giu-đê,
8. thành Giê-ru-sa-lem, xứ
Y-đu-mê, xứ bên kia sông Giô-đanh, miền xung quanh thành Ty-rơ và thành
Si-đôn cũng vậy, dân đông lắm, nghe nói mọi việc Ngài làm, thì đều đến
cùng Ngài.
9. Bởi cớ dân đông, nên Ngài biểu môn đồ sắm cho mình một
chiếc thuyền nhỏ sẵn sàng, đặng cho khỏi bị chúng lấn ép Ngài quá.
10.
Vì Ngài đã chữa lành nhiều kẻ bịnh, nên nỗi ai nấy có bịnh chi cũng đều áp
đến gần để rờ Ngài.
11. Khi tà ma thấy Ngài, bèn sấp mình xuống nơi
chơn Ngài mà kêu lên rằng: Thầy là Con Ðức Chúa Trời!
12. Song Ngài
nghiêm cấm chúng nó chớ tỏ cho ai biết mình.
13. Kế đó, Ðức Chúa Jêsus
lên trên núi, đòi những người Ngài muốn, thì những người ấy đến kề
Ngài.
14. Ngài bèn lập mười hai người, gọi là sứ đồ, để ở cùng Ngài và
sai đi giảng đạo,
15. lại ban cho quyền phép đuổi quỉ.
16. Nầy là
mười hai sứ đồ Ngài đã lập: Si-môn, Ngài đặt tên là Phi-e-rơ;
17.
Gia-cơ con Xê-bê-đê, và Giăng em Gia-cơ, Ngài đặt tên hai người là
Bô-a-nẹt, nghĩa là con trai của sấm sét;
18. Anh-rê, Phi-líp,
Ba-thê-lê-my, Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ con A-phê, Tha-đê, Si-môn là người
Ca-na-an,
19. và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, chính tên nầy đã phản
Ngài.
20. Ðức Chúa Jêsus cùng môn đồ vào trong một cái nhà; đoàn dân
lại nhóm họp tại đó, đến nỗi Ngài và môn đồ không ăn được.
21. Những
bạn hữu Ngài nghe vậy, bèn đến để cầm giữ Ngài; vì người ta nói Ngài đã
mất trí khôn.
22. Có các thầy thông giáo ở thành Giê-ru-sa-lem xuống,
nói rằng: Người bị quỉ Bê-ên-xê-bun ám, và nhờ phép chúa quỉ mà trừ
quỉ.
23. Song Ðức Chúa Jêsus kêu họ đến, dùng lời thí dụ mà phán rằng:
Sao quỉ Sa-tan đuổi được quỉ Sa-tan?
24. Nếu một nước tự chia nhau, thì
nước ấy không thể còn được;
25. lại nếu một nhà tự chia nhau, thì nhà
ấy không thể còn được.
26. Vậy, nếu quỉ Sa-tan tự dấy lên nghịch cùng
mình, tất nó bị chia xẻ ra, không thể còn được; song nó đã gần đến cùng
rồi.
27. Chẳng ai có thể vào nhà một người mạnh sức cướp lấy của người,
mà trước hết không trói người lại; phải trói người lại, rồi mới cướp nhà
người được.
28. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mọi tội lỗi sẽ tha cho
con cái loài người, và hết thảy những lời phạm thượng họ sẽ nói ra cũng
vậy;
29. nhưng ai sẽ nói phạm đến Ðức Thánh Linh thì chẳng hề được tha,
phải mắc tội đời đời.
30. Ngài phán như vậy, vì họ nói rằng: Người bị
tà ma ám.
31. Mẹ và anh em Ngài đến, đứng ngoài sai kêu Ngài. Ðoàn dân
vẫn ngồi chung quanh Ngài.
32. Có kẻ thưa rằng: Nầy, mẹ và anh em thầy
ở ngoài kia đương tìm thầy.
33. Song Ngài phán cùng họ rằng: Ai là mẹ
ta, ai là anh em ta?
34. Ngài đưa mắt liếc những kẻ ngồi chung quanh
mình mà phán rằng: Kìa là mẹ ta và anh em ta!
35. Ai làm theo ý muốn
Ðức Chúa Trời, nấy là anh em, chị em, và mẹ ta vậy.
Mác 4
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus lại khởi sự giảng dạy nơi bờ biển; có một
đoàn dân đông lắm nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài bước lên trong một chiếc
thuyền và ngồi đó, còn cả đoàn dân thì ở trên đất nơi mé biển.
2. Ngài
lấy thí dụ dạy dỗ họ nhiều điều, và trong khi dạy, Ngài phán rằng:
3.
Hãy nghe. Có người gieo giống đi ra đặng gieo.
4. Khi đương gieo, một
phần giống rơi dọc đường, chim đến ăn hết.
5. Một phần khác rơi nhằm
nơi đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, tức thì mọc lên, vì bị lấp không
sâu;
6. nhưng khi mặt trời đã mọc, thì bị đốt, và bởi không có rễ, nên
phải héo.
7. Một phần khác rơi nhằm bụi gai; gai mọc lên làm cho nghẹt
ngòi, và không kết quả.
8. Một phần khác nữa rơi nhằm nơi đất tốt, thì
kết quả, lớn lên và nẩy nở ra; một hột ra ba chục, hột khác sáu chục, hột
khác một trăm.
9. Ngài lại phán rằng: Ai có tai mà nghe, hãy
nghe.
10. Khi Ðức Chúa Jêsus ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng
mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời thí dụ.
11. Ngài phán rằng: Sự mầu
nhiệm của nước Ðức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi; nhưng về phần người
ngoài, thì dùng thí dụ để dạy mọi sự,
12. hầu cho họ xem thì xem mà
không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội
chăng.
13. Ðoạn, Ngài phán rằng: Các ngươi không hiểu thí dụ ấy sao?
Vậy thì thế nào hiểu mọi thí dụ được?
14. Người gieo giống ấy là gieo
đạo.
15. Những kẻ ở dọc đường là kẻ đã chịu đạo gieo nơi mình; nhưng
vừa mới nghe đạo, tức thì quỉ Sa-tan đến, cướp lấy đạo đã gieo trong lòng
họ đi.
16. Cũng vậy, những người chịu giống gieo nơi đất đá sỏi, là
những kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy;
17. song vì trong lòng họ
không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, nên nỗi gặp khi vì cớ đạo mà xảy ra sự
cực khổ, bắt bớ, thì liền vấp phạm.
18. Còn những kẻ chịu giống gieo
nơi bụi gai, là kẻ đã nghe đạo;
19. song sự lo lắng về đời nầy, sự mê
đắm về giàu sang, và các sự tham muốn khác thấu vào lòng họ, làm cho nghẹt
ngòi đạo, và trở nên không trái.
20. Nhưng, những người chịu giống gieo
vào nơi đất tốt, là kẻ nghe đạo, chịu lấy và kết quả, một hột ra ba chục,
hột khác sáu chục, hột khác một trăm.
21. Ngài lại phán cùng họ rằng:
Có ai đem đèn để dưới cái thùng hoặc dưới cái giường chăng? Há chẳng phải
để trên chơn đèn sao?
22. Vì chẳng có điều chi kín mà không phải lộ ra,
chẳng có điều chi giấu mà không phải rõ ràng.
23. Nếu ai có tai mà
nghe, hãy nghe!
24. Ngài lại phán rằng: Hãy cẩn thận về điều mình nghe.
Người ta sẽ đong cho các ngươi bằng lường các ngươi đã đong cho, và thêm
vào đó nữa.
25. Vì sẽ ban thêm cho kẻ nào có; nhưng kẻ nào không có, sẽ
bị cất lấy điều mình đã có.
26. Ngài lại phán rằng: Nước Ðức Chúa Trời
cũng như một người vải giống xuống đất;
27. người ngủ hay dậy, đêm và
ngày, giống cứ nẩy chồi mọc lên, mà người không biết thể nào.
28. Vì
đất tự sanh ra hoa lợi: ban đầu là cây, kế đến bông, đoạn bông kết thành
hột.
29. Khi hột đã chín, người ta liền tra lưỡi hái vào, vì mùa gặt đã
đến.
30. Ngài lại phán rằng: Chúng ta sánh nước Ðức Chúa Trời với chi,
hay lấy thí dụ nào mà tỏ ra?
31. Nước ấy giống như một hột cải: khi
người ta gieo, nó nhỏ hơn hết các hột giống trên đất;
32. song khi gieo
rồi, nó mọc lên, trở lớn hơn mọi thứ rau, và nứt ra nhành lớn, đến nỗi
chim trời núp dưới bóng nó được.
33. Ấy bởi nhiều lời thí dụ như cách
ấy mà Ngài giảng đạo cho họ, tùy theo sức họ nghe được.
34. Ngài chẳng
hề giảng cho chúng mà không dùng thí dụ; nhưng, khi ở riêng, Ngài cắt
nghĩa hết cho môn đồ mình.
35. Ðến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ
rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia.
36. Khi cho dân chúng tan về rồi,
Ðức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các
thuyền khác cùng đi nữa.
37. Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào
thuyền, đến nỗi gần đầy nước;
38. nhưng Ngài đương ở đằng sau lái, dựa
gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo
chúng ta chết sao?
39. Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển
rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ.
40.
Ðoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin
sao?
41. Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là
ai, mà gió và biển đều vâng lịnh người?
Mác 5 chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa
Jêsus cùng môn đồ qua đến bờ biển bên kia, trong miền Giê-ra-sê.
2.
Ngài mới ở trên thuyền bước xuống, tức thì có một người bị tà ma ám từ nơi
mồ mả đi ra đến trước mặt Ngài.
3. Người thường ở nơi mồ mả, dẫu dùng
xiềng sắt cũng chẳng ai cột trói được nữa;
4. vì nhiều lần người bị cùm
chơn hoặc bị xiềng, rồi bẻ xiềng tháo cùm, không ai có sức trị được.
5.
Người cứ ở nơi mồ mả và trên núi, ngày đêm kêu la và lấy đá đánh bầm
mình.
6. Người thấy Ðức Chúa Jêsus ở đằng xa, chạy lại sấp mình xuống
trước mặt Ngài,
7. mà kêu lớn rằng: Hỡi Ðức Chúa Jêsus, Con Ðức Chúa
Trời rất cao, tôi với Ngài có sự gì chăng? Tôi nhơn danh Ðức Chúa Trời mà
khẩn cầu Ngài, xin đừng làm khổ tôi.
8. Vì Ðức Chúa Jêsus vừa phán cùng
nó rằng: Hỡi tà ma, phải ra khỏi người nầy.
9. Ngài lại hỏi rằng: Mầy
tên gì? Thưa rằng: Tên tôi là Quân đội; vì chúng tôi đông.
10. Nó lại
van xin Ngài đừng đuổi chúng nó ra khỏi miền đó.
11. Vả, chỗ đó, tại
trên núi, có một bầy heo đông đương ăn.
12. Các quỉ cầu xin Ngài rằng:
Xin khiến chúng tôi đến với bầy heo ấy, để chúng tôi nhập vào chúng nó.
Ðức Chúa Jêsus cho phép.
13. Các tà ma ra khỏi người đó, bèn nhập vào
bầy heo từ trên bực cao vụt đâm đầu xuống biển. Có độ hai ngàn con heo
chết chìm cả dưới biển.
14. Nhưng kẻ chăn heo trốn, đồn tin nầy ra khắp
trong thành và trong nhà quê;
15. dân sự đổ ra đặng xem điều đã xảy
đến. Vậy, chúng đến cùng Ðức Chúa Jêsus, thấy người đã bị nhiều quỉ ám,
đang ngồi, mặc quần áo, trí khôn bình tĩnh, thì sợ hãi lắm.
16. Những
người đã thấy việc đó, thuật cho họ nghe chuyện đã xảy đến cho kẻ bị quỉ
ám và bầy heo.
17. Chúng bèn xin Ngài ra khỏi địa phận mình.
18. Lúc
Ngài đương bước vào thuyền, người trước đã bị quỉ ám xin ở lại với
Ngài.
19. Nhưng Ðức Chúa Jêsus không cho, phán rằng: Hãy về nhà ngươi,
nơi bạn hữu ngươi, mà thuật lại cho họ điều lớn lao thể nào Chúa đã làm
cho ngươi, và Ngài đã thương xót ngươi cách nào.
20. Vậy, người đi, đồn
ra trong xứ Ðê-ca-bô-lơ những điều lớn lao thể nào mà Ðức Chúa Jêsus đã
làm cho mình; ai nấy đều lấy làm lạ.
21. Khi Ðức Chúa Jêsus lại xuống
thuyền qua bờ bên kia, có đoàn dân đông nhóm họp chung quanh Ngài. Ngài
đứng trên bờ biển.
22. Bấy giờ, có một người trong những người cai nhà
hội, tên là Giai ru, đến, thấy Ðức Chúa Jêsus, bèn gieo mình nơi chơn
Ngài;
23. nài xin mà rằng: Con gái nhỏ tôi gần chết; xin Chúa đến, đặt
tay trên nó, đặng nó lành mạnh và sống.
24. Ðức Chúa Jêsus đi với
người; đoàn dân đông cùng đi theo và lấn ép Ngài.
25. vả, tại đó có một
người đờn bà bị bịnh mất huyết đã mười hai năm,
26. bấy lâu chịu khổ sở
trong tay nhiều thầy thuốc, hao tốn hết tiền của, mà không thấy đỡ gì;
bịnh lại càng nặng thêm.
27. Người đã nghe tin về Ðức Chúa Jêsus, bèn
lẩn vào đằng sau giữa đám đông, mà rờ áo Ngài.
28. Vì người nói rằng:
Nếu ta chỉ rờ đến áo Ngài mà thôi, thì ta sẽ được lành.
29. Cùng một
lúc ấy, huyết lậu liền cầm lại; người nghe trong mình đã được lành
bịnh.
30. Tức thì Ðức Chúa Jêsus tự biết có sức mạnh đã ra từ mình, bèn
xây lại giữa đám đông mà hỏi rằng: Ai đã rờ áo ta?
31. Môn đồ thưa
rằng: Thầy thấy đám đông lấn ép thầy, thầy còn hỏi rằng: Ai rờ đến
ta?
32. Ngài nhìn chung quanh mình để xem người đã làm điều đó.
33.
Người đờn bà biết sự đã xảy đến cho mình, bèn run sợ đến gieo mình dưới
chơn Ngài, tỏ hết tình thật.
34. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi con gái
ta, đức tin con đã cứu con; hãy đi cho bình an và được lành bịnh.
35.
Ðương khi Ngài còn phán, có kẻ đến từ nhà người cai nhà hội mà nói với
người rằng: Con gái ông đã chết rồi; còn phiền Thầy làm chi?
36. Nhưng
Ðức Chúa Jêsus chẳng màng đến lời ấy, phán cùng cai nhà hội rằng: Ðừng sợ,
chỉ tin mà thôi.
37. Ngài chẳng cho ai theo mình, trừ ra Phi-e-rơ,
Gia-cơ, và Giăng là em là Gia-cơ.
38. Khi đã đến nhà người cai nhà hội,
Ngài thấy chúng làm om sòm, kẻ khóc người kêu lớn tiếng.
39. Vào nhà
rồi, Ngài phán cùng chúng rằng: Sao các ngươi làm ồn ào và khóc lóc vậy?
Ðứa trẻ chẳng phải chết, song nó ngủ.
40. Chúng nhạo báng Ngài. Ngài
bèn đuổi chúng ra hết, đem cha mẹ đứa trẻ với những kẻ theo Ngài, cùng vào
chỗ nó nằm.
41. Ngài nắm tay nó mà phán rằng: Ta-li-tha Cu-mi; nghĩa
là: Hỡi con gái nhỏ, ta truyền cho mầy, hãy chờ dậy.
42. Tức thì đứa
gái chờ dậy mà bước đi, vì đã lên mười hai tuổi. Chúng rất lấy làm
lạ.
43. Ngài cấm ngặt chúng đừng cho ai biết sự ấy, và truyền cho đứa
trẻ ăn.
Mác 6
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus đi khỏi đó, đến quê
hương mình, có các môn đồ cùng đi theo.
2. Ðến ngày Sa-bát, Ngài bắt
đầu dạy dỗ trong nhà hội; thiên hạ nghe Ngài, lấy làm lạ mà nói rằng:
Người bởi đâu được những điều nầy? Sự khôn sáng mà người được ban cho là
gì, và thể nào tay người làm được những phép lạ dường ấy?
3. Có phải
người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đê, và
Si-môn chăng? Chị em người há chẳng phải ở giữa chúng ta đây ư? Chúng bèn
vấp phạm vì cớ Ngài.
4. Song Ðức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Ðấng
tiên tri chỉ bị quê hương mình, bà con mình và trong nhà mình khinh dể mà
thôi.
5. Ở đó, Ngài không làm phép lạ nào được, chỉ đặt tay chữa lành
một vài người đau ốm;
6. và Ngài lấy làm lạ vì chúng chẳng tin. Rồi
Ngài đi khắp các làng gần đó mà giảng dạy.
7. Ngài bèn kêu mười hai sứ
đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, ban quyền phép trừ tà ma.
8. Ngài truyền
cho sứ đồ đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc bánh, hoặc bao, hoặc tiền
bạc trong dây lưng, chỉ đem một cây gậy mà thôi;
9. chỉ mang dép, đừng
mặc hai áo.
10. Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hễ nhà nào các ngươi sẽ vào,
hãy cứ ở đó, cho đến khi đi.
11. Nếu có chỗ nào, người ta không chịu
tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và
phủi bụi đã dính chơn mình, để làm chứng cho họ.
12. Vậy, các sứ đồ đi
ra, giảng cho người ta phải ăn năn;
13. đuổi ma quỉ, xức dầu cho nhiều
kẻ bịnh và chữa cho được lành.
14. Vả, vua Hê-rốt nghe nói về Ðức Chúa
Jêsus (vì danh tiếng Ngài đã trở nên lừng lẫy), thì nói rằng: Giăng, là
người làm phép báp-tem, đã từ kẻ chết sống lại; cho nên tự người làm ra
các phép lạ.
15. Người thì nói: Ấy là Ê-li; kẻ thì nói: Ấy là đấng tiên
tri, như một trong các đấng tiên tri đời xưa.
16. Nhưng Hê-rốt nghe
vậy, thì nói rằng: Ấy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống
lại.
17. Số là, Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, và truyền xiềng lại cầm
trong ngục, bởi cớ Hê-đô-đia, vợ Phi-líp em vua, vì vua đã cưới
nàng,
18. và Giăng có can vua rằng: Vua không nên lấy vợ em
mình.
19. Nhơn đó, Hê-rô-đia căm Giăng, muốn giết đi.
20. Nhưng
không thể giết, vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh.
Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua
bằng lòng nghe.
21. Nhưng, vừa gặp dịp tiện, là ngày sanh nhựt Hê-rốt,
vua đãi tiệc các quan lớn trong triều, các quan võ, cùng các ngươi tôn
trưởng trong xứ Ga-li-lê.
22. Chính con gái Hê-rô-đia vào, nhảy múa,
đẹp lòng Hê-rốt và các ngươi dự tiệc nữa. Vua nói cùng người con gái ấy
rằng: Hãy xin ta điều chi ngươi muốn, ta sẽ cho.
23. Vua lại thề cùng
nàng rằng: Bất kỳ ngươi xin điều chi, ta cũng sẽ cho, dầu xin phân nửa
nước ta cũng vậy.
24. Nàng ra khỏi đó, nói với mẹ rằng: Tôi nên xin
điều chi? Mẹ rằng: Cái đầu của Giăng Báp-tít.
25. Tức thì nàng vội trở
vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng
Báp-tít để trên mâm.
26. Vua lấy làm buồn rầu lắm; nhưng vì cớ lời thề
mình và khách dự yến, thì không muốn từ chối nàng.
27. Vua liền sai một
người lính thị vệ truyền đem đầu Giăng đến.
28. Người ấy đi chém Giăng
trong ngục; rồi để đầu trên mâm đem cho người con gái, và người con gái
đem cho mẹ mình.
29. Môn đồ Giăng nghe tin, đến lấy xác người chôn
trong mả.
30. Các sứ đồ nhóm lại cùng Ðức Chúa Jêsus, thuật cho Ngài
mọi điều mình đã làm và dạy.
31. Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hãy đi tẻ
ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút. Vì có kẻ đi người lại đông lắm,
đến nỗi Ngài và sứ đồ không có thì giờ mà ăn.
32. Vậy, Ngài và sứ đồ
xuống thuyền đặng đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ.
33. Nhưng nhiều người
thấy đi, thì nhận biết; dân chúng từ khắp các thành đều chạy bộ đến nơi
Chúa cùng sứ đồ vừa đi, và đã tới đó trước.
34. Bấy giờ Ðức Chúa Jêsus
ở thuyền bước ra, thấy đoàn dân đông lắm, thì Ngài động lòng thương xót
đến, vì như chiên không có người chăn; Ngài bèn khởi sự dạy dỗ họ nhiều
điều.
35. Trời đã chiều, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Chỗ nầy là
vắng vẻ, và trời đã chiều rồi;
36. xin cho dân chúng về, để họ đi các
nơi nhà quê và các làng gần đây đặng mua đồ ăn.
37. Ngài đáp rằng:
Chính các ngươi phải cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: chúng tôi sẽ đi mua đến
hai trăm đơ-ni-ê bánh để cho họ ăn hay sao?
38. Ngài hỏi rằng: Các
ngươi có bao nhiêu bánh? Hãy đi xem thử. Môn đồ xem xét rồi, thưa rằng:
Năm cái bánh và hai con cá.
39. Ngài bèn truyền cho môn đồ biểu chúng
ngồi xuống hết thảy từng chòm trên cỏ xanh.
40. Chúng ngồi xuống từng
hàng, hàng thì một trăm, hàng thì năm chục.
41. Ðức Chúa Jêsus lấy năm
cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ bánh ra mà trao
cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân; lại cũng chia hai con cá cho họ
nữa.
42. Ai nấy ăn no nê rồi;
43. người ta lượm được mười hai giỏ
đầy những miếng bánh và cá còn thừa lại.
44. Vả, số những kẻ đã ăn
chừng năm ngàn người.
45. Rồi Ngài liền giục môn đồ vào thuyền, qua bờ
bên kia trước mình, hướng đến thành Bết-sai-đa, trong khi Ngài cho dân
chúng về.
46. Ngài lìa khỏi chúng rồi, thì lên núi mà cầu
nguyện.
47. Ðến tối, chiếc thuyền đương ở giữa biển, còn Ngài thì ở một
mình trên đất.
48. Ngài thấy môn đồ chèo khó nhọc lắm, vì gió ngược.
Lối canh tư đêm ấy, Ngài đi bộ trên biển mà đến cùng môn đồ; và muốn đi
trước.
49. Môn đồ thấy Ngài đi bộ trên mặt biển ngỡ là ma, nên la
lên;
50. vì ai nấy đều thấy Ngài và sợ hoảng. nhưng Ngài liền nói
chuyện với môn đồ và phán rằng: Hãy yên lòng, ta đây đừng sợ chi.
51.
Ngài bèn bước lên thuyền với môn đồ, thì gió lặng. Môn đồ càng lấy làm lạ
hơn nữa;
52. vì chẳng hiểu phép lạ về mấy cái bánh, bởi lòng cứng
cỏi.
53. Khi Ngài và môn đồ đã qua khỏi biển, đến xứ Ghê-nê-xa-rết, thì
ghé thuyền vào bờ.
54. Vừa ở trong thuyền bước ra, có dân chúng nhận
biết Ngài,
55. chạy khắp cả miền đó, khiêng những người đau nằm trên
giường, hễ nghe Ngài ở đâu thì đem đến đó.
56. Ngài đến nơi nào, hoặc
làng, thành, hay chốn nhà quê, người ta đem người đau để tại các chợ, và
xin Ngài cho mình ít nữa được rờ đến trôn áo Ngài; những kẻ đã rờ đều được
lành bịnh cả.
Mác 7
chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ các người Pha-ra-si và mấy thầy
thông giáo từ thành Giê-ru-sa-lem đến, nhóm lại cùng Ðức Chúa Jêsus,
2.
thấy một vài môn đồ Ngài dùng tay chưa tinh sạch mà ăn, nghĩa là không rửa
tay.
3. Vả, người Pha-ra-si và người Giu-đa thường giữ lời truyền khẩu
của người xưa, nếu không rửa tay cẩn thận thì không ăn;
4. khi họ ở chợ
về, nếu không rửa cũng không ăn. Họ lại còn theo lời truyền khẩu mà giữ
nhiều sự khác nữa, như rửa chén và bình bằng đất hoặc bằng đồng.
5.
Vậy, các người Pha-ra-si và các thầy thông giáo hỏi Ngài rằng: Sao môn đồ
thầy không giữ lời truyền khẩu của người xưa, dùng tay chưa tinh sạch mà
ăn như vậy?
6. Ngài đáp rằng: Hỡi kẻ giả hình, Ê-sai đã nói tiên tri về
việc các ngươi phải lắm, như có chép rằng: Dân nầy lấy môi miếng thờ kính
ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm.
7. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích,
Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.
8. Các
ngươi bỏ điều răn của Ðức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của loài
người!
9. Ngài cũng phán cùng họ rằng: Các ngươi bỏ hẳn điều răn của
Ðức Chúa Trời, đặng giữ theo lời truyền khẩu của mình.
10. Vì Môi-se có
nói: Hãy tôn kính cha mẹ ngươi; lại nói: Ai rủa sả cha mẹ, thì phải bị
giết.
11. Nhưng các ngươi nói rằng: Nếu ai nói với cha hay mẹ mình
rằng: Mọi điều tôi sẽ giúp cha mẹ được, thì đã là co-ban (nghĩa là sự dâng
cho Ðức Chúa Trời),
12. vậy người ấy không được phép giúp cha mẹ mình
sự gì nữa;
13. dường ấy, các ngươi lấy lời truyền khẩu mình lập ra mà
bỏ mất lời Ðức Chúa Trời. Các ngươi còn làm nhiều việc khác nữa giống như
vậy.
14. Bấy giờ, Ngài lại kêu đoàn dân mà phán rằng: Các ngươi ai nấy
hãy nghe ta và hiểu:
15. Chẳng sự gì từ ngoài vào trong cơ thể làm dơ
dáy người được; nhưng sự gì từ trong người ra, đó là sự làm dơ dáy
người.
16. Nếu ai có tai mà nghe, hãy nghe.
17. Khi Ngài vào trong
nhà, cách xa đoàn dân rồi, môn đồ hỏi Ngài về lời thí dụ ấy.
18. Ngài
phán rằng: Vậy chớ các ngươi cũng không có trí khôn sao? Chưa hiểu chẳng
có sự gì ở ngoài vào trong người mà làm dơ dáy người được sao?
19. Vả,
sự đó không vào lòng người, nhưng vào bụng, rồi bị bỏ ra nơi kín đáo, như
vậy làm cho mọi đồ ăn được sạch.
20. Vậy, Ngài phán: Hễ sự gì từ người
ra, đó là sự làm dơ dáy người!
21. Vì thật là tự trong, tự lòng người
mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người,
22. tà dâm,
tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu
ngạo, điên cuồng.
23. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì
làm cho dơ dáy người.
24. Ðoạn, Ngài từ đó đi đến bờ cõi thành Ty-rơ và
thành Si-đôn. Ngài vào một cái nhà, không muốn cho ai biết mình, song
không thể ẩn được.
25. Vì có một người đờn bà, con gái người bị tà ma
ám, đã nghe nói về Ngài, tức thì vào gieo mình dưới chơn Ngài.
26. Ðờn
bà ấy là người Gờ-réc, dân Sy-rô-phê-ni-xi. Người xin Ngài đuổi quỉ ra
khỏi con gái mình.
27. Ðức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hãy để con
cái ăn no nê trước đã; vì không lẽ lấy bánh của con cái quăng cho
chó.
28. Song người đáp lại rằng: Lạy Chúa, hẳn vậy rồi; nhưng mà chó
dưới bàn ăn mấy miếng bánh vụn của con cái.
29. Ngài bèn phán: Hãy đi,
vì lời ấy, quỉ đã ra khỏi con gái ngươi rồi.
30. Khi người trở về nhà,
thấy đứa trẻ nằm trên giường, và quỉ đã bị đuổi khỏi.
31. Ðức Chúa
Jêsus lìa bờ cõi thành Ty-rơ, qua thành Si-đôn và trải địa phận
Ðê-ca-bô-lơ, đến biển Ga-li-lê.
32. Người ta đem một người điếc và
ngọng đến cùng Ngài, xin Ngài đặt tay trên người.
33. Ngài đem riêng
người ra, cách xa đám đông, rồi để ngón tay vào lỗ tai người, và thấm nước
miếng xức lưỡi người.
34. Ðoạn Ngài ngửa mặt lên trời, thở ra mà phán
cùng người rằng: Ép-pha-ta! nghĩa là: Hãy mở ra!
35. Tức thì tai được
mở ra, lưỡi được thong thả, người nói rõ ràng.
36. Ðức Chúa Jêsus cấm
chúng chớ nói điều đó cùng ai; song Ngài càng cấm người ta lại càng nói
đến nữa.
37. Chúng lại lấy làm lạ quá đỗi mà rằng: Ngài làm mọi việc
được tốt lành: khiến kẻ điếc nghe, kẻ câm nói vậy!
Mác 8
chọn
đoạn khác
1. Những ngày đó, lại có một đoàn dân đông theo Ðức Chúa
Jêsus. Vì chúng không có chi ăn, nên Ngài kêu các môn đồ mà phán
rằng:
2. Ta thương xót đoàn dân nầy: vì đã ba ngày nay, không rời bỏ
ta, và chẳng có chi ăn.
3. Nếu ta truyền cho nhịn đói trở về nơi họ ở,
dọc đàng chắc sẽ kém sức, vì có mấy người đã đến từ nơi xa.
4. Môn đồ
thưa rằng: Có thể kiếm bánh đâu được trong đồng vắng nầy cho chúng ăn no
ư?
5. Ngài nói: Các ngươi có bao nhiêu bánh? Thưa: Có bảy cái.
6.
Ngài bèn biểu đoàn dân ngồi xuống đất; đoạn lấy bảy cái bánh, tạ ơn, rồi
bẻ ra trao cho môn đồ để phân phát cho đoàn dân.
7. Môn đồ cũng có mấy
con cá nhỏ; Ðức Chúa Jêsus tạ ơn rồi, cũng khiến đem phân phát như
vậy.
8. Ai nấy ăn no nê; rồi người ta thâu được bảy giỏ những miếng
thừa.
9. Và, những người ăn đó ước chừng bốn ngàn người. Ðức Chúa Jêsus
cho chúng về;
10. rồi liền vào thuyền với môn đồ, sang xứ
Ða-ma-nu-tha.
11. Có mấy người Pha-ra-si đến đó, cãi lẽ với Ngài, muốn
thử Ngài, thì xin một dấu lạ từ trên trời.
12. Ðức Chúa Jêsus than thở
trong lòng mà rằng: Làm sao dòng dõi nầy xin dấu lạ? Quả thật, ta nói cùng
các ngươi, họ chẳng được ban cho một dấu lạ nào.
13. Ngài bèn bỏ họ,
trở vào thuyền mà qua bờ bên kia.
14. Vả, môn đồ quên đem bánh theo,
trong thuyền chỉ có một cái bánh mà thôi.
15. Ngài răn môn đồ rằng: Hãy
giữ mình cẩn thận về men người Pha-ra-si, và men đãng Hê-rốt.
16.
Môn-đồ nói cùng nhau rằng: Ấy là vì chúng ta không có bánh.
17. Nhưng
Ðức Chúa Jêsus biết điều đó, thì phán rằng: Sao các ngươi nói cùng nhau
rằng đó là tại các ngươi không có bánh? Chớ các ngươi còn chưa nghe, chưa
hiểu sao? Các ngươi có lòng cứng cỏi luôn ư?
18. Các ngươi lại không
nhớ hay sao? Có tai mà sao không nghe? Các ngươi lại không nhớ hay
sao?
19. Khi ta bẻ năm cái bánh cho năm ngàn người, các ngươi thâu được
mấy giỏ đầy bánh vụn? Thưa: Mười hai giỏ.
20. Còn khi ta bẻ bảy cái
bánh cho bốn ngàn người, các ngươi thâu được bấy giỏ đầy bánh vụn? Thưa:
Bảy giỏ.
21. Ngài phán: Các ngươi còn chưa hiểu sao?
22. Kế đó, Ðức
Chúa Jêsus và môn đồ đi đến làng Bết-sai-đa. Người ta đem cho Ngài một
người mù và cầu xin Ngài rờ đến người.
23. Ngài bèn nắm tay người mù,
dắt ra ngoài làng, thấm nước miếng trên mắt người, đặt tay trên người, và
hỏi, có thấy chi không?
24. Người mù ngó lên rồi thưa rằng: Tôi thấy
người ta, và nhìn họ giống như cây.
25. Rồi Ðức Chúa Jêsus lại đặt tay
trên mắt người; người nhìn xem, được sáng mắt thấy rõ ràng cả thảy.
26.
Ðức Chúa Jêsus khiến người về nhà, và truyền rằng: Ðừng trở vào trong
làng.
27. Ðức Chúa Jêsus đi khỏi đó với môn đồ mình, đến trong các làng
gần thành Sê-sa-rê phi-líp. Dọc đàng, Ngài hỏi môn đồ rằng: Người ta nói
ta là ai?
28. Thưa rằng: Kẻ thì nói là Giăng Báp-tít; người thì nói là
Ê-li; kẻ thì nói một trong các đấng tiên tri.
29. Ngài hỏi: Nhưng các
ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Ðấng Christ.
30.
Ðức Chúa Jêsus bèn cấm ngặt môn đồ chớ nói sự mình cùng ai hết.
31. Bấy
giờ, nước khởi sự dạy môn đồ rằng Con người phải chịu khổ nhiều, phải bị
các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo loại ra, phải
chịu giết, sau ba ngày phải sống lại.
32. Ngài nói tỏ tường điều đó với
môn đồ. Phi-e-rơ đem Ngài riêng ra, mà căn gián Ngài.
33. Nhưng Ðức
Chúa Jêsus xây lại ngó môn đồ, và quở Phi-e-rơ rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, hãy
lui ra đằng sau ta; vì người chẳng nghĩ đến việc Ðức Chúa Trời, song nghĩ
đến việc người ta.
34. Ðoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán
rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo
ta.
35. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo
Tin Lành mà mất sự sống thì sẽ cứu.
36. Người nào nếu được cả thiên hạ
mà mất linh hồn mình, thì có ích gì?
37. Hay là có người nào lấy chi mà
đổi linh hồn mình ư?
38. Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi nầy, hễ ai
hổ thẹn về ta và đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong
sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh.
Mác 9
chọn
đoạn khác
1. Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Quả thật, ta nói cùng các
ngươi, trong những người đứng đây, có mấy kẻ chẳng chết trước khi chưa
thấy nước Ðức Chúa Trời lấy quyền phép mà đến.
2. Khỏi sáu ngày, Ðức
Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng đi tẻ với Ngài lên núi cao; và
Ngài hóa hình trước mặt ba người.
3. Áo xống Ngài trở nên sáng rực và
trắng tinh chói lòa, đến nỗi chẳng có thợ phiếu nào ở thế gian phiếu được
trắng như vậy.
4. Ê-li và Môi-se hiện ra, nói chuyện cùng Ðức Chúa
Jêsus.
5. Phi-e-rơ bèn cất tiếng thưa cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Lạy
thầy, chúng ta ở đây tốt lắm; hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái
cho Môi-se, và một cái cho Ê-li.
6. Vì Phi-e-rơ không biết mình nói
chi, tại cả ba đều sợ hãi.
7. Lại có một đám mây bao phủ lấy; và từ đám
mây có tiếng phán rằng: Người nầy là Con rất yêu dấu của ta, hãy vâng nghe
người.
8. Thình lình, các môn đồ ngó quanh quất, chẳng thấy ai nữa, chỉ
còn một mình Ðức Chúa Jêsus ở với mình mà thôi.
9. Khi từ trên núi
xuống, Ngài cấm môn đồ đừng nói lại với ai những điều mình đã thấy, cho
đến chừng nào Con người từ kẻ chết sống lại.
10. Vậy, môn đồ ghi nhớ
lời ấy, và hỏi nhau sự từ kẻ chết sống lại là gì.
11. Lại hỏi nói Ngài
rằng: Sao các thầy thông giáo nói rằng: Ê-li phải đến trước?
12. Ngài
đáp rằng: Thật Ê-li phải đến trước sửa lại mọi việc. Vậy thì sao có chép
về Con người rằng Ngài phải chịu khổ nhiều và bị khinh dể ư?
13. Vả, ta
nói cùng các ngươi, Ê-li đã đến rồi, người ta đãi người theo ý muốn mình,
y như lời đã chép về việc người vậy.
14. Ðức Chúa Jêsus với ba người
đến cùng các môn đồ khác, thì thấy đoàn dân rất đông vây chung quanh, và
mấy thầy thông giáo đương cãi lẽ với các môn đồ ấy.
15. Cả đoàn dân nầy
vừa thấy Ngài, liền lấy làm lạ, thảy đều chạy đến chào Ngài.
16. Ngài
bèn hỏi rằng: Các ngươi cãi lẽ với môn đồ về việc gì?
17. Một người
trong đám đông thưa rằng: Lạy thầy, tôi đã đem con trai tôi tới cho thầy;
nó bị quỉ câm ám,
18. không cứ chỗ nào quỉ ám vào thì làm cho nổi kinh
phong, sôi bọt mồm, nghiến răng, rồi nó mòn mỏi đi; tôi đã xin môn đồ thầy
đuổi quỉ ấy, song đuổi không được.
19. Ðức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Hỡi
dòng dõi chẳng tin kia, ta sẽ ở cùng các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ
chịu các ngươi cho đến khi nào? Hãy đem con đến cho ta.
20. Chúng bèn
đem đứa trẻ cho Ngài. Ðứa trẻ vừa thấy Ðức Chúa Jêsus, tức thì ngã xuống
đất, rồi lăn lóc sôi bọt miếng ra.
21. Ðức Chúa Jêsus hỏi cha nó rằng:
Ðiều đó xảy đến cho nó đã bao lâu? Người cha thưa rằng: Từ khi nó còn
nhỏ.
22. Quỉ đã lắm phen quăng nó trong lửa và dưới nước, để giết nó
đi; nhưng nếu thầy làm được việc gì, xin thương xót chúng tôi và giúp
cho!
23. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Sao ngươi nói: Nếu thầy làm được? Kẻ
nào tin thì mọi việc đều được cả.
24. Tức thì cha đứa trẻ la lên rằng:
Tôi tin; xin Chúa giúp đỡ trong sự không tin của tôi!
25. Khi Ðức Chúa
Jêsus thấy dân chúng chạy đến đông, thì Ngài quở trách tà ma và phán cùng
nó rằng: Hỡi quỉ câm và điếc, ta biểu mầy phải ra khỏi đứa trẻ nầy, đừng
ám nó nữa.
26. Quỉ bèn la lớn tiếng lên, vật đứa trẻ mạnh lắm mà ra
khỏi; đứa trẻ trở như chết vậy, nên nỗi nhiều người nói rằng: Nó chết
rồi.
27. Nhưng Ðức Chúa Jêsus nắm tay nó, nâng lên; thì nó đứng
dậy.
28. Khi Ðức Chúa Jêsus vào nhà rồi, môn đồ hỏi riêng Ngài rằng:
Sao chúng tôi đuổi quỉ ấy không được?
29. Ngài đáp rằng: Nếu không cầu
nguyện, thì chẳng ai đuổi thứ quỉ ấy ra được.
30. Ðoạn, đi khỏi đó,
trải qua xứ Ga-li-lê, Ðức Chúa Jêsus không muốn cho ai biết.
31. Vì
Ngài dạy các môn đồ rằng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta, họ sẽ
giết đi; Ngài bị giết đã ba ngày rồi, thì sẽ sống lại.
32. Nhưng môn đồ
không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Ngài.
33. Ðến thành
Ca-bê-na-um, đang ở trong nhà, Ngài hỏi môn đồ rằng: Lúc đi đường, các
ngươi nói chi với nhau?
34. Môn đồ đều làm thinh; vì dọc đường đã cãi
nhau cho biết ai là lớn hơn trong bọn mình.
35. Ngài bèn ngồi, kêu mười
hai sứ đồ mà phán rằng: Nếu ai muốn làm đầu, thì phải làm rốt hết và làm
tôi tớ mọi người.
36. Ðoạn, Ngài bắt một đứa trẻ để ở giữa môn đồ; rồi
ẵm nó trong tay, mà phán rằng:
37. Hễ ai vì danh ta tiếp một đứa trong
những đứa trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, thì chẳng phải tiếp ta,
bèn là tiếp Ðấng đã sai ta vậy.
38. Giăng thưa cùng Ngài rằng: Lạy
thầy, chúng tôi từng thấy có người lấy danh thầy mà trừ quỉ, thì chúng tôi
đã cấm, vì họ không theo chúng ta.
39. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ðừng
cấm làm chi; vì chẳng ai cùng trong một lúc, vừa nhơn danh ta làm phép lạ,
vừa nói xấu ta được.
40. Hễ ai không nghịch cùng ta là thuộc về
ta.
41. Còn ai nhơn danh ta mà cho các ngươi một chén nước, vì các
ngươi thuộc về Ðấng Christ, quả thật, ta nói cùng các ngươi, người ấy sẽ
không mất phần thưởng mình đâu.
42. Nhưng hễ ai làm cho một đứa trong
những đứa nhỏ nầy đã tin, phải sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá lớn vào
cổ nó mà bỏ xuống biển còn hơn.
43. Nếu tay ngươi làm cho ngươi phạm
tội, hãy chặt nó đi; thà rằng một tay mà vào sự sống, còn hơn đủ hai tay
mà sa xuống địa ngục, trong lửa chẳng hề tắt.
44. Ðó là nơi sâu bọ của
chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt.
45. Lại nếu chơn
ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng què chơn mà vào sự
sống, còn hơn là đủ hai chơn mà bị quăng vào địa ngục.
46. Ðó là nơi
sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết, và là nơi lửa chẳng hề tắt.
47. Còn
nếu mắt ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy móc nó đi; thà rằng chỉ một mắt
mà vào nước Ðức Chúa Trời, còn hơn đủ hai mắt mà bị quăng vào địa
ngục,
48. đó là nơi sâu bọ của chúng nó chẳng hề chết và là nơi lửa
chẳng hề tắt.
49. Vì mỗi người sẽ bị muối bằng lửa.
50. Muối là vật
tốt, nhưng nếu mất mặn đi, thì lấy chi làm cho mặn lại được?
51. Các
ngươi phải có muối trong lòng mình, lại phải hòa thuận cùng
nhau.
Mác 10
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus từ đó mà đi, qua bờ cõi
xứ Giu-đê, bên kia sông Giô-đanh. Ðoàn dân đông lại nhóm họp cùng Ngài,
Ngài dạy dỗ chúng y như lệ thường.
2. Các người Pha-ra-si bèn đến gần
hỏi để thử Ngài rằng: Người nam có phép để vợ mình chăng?
3. Ngài trả
lời rằng: Vậy chớ Môi-se dạy các ngươi điều chi?
4. Họ thưa rằng:
Môi-se có cho phép viết tờ để và cho phép để vợ.
5. Ðức Chúa Jêsus phán
rằng: Ấy vì cớ lòng các ngươi cứng cõi, nên người đã truyền mạng nầy
cho.
6. Nhưng từ lúc đầu sáng thế, Ðức Chúa Trời làm ra một người nam
và một người nữ.
7. Vì cớ đó, người nam lìa cha mẹ mình mà dính díu với
vợ;
8. và hai người cùng nên một thịt mà thôi. Như thế, vợ chồng chẳng
phải mà hai nữa, mà chỉ một thịt.
9. Vậy, người ta không nên phân rẽ
những kẻ mà Ðức Chúa Trời đã phối hiệp.
10. Khi ở trong nhà, môn đồ lại
hỏi Ngài về việc ấy;
11. Ngài phán rằng: Ai để vợ mình mà cưới vợ khác,
thì phạm tội tà dâm với người;
12. còn nếu người đờn bà bỏ chồng mình
mà lấy chồng khác, thì cũng phạm tội tà dâm.
13. Người ta đem những con
trẻ đến cùng Ngài, đặng Ngài rờ chúng nó; nhưng môn đồ trách những kẻ đem
đến.
14. Ðức Chúa Jêsus thấy vậy, bèn giận mà phán cùng môn đồ rằng:
Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó; vì nước Ðức Chúa Trời thuộc
về những kẻ giống như con trẻ ấy.
15. Quả thật, ta nói cùng các ngươi,
ai chẳng nhận lấy nước Ðức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì chẳng được vào
đó bao giờ.
16. Ngài lại bồng những đứa trẻ ấy, đặt tay trên chúng nó
mà chúc phước cho.
17. Ngài đang ra đi, có một người chạy lại, quì
trước mặt Ngài, mà hỏi rằng: Thưa thầy nhơn lành, tôi phải làm chi cho
được hưởng sự sống đời đời?
18. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Sao ngươi gọi
ta là nhơn lành? Chỉ có một Ðấng nhơn lành, là Ðức Chúa Trời.
19. Ngươi
biết các điều răn: Ðừng phạm tội tà dâm; đừng giết người; đừng trộm cướp;
đừng làm chứng dối; đừng làm gian; hãy hiếu kính cha mẹ.
20. Người thưa
rằng: Lạy thầy, tôi đã giữ mọi điều đó từ khi còn nhỏ.
21. Ðức Chúa
Jêsus ngó người mà yêu, nên phán rằng: Nhưng ngươi còn thiếu một điều. Hãy
đi, bán hết gia tài mình, đem thí cho kẻ nghèo khổ, chắc sẽ được của báu ở
trên trời, rồi hãy đến mà theo ta.
22. Song nét mặt người nầy rầu rĩ về
lời đó, đi ra rất buồn bã, vì có nhiều của lắm.
23. Bấy giờ Ðức Chúa
Jêsus ngó xung quanh mình, mà phán cùng môn đồ rằng: Kẻ giàu vào nước Ðức
Chúa Trời khó là dường nào!
24. Môn đồ lấy mấy lời đó làm lạ. Nhưng Ðức
Chúa Jêsus lại phán rằng: Hỡi các con, những kẻ cậy sự giàu có vào nước
Ðức Chúa Trời khó là dường nào!
25. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ
hơn người giàu vào nước Ðức Chúa Trời.
26. Môn đồ lại càng lấy làm lạ,
nói cùng nhau rằng: Vậy thì ai được cứu?
27. Ðức Chúa Jêsus ngó môn đồ
mà rằng: Sự đó loài người không thể làm được, nhưng Ðức Chúa Trời thì
chẳng thế; vì Ðức Chúa Trời làm mọi sự được cả.
28. Phi-e-rơ liền thưa
cùng Ngài rằng: Nầy, chúng tôi đã bỏ hết mà đi theo thầy.
29. Ðức Chúa
Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi chẳng một người nào vì ta
và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất
ruộng,
30. mà chẳng lãnh được đương bây giờ, trong đời nầy, trăm lần
hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và
sự sống đời đời trong đời sau.
31. Nhưng có nhiều kẻ đầu sẽ nên rốt; có
kẻ rốt sẽ nên đầu.
32. Ðức Chúa Trời và môn đồ đương đi đường lên thành
Giê-ru-sa-lem, Ngài thì đi trước; các môn đồ thất kinh, và những người đi
theo đều sợ hãi. Ngài lại kèm mười hai sứ đồ đi cùng mình mà phán về những
việc phải xảy đến cho mình, rằng:
33. Nầy, chúng ta lên thành
Giê-ru-sa-lem, Con người sẽ bị nộp cho các thầy tế lễ cả cùng các thầy
thông giáo; họ sẽ định Ngài phải bị tử hình và giao Ngài cho dân
ngoại.
34. Người ta sẽ nhạo báng Ngài, nhổ trên Ngài, đánh đập Ngài mà
giết đi; sau ba ngày, Ngài sẽ sống lại.
35. Bấy giờ, Gia-cơ và Giăng,
hai con trai Xê-bê-đê, đến gần Ngài mà thưa rằng: Lạy thầy, chúng tôi muốn
thầy làm thành điều chúng tôi sẽ xin.
36. Ngài hỏi rằng: Các ngươi muốn
ta làm chi cho?
37. Thưa rằng: Khi thầy được vinh hiển, xin cho chúng
tôi một đứa ngồi bên hữu, một đứa bên tả.
38. Nhưng Ðức Chúa Trời phán
rằng: Các ngươi không biết điều mình xin. Các ngươi có uống được chén ta
uống, và chịu được phép báp-tem ta chịu chăng?
39. Thưa rằng: Ðược. Ðức
Chúa Jêsus phán rằng: Các ngươi sẽ uống chén ta uống, và sẽ chịu phép
báp-tem ta chịu;
40. nhưng chí như ngồi bên hữu và bên tả ta thì không
phải tự ta cho được: ấy là thuộc về người nào mà điều đó đã dành
cho.
41. Mười sứ đồ kia nghe sự xin đó, thì giận Gia-cơ và
Giăng.
42. Nhưng Ðức Chúa Jêsus gọi họ mà phán rằng: Các ngươi biết
những người được tôn làm đầu cai trị các dân ngoại, thì bắt dân phải phục
mình, còn các quan lớn thì lấy quyền thế trị dân.
43. Song trong các
ngươi không như vậy; trái lại hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ
làm đầy tớ;
44. còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi
mọi người.
45. Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc
mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho
nhiều người.
46. Kế đó, Ðức Chúa Jêsus và môn đồ đến thành Giê-ri-cô.
Ngài và môn đồ cùng một đoàn dân đông đang từ đó lại đi, thì có một người
ăn mày mù tên là Ba-ti-mê, con trai của Ti-mê, ngồi bên đường.
47. Vì
đã nghe nói ấy là Ðức Chúa Jêsus, người Na-xa-rét, người vùng la lên mà
rằng: Hỡi Ðức Chúa Jêsus, con vua Ða-vít, xin thương tôi cùng!
48. Có
nhiều kẻ rầy người, biểu nín đi; song người lại kêu lớn hơn nữa rằng: Hỡi
con vua Ða-vít, xin thương tôi cùng!
49. Ðức Chúa Jêsus dừng lại, phán
rằng: Hãy kêu người đến. Chúng kêu người mù đến, mà nói rằng: Hãy vững
lòng, đứng dậy, Ngài gọi ngươi.
50. Người mù bỏ áo ngoài, bước tới đến
cùng Ðức Chúa Jêsus.
51. Ðức Chúa Jêsus bèn cất tiếng phán rằng: Ngươi
muốn ta làm chi cho ngươi? Người mù thưa rằng: Lạy thầy, xin cho tôi được
sáng mắt.
52. Ðức Chúa Jêsus phán: Ði đi, đức tin ngươi đã chữa lành
ngươi rồi.
53. Tức thì người mù được sáng mắt, và đi theo Ðức Chúa
Jêsus trên đường.
Mác
11 chọn
đoạn khác
1. Khi tới gần thành Giê-ru-sa-lem, bên
làng Bê-pha-giê và làng Bê-tha-ni, ngang núi ô-li-ve, Ðức Chúa Jêsus sai
hai môn đồ đi,
2. và phán rằng: Hãy đi đến làng ngay trước mặt các
ngươi; vừa khi vào đó, thấy một con lừa con đương buộc, chưa có ai cỡi;
hãy mở nó ra, dắt về cho ta.
3. Hoặc có ai hỏi các ngươi rằng: Vì sao
làm điều đó? hãy đáp lại: Chúa cần dùng nó, tức thì họ sẽ cho dắt lừa về
đây.
4. Hai người đi, thì thấy lừa con đương buộc ở ngoài trước cửa,
chỗ đường quẹo, bèn mở ra.
5. Có mấy kẻ trong những người ở đó hỏi
rằng: Các ngươi mở lừa con đó làm chi?
6. Hai người trả lời theo Ðức
Chúa Jêsus đã dặn; thì họ để cho đi.
7. Hai người dắt lừa con về cho
Ðức Chúa Jêsus, lấy áo mình trải trên nó; rồi Ngài cỡi lên.
8. Nhiều
người trải áo mình trên đàng; lại có kẻ rải nhánh cây chặt trong đồng
ruộng.
9. Người đi trước kẻ theo sau đều la lên rằng: Hô-sa-na! Ðáng
khen ngợi cho Ðấng nhơn danh Chúa mà đến!
10. Phước cho nước đến, là
nước vua Ða-vít, tổ phụ chúng ta! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!
11. Ðức
Chúa Jêsus vào thành Giê-ru-sa-lem, đến nơi đền thờ; đoạn, liếc mắt xem
mọi sự chung quanh, thì trời đã tối, Ngài bèn ra, đặng đi tới làng
Bê-tha-ni với mười hai sứ đồ.
12. Sáng ngày, khi đã lìa làng Bê-tha-ni
rồi, thì Ngài đói.
13. Vừa thấy đàng xa một cây vả có lá, Ngài đến đó
xem hoặc có chi chăng; song, tới gần rồi, chỉ thấy có lá mà thôi, vì bấy
giờ không phải mùa vả.
14. Ngài bèn cất tiếng phán cùng cây vả rằng:
Chẳng hề có ai ăn trái của mầy nữa! Các môn đồ đều nghe lời ấy.
15.
Ðoạn, đến thành Giê-ru-sa-lem; Ðức Chúa Jêsus vào đền thờ, đuổi những kẻ
buôn bán ở đó, lại lật đổ bàn những người đổi bạc, và ghế những kẻ bán bò
câu.
16. Ngài cấm không cho ai được đem đồ gì đi ngang qua đền
thờ.
17. Rồi Ngài dạy dỗ chúng mà rằng: há chẳng có lời chép: Nhà ta sẽ
gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân hay sao? Nhưng các ngươi đã làm thành
cái hang trộm cướp.
18. Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo nghe
mấy lời, bèn kiếm cách diệt Ngài; vì họ sợ Ngài, tại cả đoàn dân cảm động
sự dạy dỗ của Ngài lắm.
19. Ðến chiều, Ngài và môn đồ ra khỏi
thành.
20. Sáng hôm sau, khi đi ngang qua, thấy cây vả đã khô cho tới
rễ;
21. bấy giờ Phi-e-rơ nhớ lại chuyện đã qua, thưa cùng Ngài rằng:
Thầy, coi kìa! Cây vả thầy đã rủa nay khô đi rồi.
22. Ðức Chúa Jêsus
cất tiếng phán rằng: Hãy có đức tin đến Ðức Chúa Trời.
23. Quả thật, ta
nói cùng các ngươi, ai sẽ biểu hòn núi nầy rằng: Phải cất mình lên, và
quăng xuống biển, nếu người chẳng nghi ngại trong lòng, nhưng tin chắc lời
mình nói sẽ ứng nghiệm, thì điều đó sẽ thành cho.
24. Bởi vậy ta nói
cùng các ngươi: Mọi điều các ngươi xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin đã
được, tất điều đó sẽ ban cho các ngươi.
25. Khi các ngươi đứng cầu
nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở
trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi.
26. Song nếu không tha lỗi cho
người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các
ngươi.
27. Chúa và môn đồ trở lại thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đang đi dạo
trong đền thờ, thì các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng
lão tới gần Ngài,
28. mà hỏi rằng: Thầy lấy quyền phép nào làm những
điều nầy, hoặc ai đã cho thầy quyền phép làm những điều ấy?
29. Ðức
Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng hỏi các ngươi một câu; hãy trả lời cho ta,
thì ta sẽ nói cho các ngươi biết ta làm những điều đó bởi quyền phép
nào.
30. Phép báp-tem của Giăng đến bởi trên trời hay là bởi người ta?
Hãy trả lời cho ta đi.
31. Vả, họ bàn với nhau như vầy: Nếu chúng ta
nói: Bởi trên trời, thì người sẽ nói rằng: Vậy, sao các ngươi không tin
lời Giăng?
32. Bằng chúng ta nói trái lại: Bởi người ta? Họ sợ dân
chúng, vì ai nấy đều tin Giăng thật là Ðấng tiên tri.
33. Nên họ thưa
lại cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Chúng tôi không biết. Ðức Chúa Jêsus bèn
phán cùng họ rằng: Ta cũng không nói cho các ngươi biết ta nhờ quyền phép
nào mà làm những điều nầy.
Mác 12 chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus khởi
phán thí dụ cùng họ rằng: Một người kia trồng vườn nho, rào chung quanh, ở
trong đào một cái hầm ép rượu, và dựng một cái tháp; đoạn cho mấy người
làm nghề trồng nho thuê, mà lìa bổn xứ.
2. Tới mùa, chủ vườn sai một
đầy tớ đến cùng bọn trồng nho, đặng thâu lấy phần hoa lợi vườn nho nơi tay
họ.
3. Nhưng họ bắt đầy tớ mà đánh rồi đuổi về tay không.
4. Người
sai một đầy tớ khác đến; nhưng họ đánh đầu nó và chưởi rủa nữa.
5.
Người còn sai đứa khác đến, thì họ giết đi; lại sai nhiều đứa khác nữa,
đứa thì bị họ đánh, đứa thì bị họ giết.
6. Chủ vườn còn đứa con trai
một rất yêu dấu, bèn sai đi lần cuối cùng mà nói rằng: Chúng nó sẽ kính vì
con ta!
7. Nhưng bọn trồng nho đó bàn với nhau rằng: Thằng nầy là con
kế tự; hè, ta hãy giết nó, thì phần gia tài nó sẽ về chúng ta.
8. Họ
bắt con trai ấy giết đi, ném ra ngoài vườn nho.
9. Vậy thì chủ vườn nho
sẽ làm thế nào? Người sẽ đến giết bọn trồng nho đó, rồi lấy vườn nho lại
mà cho người khác.
10. Các người há chưa đọc lời Kinh Thánh nầy: Hòn đá
bị thợ xây nhà bỏ ra, Ðã trở nên đá góc nhà;
11. Ấy là công việc của
Chúa, Và là việc rất lạ trước mắt chúng ta, hay sao?
12. Những người đó
bèn tìm cách bắt Ngài, vì biết rõ rằng Ngài phán thí dụ ấy chỉ về mình;
song sợ dân chúng, nên bỏ Ngài mà đi.
13. Kế đó, họ sai mấy người thuộc
về phe Pha-ra-si và đảng Hê-rốt đến, để bắt lỗi Ngài trong lời nói.
14.
Vậy, mấy người ấy đến, thưa Ngài rằng: Lạy thầy, chúng tôi biết thầy là
người thật, không lo sợ gì ai; vì thầy không xem bề ngoài người ta, nhưng
dạy đạo Ðức Chúa Trời theo mọi lẽ thật. Có nên nộp thuế cho Sê-sa hay
không? Chúng tôi phải nộp hay là không nộp?
15. Nhưng Ngài biết sự giả
hình của họ thì phán rằng: Các ngươi thử ta làm chi? Hãy đem cho ta xem
một đồng đơ-ni-ê.
16. Họ đem cho Ngài một đồng, Ngài bèn phán rằng:
Hình và hiệu nầy của ai? Họ trả lời rằng: Của Sê-sa.
17. Ðức Chúa Jêsus
phán rằng: Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Ðức
Chúa Trời hãy trả lại cho Ðức Chúa Trời. Họ đều lấy làm lạ về Ngài.
18.
Các người Sa-đu-sê, là những kẻ vẫn nói rằng không có sự sống lại, đến gần
mà hỏi Ngài rằng:
19. Thưa thầy, Môi-se đã ban cho chúng tôi luật nầy:
Nếu một người kia có anh em qua đời, để vợ lại, không con, thì người kia
phải lấy vợ góa đó đặng nối dòng dõi cho anh em mình.
20. Vả, có bảy
anh em. Người thứ nhứt cưới vợ, rồi chết, không có con.
21. Người thứ
hai lấy vợ góa ấy, sau chết, cũng không có con; rồi đến người thứ ba cũng
vậy.
22. Trong bảy người, chẳng ai để con lại. Sau hết, người đờn bà
cũng chết.
23. Lúc sống lại, đờn bà đó là vợ ai trong bảy anh em? vì
hết thảy đều đã lấy người làm vợ.
24. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Há chẳng
phải các ngươi lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng không hiểu quyền phép
Ðức Chúa Trời sao?
25. Vì đến lúc người ta từ kẻ chết sống lại, thì
chẳng cưới vợ, chẳng lấy chồng; nhưng các người sống lại đó ở như thiên sứ
trên trời vậy.
26. Còn về những người chết được sống lại, thì trong
sách Môi-se có chép lời Ðức Chúa Trời phán cùng người trong bụi gai rằng:
Ta là Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Y-sác, Ðức Chúa Trời
của Gia-cốp, các ngươi há chưa đọc đến sao?
27. Ngài chẳng phải là Ðức
Chúa Trời của kẻ chết, mà là của kẻ sống! Thật các ngươi lầm to.
28.
Bấy giờ, có một thầy thông giáo nghe Chúa và người Sa-đu-sê biện luận với
nhau, biết Ðức Chúa Jêsus đã khéo đáp, bèn đến gần hỏi Ngài rằng: Trong
các điều răn, điều nào là đầu hết?
29. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Nầy là
điều đầu nhứt: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe, Chúa, Ðức Chúa Trời chúng ta, là
Chúa có một.
30. Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết
sức mà kính mến Chúa là Ðức Chúa Trời ngươi.
31. Nầy là điều thứ hai:
Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều
đó.
32. Thầy thông giáo trả lời rằng: Thưa thầy, thầy nói phải, hiệp lý
lắm, thật Ðức Chúa Trời là có một, ngoài Ngài chẳng có Chúa nào khác
nữa;
33. thật phải kính mến Chúa hết lòng, hết trí, hết sức và yêu kẻ
lân cận như mình, ấy là hơn mọi của lễ thiêu cùng hết thảy các của
lễ.
34. Ðức Chúa Jêsus thấy người trả lời như người khôn, thì phán
rằng: Ngươi chẳng cách xa nước Ðức Chúa Trời đâu. Rồi không ai dám hỏi
Ngài nữa.
35. Ðức Chúa Jêsus đương dạy dỗ trong đền thờ, bèn cất tiếng
phán những lời nầy: Sao các thầy thông giáo Ðấng Christ là con
Ða-vít?
36. Chính Ða-vít đã cảm Ðức Thánh Linh mà nói rằng: Chúa phán
cùng Chúa tôi; Hãy ngồi bên hữu ta, Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch
ngươi làm bệ dưới chơn ngươi.
37. Vì chính Ða-vít xưng Ngài bằng Chúa,
thì lẽ nào Ngài là con vua ấy? Ðoàn dân đông vui lòng mà nghe Ngài.
38.
Trong lúc dạy dỗ, Ngài lại phán rằng: Hãy giữ mình về các thầy thông giáo,
là kẻ ưa mặc áo dài đi chơi, thích người ta chào mình giữa chợ
39. muốn
ngôi cao nhứt trong các nhà hội cùng trong các đám tiệc,
40. nuốt các
nhà đờn bà góa, mà làm bộ đọc lời cầu nguyện dài. Họ sẽ bị phạt càng nặng
hơn nữa.
41. Ðức Chúa Jêsus ngồi đối ngang cái rương đựng tiền dâng,
coi dân chúng bỏ tiền vào thể nào.
42. Có lắm người giàu bỏ nhiều tiền;
cũng có một mụ góa nghèo kia đến bỏ hai đồng tiền ăn một phần tư
xu.
43. Ngài bèn kêu môn đồ mà phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các
ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ tiền vào rương nhiều hơn hết thảy những
người đã bỏ vào.
44. Vì mọi kẻ khác lấy của dư mình bỏ vào, còn mụ nầy
nghèo cực lắm, đã bỏ hết của mình có, là hết của có để nuôi
mình.
Mác 13
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus vừa ra khỏi đền thờ, có
một người môn đồ thưa cùng Ngài rằng: Thưa thầy, hãy xem đá và các nhà nầy
là dường nào!
2. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi thấy các nhà lớn nầy ư?
Rồi ra sẽ không còn một hòn đá sót lại trên một hòn khác nữa; cả thảy đều
đổ xuống.
3. Ngài đương ngồi trên núi ô-li-ve, đối ngang đền thờ, thì
Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng và Anh-rê hỏi riêng Ngài rằng:
4. Xin thầy nói
cho chúng tôi biết lúc nào các điều đó xảy đến, và có điềm chi cho người
ta biết các sự đó sẽ hoàn thành?
5. Ðức Chúa Jêsus khởi phán rằng: Hãy
giữ mình kẻo có ai lừa dối các ngươi chăng.
6. Có nhiều kẻ sẽ lấy danh
ta mà đến, xưng rằng: Chính ta là Ðấng Christ! Họ sẽ dỗ dành nhiều
người.
7. Khi các ngươi nghe nói về giặc và nghe tiếng đồn về giặc, thì
đừng bối rối: những sự ấy phải xảy đến; nhưng chưa là cuối cùng.
8. Vì
dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia;
cũng sẽ có động đất nhiều nơi, và đói kém. Ðó chỉ là đầu sự khốn khổ mà
thôi.
9. Còn các ngươi, phải giữ mình; họ sẽ nộp các ngươi trước tòa
án; các ngươi sẽ bị đánh trong các nhà hội, và vì cớ ta, sẽ đứng trước mặt
các quan tổng đốc và các vua, để làm chứng trước mặt họ.
10. Nhưng
trước hết Tin Lành phải được giảng ra cho khắp muôn dân đã.
11. Vả, khi
họ điệu các ngươi đi nộp, chớ có ngại trước về điều mình sẽ nói, nhưng đến
giờ đó, hãy nói theo lời sẽ ban cho; vì ấy không phải các ngươi nói, bèn
là Ðức Thánh Linh vậy.
12. Bấy giờ, anh sẽ nộp em cho phải chết, cha sẽ
nộp con; con cái sẽ dấy lên nghịch cùng cha mẹ mình mà làm cho phải
chết.
13. Các ngươi sẽ bị mọi người ghen ghét vì danh ta; song ai cứ
bền lòng đến cuối cùng, người ấy sẽ được cứu.
14. Khi các ngươi sẽ xem
thấy sự tàn nát gớm ghiếc lập ra nơi không nên lập (ai đọc phải để ý), bấy
giờ những kẻ ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;
15. ai ở trên mái nhà
chớ xuống, và chớ vào trong nhà mà chuyên bất luận vật gì;
16. ai ở
ngoài đồng chớ trở về lấy áo xống mình.
17. Trong những ngày đó, khốn
cho đờn bà có thai cùng đờn bà cho con bú!
18. Hãy cầu nguyện cho điều
đó chớ xảy ra lúc mùa đông.
19. Vì trong những ngày ấy có tại nạn, đến
nỗi từ ban đầu Ðức Chúa Trời dựng nên trời đất cho đến bây giờ chưa hề có
như vậy, và về sau cũng sẽ chẳng hề có nữa.
20. Nếu Chúa chẳng giảm bớt
các ngày ấy, thì không có sanh vật nào được cứu; song vì cớ những kẻ Ngài
đã chọn, nên Ngài đã giảm bớt các ngày ấy.
21. Khi ấy, dầu có ai bảo
các ngươi rằng: Kìa, Ðấng Christ ở đây, hay là Ngài ở đó, thì chớ
tin.
22. Những christ giả, tiên tri giả sẽ nổi lên, làm những dấu lạ
phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng dỗ dành chính những người được
chọn.
23. Hãy giữ lấy, ta đã nói trước cho các ngươi cả.
24. Trong
những ngày ấy, sau kỳ tại nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng chẳng chiếu
sáng nữa,
25. các ngôi sao sẽ tự trên trời rớt xuống, và thế lực các
từng trời sẽ rúng động.
26. Bấy giờ người ta sẽ thấy Con người lấy đại
quyền đại vinh ngự đến trên đám mây;
27. Ngài sẽ sai các thiên sứ đặng
nhóm những kẻ được chọn ở bốn phương, từ đầu cùng đất cho đến đầu cùng
trời.
28. Hãy nghe lời thí dụ về cây vả. Vừa khi nhánh nó trở nên non
và nứt lộc, thì biết mùa hạ gần tới.
29. Cũng một lẽ ấy, khi các ngươi
thấy các điều đó xảy đến, hãy biết Con người đã tới gần, ở nơi cửa.
30.
Quả thật, ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự
kia xảy tới.
31. Trời đất sẽ qua đi, song lời ta không bao giờ qua
đâu.
32. về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên
trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa; song chỉ Cha mà thôi.
33. Hãy giữ
mình, tỉnh thức; vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào.
34. Ấy cũng
như một người kia đi đường xa, bỏ nhà, giao cho đầy tớ mỗi đứa cai quản
một việc, và cũng biểu đứa canh cửa thức canh.
35. Vậy, các ngươi hãy
thức canh, vì không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc
gà gáy, hay là sớm mai,
36. e cho người về thình lình, gặp các ngươi
ngủ chăng.
37. Ðiều mà ta nói cùng các ngươi, ta cũng nói cho mọi
người: Hãy tỉnh thức!
Mác 14 chọn
đoạn khác
1. Hai ngày trước lễ
Vượt Qua và lễ ăn bánh không men, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông
giáo tìm mưu đặng bắt Ðức Chúa Jêsus và giết đi.
2. Vì họ nói rằng:
Chẳng nên làm việc nầy trong này lễ, sợ sanh sự xôn xao trong dân
chúng.
3. Ðức Chúa Jêsus ở tại làng Bê-tha-ni, trong nhà Si-môn là kẻ
phung. Ngài đương ngồi bàn ăn, có một người đờn bà vào, đem một cái bình
bằng ngọc, đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá, đập bể ra mà đổ dầu
thơm trên đầu Ðức Chúa Jêsus.
4. Có vài người nổi giận nói cùng nhau
rằng: Sao xài phí dầu thơm ấy như vậy?
5. Vì có thể bán dầu đó được hơn
ba trăm đơ-ni-ê, mà bố thí cho kẻ khó khăn. Vậy, họ oán trách người.
6.
Nhưng Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để mặc người; sao các ngươi làm rầy
người mà chi? Người đã làm một việc tốt cho ta.
7. Vì các ngươi hằng có
kẻ khó khăn ở cùng mình, khi nào muốn làm phước cho họ cũng được; nhưng
các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu.
8. Người đã làm điều mình có thể
làm được, đã xức xác cho ta trước để chôn.
9. Quả thật, ta nói cùng các
ngươi, trong khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy được giảng ra, việc
người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người.
10. Bấy giờ,
Giu-đa Ích-ca-ri-ốt là một trong mười hai sứ đồ, đến nơi các thầy tế lễ
cả, để nộp Ðức Chúa Jêsus cho.
11. họ vui lòng mà nghe và hứa cho nó
tiền bạc; rồi Giu-đa tìm dịp tiện để nộp Ngài.
12. Ngày thứ nhứt về lễ
ăn bánh không men, là ngày giết chiên con làm lễ Vượt Qua, các môn đồ thưa
cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Thầy muốn chúng tôi đi dọn cho thầy ăn lễ Vượt
Qua tại đâu?
13. Ngài sai hai môn đồ đi, và dặn rằng: Hãy vào thành, sẽ
gặp một người xách vò nước; cứ theo sau,
14. hễ người vào nhà nào, các
ngươi sẽ nói cùng chủ nhà ấy rằng: Thầy phán: Cái phòng ta sẽ dùng ăn lễ
Vượt Qua với môn đồ ta ở đâu?
15. Chính kẻ đó sẽ chỉ cho các ngươi một
cái phòng lớn trên lầu có đồ đạc sẵn sàng, hãy dọn tại đó cho chúng
ta.
16. Vậy, hai môn đồ đi ra mà vào thành, gặp mọi điều như lời Ngài
đã phán, rồi dọn lễ Vượt Qua.
17. Buổi chiều, Ngài đến với mười hai sứ
đồ.
18. Ðang ngồi ăn, Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng
các ngươi, trong vòng các ngươi có một kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản
ta.
19. Các môn đồ bèn buồn rầu lắm, cứ lần lượt mà thưa cùng Ngài
rằng: Có phải tôi chăng?
20. Ngài đáp rằng: Ấy là một trong mười hai
người, là người thò tay vào mâm cùng ta.
21. Vì Con người đi, y như lời
đã chép về Ngài; song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì
hơn.
22. Khi đang ăn, Ðức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn, đoạn bẻ ra trao
cho các môn đồ, mà phán rằng: Hãy lấy, nầy là thân thể ta.
23. Ngài lại
cầm chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và ai nấy đều uống.
24. Ngài
phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều
người.
25. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không uống trái nho nầy
nữa, cho đến ngày ta sẽ uống trái nho mới trong nước Ðức Chúa Trời.
26.
Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn đồ đi ra đặng lên núi
ô-li-ve.
27. Ðức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hết thảy các ngươi
sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy
chiên sẽ tan lạc.
28. Nhưng khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ
Ga-li-lê trước các ngươi.
29. Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu nói người vấp
phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.
30. Ðức Chúa Jêsus đáp
rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi
gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.
31. Nhưng Phi-e-rơ lại thưa
cách quả quyết hơn rằng: Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối
thầy đâu. Hết thảy các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.
32. Kế đó, đi
đến một nơi kia, gọi là Ghết-sê-ma-nê, Ðức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ
rằng: Các ngươi hãy ngồi đây, đợi ta cầu nguyện.
33. Ngài bèn đem
Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi, thì Ngài khởi sự kinh hãi và sầu não.
34.
Ngài phán cùng ba người rằng: Linh-hồn ta buồn rầu lắm cho đến chết; các
ngươi hãy ở đây, và tỉnh thức.
35. Rồi Ngài đi một đỗi xa hơn, sấp mình
xuống đất mà cầu nguyện rằng: nếu có thể được, xin giờ nầy qua khỏi
mình.
36. Ngài rằng: A-ba lạy Cha, mọi việc Cha làm được cả; xin Cha
cất chén nầy khỏi con; nhưng không theo điều con muốn, mà theo điều Cha
muốn.
37. Rồi Ngài trở lại, thấy ba người ngủ; bèn phán cùng Phi-e-rơ
rằng: Si-môn, ngủ ư! Ngươi không thức được một giờ sao?
38. Hãy tỉnh
thức và cầu nguyện, để các ngươi khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì
muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.
39. Ngài lại đi lần nữa, và cầu
nguyện, y như lời trước.
40. Ngài trở lại, thấy môn đồ còn ngủ, vì con
mắt đã đừ quá; và không biết trả lời cùng Ngài thể nào.
41. Ngài trở
lại lần thứ ba, phán cùng môn đồ rằng: Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi
ư! thôi, giờ đã tới rồi; nầy, Con người hầu bị nộp trong tay kẻ có
tội.
42. Hãy chờ dậy, đi hè; kìa, đứa phản ta đã đến gần.
43. Ngài
đương còn phán, tức thì Giu-đa, là một trong mười hai sứ đồ thoạt đến với
một toán đông cầm gươm và gậy, bởi các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo,
và các trưởng lão phái đến.
44. Và, đứa phản Ngài đã cho chúng dấu hiệu
nầy: Hễ tôi hôn ai, ấy là người đó; hãy bắt lấy và điệu đi cho cẩn
thận.
45. Vậy, khi Giu-đa đến rồi, liền lại gần Ngài mà nói rằng: Lạy
thầy! Rồi nó hôn Ngài.
46. Chúng bèn tra tay bắt Ðức Chúa Jêsus.
47.
Có một người trong những kẻ ở đó rút gươm ra, đánh một đứa đầy tớ của thầy
cả thượng phẩm, chém đứt tai đi.
48. Ðức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng
chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến bắt ta như ta là kẻ trộm
cướp.
49. Ta hằng ngày ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà
các ngươi không bắt ta; nhưng điều ấy xảy đến, để lời Kinh Thánh được ứng
nghiệm.
50. Bấy giờ, mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả.
51. Có một
người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng
bắt người.
52. Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay
chúng.
53. Chúng điệu Ðức Chúa Jêsus đến nơi thầy cả thượng phẩm, có
hết thảy thầy tế lễ cả, trưởng lão, và thầy thông giáo nhóm họp tại
đó.
54. Phi-e-rơ theo sau Ngài xa xa, cho đến nơi sân trong của thầy cả
thượng phẩm; rồi ngồi với quân lính gần đống lửa mà sưởi.
55. Vả, các
thầy tế lễ cả, cùng cả tòa công luận đều tìm chứng gì để nghịch cùng Ðức
Chúa Jêsus đặng giết Ngài, song không kiếm được chi hết.
56. Vì có
nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài; nhưng lời họ khai chẳng hiệp
nhau.
57. Bấy giờ có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch cùng Ngài
rằng:
58. Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay
người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi
tay người ta cất.
59. Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng
hiệp nhau nữa.
60. Khi ấy, thầy cả thượng phẩm đứng dậy giữa hội đồng,
tra hỏi Ðức Chúa Jêsus mà rằng: Ngươi chẳng đối đáp chi hết về những điều
các kẻ nầy cáo người sao?
61. Nhưng Ðức Chúa Jêsus làm thinh, không trả
lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Ấy chính ngươi là Ðấng Christ,
Con Ðức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không?
62. Ðức Chúa Jêsus phán
rằng: Ta chính phải đó; các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền
phép Ðức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.
63. Bấy giờ
thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ
khác nữa làm chi?
64. Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi
nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết.
65. Có kẻ nhổ trên Ngài,
đậy mặt Ngài lại, đấm Ngài, và nói với Ngài rằng: Hãy nói tiên tri đi! Các
lính canh lấy gậy đánh Ngài.
66. Phi-e-rơ đương ở dưới nơi sân, có một
đầy tớ gái của thầy cả thượng phẩm đến,
67. thấy Phi-e-rơ đương sưởi,
ngó người mà rằng: ngươi trước cũng ở với Jêsus Na-xa-rét!
68. Nhưng
người chối rằng: Ta không biết, ta không hiểu ngươi nói chi. Ðoạn, người
bước ra tiền đàng, thì gà gáy.
69. Ðầy tớ gái đó thầy người, lại nói
cùng những người ở đó rằng: Người nầy cũng là bọn đó.
70. Nhưng người
lại chối một lần nữa. Khỏi một chặp, những kẻ đứng đó nói cùng Phi-e-rơ
rằng: Chắc thật, ngươi cũng là bọn đó, vì ngươi là người Ga-li-lê.
71.
Người bèn rủa mà thề rằng: Ta chẳng hề quen biết với người mà các ngươi
nói đó!
72. Tức thì gà gáy lần thứ hai; Phi-e-rơ bèn nhớ lại lời Ðức
Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba
lần. Người tưởng đến thì khóc.
Mác 15 chọn
đoạn khác
1. Vừa lúc ban mai, các
thầy tế lễ cả bàn luận với các trưởng lão, các thầy thông giáo cùng cả tòa
công luận; khi đã trói Ðức Chúa Jêsus rồi, thì giải nộp cho Phi-lát.
2.
Phi-lát hỏi Ngài rằng: Ấy chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không? Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời.
3. Các thầy tế lễ cả cáo Ngài nhiều
điều.
4. Phi-lát lại tra gạn Ngài, mà rằng: Ngươi chẳng đối đáp chi hết
sao? Hãy coi họ cáo tội ngươi biết bao nhiêu!
5. Nhưng Ðức Chúa Jêsus
chẳng trả lời chi nữa, nên mỗi Phi-lát lấy làm lạ.
6. Vả, hễ đến ngày
lễ Vượt Qua, quan vốn quen thói tha cho dân một tên tù, tùy theo dân
xin.
7. Bấy giờ có một đứa tên là Ba-ra-ba bị tù với kẻ làm loạn, vì
trong khi nổi loạn, chúng nó phạm tội giết người.
8. Ðoàn dân đã lên,
bèn xin Phi-lát làm cho mình theo như lệ thường.
9. Phi-lát trả lời
rằng: Các ngươi muốn ta tha Vua dân Giu-đa cho chăng?
10. Vì người biết
rõ các thầy tế lễ cả đã nộp Ngài bởi lòng ghen ghét.
11. Nhưng các thầy
tế lễ cả xui dân xin người tha tên Ba-ra-ba cho mình thì hơn.
12.
Phi-lát lại cất tiếng hỏi rằng: Vậy thì các ngươi muốn ta dùng cách nào xử
người mà các ngươi gọi là Vua dân Giu-đa?
13. Chúng lại kêu lên rằng:
Hãy đóng đinh nó vào thập tự giá!
14. Phi-lát nói cùng chúng rằng: Song
người nầy đã làm điều ác gì? Chúng lại kêu lớn tiếng hơn rằng: Hãy đóng
đinh nó vào thập tự giá!
15. Phi-lát muốn cho đẹp lòng dân, bèn tha tên
Ba-ra-ba; và sai đánh đòn Ðức Chúa Jêsus, rồi giao Ngài cho chúng đem đóng
đinh trên cây thập tự.
16. Lính điệu Ðức Chúa Jêsus vào sân trong, tức
là trong chỗ trường án; và nhóm cả cơ binh lại đó.
17. Họ choàng cho
Ngài một cái áo điều, và đội trên đầu Ngài một cái mão bằng gai họ đã
đương,
18. rồi chào Ngài rằng: Kính lạy Vua dân Giu-đa!
19. Lại lấy
cây sậy đánh đầu Ngài, nhổ trên Ngài, và quì xuống trước mặt Ngài mà
lạy.
20. Khi họ đã nhạo cười Ngài như vậy rồi, thì cổi áo điều ra, mặc
áo của Ngài lại cho Ngài, và đem ra để đóng đinh trên cây thập tự.
21.
Có một tên Si-môn kia, người thành Sy-ren, là cha A-léc-xan-đơ và Ru-phu,
ở ngoài ruộng về, đi ngang qua đó; họ bắt phải vác cây thập tự.
22. Họ
đem Ðức Chúa Jêsus đến nơi kia, gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ Sọ.
23.
Họ cho Ngài uống rượu hòa với một dược; song Ngài không uống.
24. Khi
đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, họ chia áo xống Ngài cho nhau, bắt
thăm để biết ai được gì.
25. Lúc đóng đinh Ngài, là giờ thứ ba.
26.
Án Ngài có ghi vào cái bảng rằng: Vua dân Giu-đa.
27. Cũng có hai đứa
ăn cướp bị đóng đinh với Ngài, một đứa tại cây thập tự bên hữu Ngài, một
đứa tại cây thập tự bên tả.
28. Như vậy được ứng nghiệm lời Kinh Thánh
rằng: Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ.
29. Những kẻ đi ngang qua đó chế
báng Ngài, lắc đầu mà nói rằng: Ê! ngươi là kẻ phá đền thờ, và cất lại
trong ba ngày,
30. hãy cứu lấy mình, xuống khỏi cây thập tự đi!
31.
Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo cũng nói với nhau như vậy, mà
nhạo cười Ngài rằng: Hắn đã cứu kẻ khác; mà cứu mình không được!
32.
Hỡi Ðấng Christ, Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự,
để cho chúng ta thấy và tin! Hai đứa bị đóng đinh cùng Ngài cũng nhiếc móc
Ngài nữa.
33. Ðến giờ thứ sáu, khắp đất đều tối tăm mù mịt cho tới giờ
thứ chín.
34. Ðến giờ thứ chín, Ðức Chúa Jêsus kêu lớn tiếng rằng:
Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Ðức Chúa Trời tôi ơi, Ðức
Chúa Jêsus tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?
35. Có mấy người đứng đó nghe
vậy, thì nói rằng: Coi kìa, hắn kêu Ê-li.
36. Có một người trong bọn họ
chạy lấy bông đá thấm đầy giấm, để trên đầu cây sậy, đưa cho Ngài uống, mà
nói rằng: Hãy để, chúng ta coi thử Ê-li có đến đem hắn xuống chăng!
37.
Nhưng Ðức Chúa Jêsus kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.
38. Màn
trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên chí dưới.
39. Thầy đội đứng đối
ngang Ngài, thấy Ngài trút linh hồn như vậy, thì nói rằng: Người nầy quả
thật là Con Ðức Chúa Trời.
40. Lại có những đờn bà đứng xa xa mà xem.
Trong số ấy có Ma-ri, Ma-đơ-len, Ma-ri là mẹ Gia-cơ nhỏ, và Giô-sê, cùng
Sa-lô-mê,
41. là ba người đã theo hầu việc Ngài khi Ngài ở xứ Ga-li-lê;
cũng có nhiều đờn bà khác nữa, là những người đã theo Ngài lên thành
Giê-ru-sa-lem.
42. Bấy giờ là ngày sắm sửa, nghĩa là hôm trước ngày
Sa-bát; khi đã chiều tối,
43. có một người tên là Giô-sép, Ở thành
A-ri-ma-thê, là nghị viên tòa công luận có danh vọng, cũng trông đợi nước
Ðức Chúa Trời. Người bạo gan đến Phi-lát mà xin xác Ðức Chúa Jêsus.
44.
Phi-lát lấy làm lạ về Ngài chết mau như vậy, bèn đòi thầy đội đến mà hỏi
thử Ngài chết đã lâu chưa.
45. Vừa nghe tin thầy đội trình, thì giao
xác cho Giô-sép.
46. Người đã mua vải liệm, cất xác Ðức Chúa Jêsus
xuống khỏi cây thập tự, dùng vải liệm vấn lấy Ngài, rồi để xác trong huyệt
đã đục trong hòn đá lớn, đoạn, lăn một hòn đá chận cửa huyệt lại.
47.
Vả, Ma-ri Ma-đơ-len cùng Ma-ri mẹ Giô-sê, đều thấy chỗ táng
Ngài.
Mác 16
chọn
đoạn khác
1. Ngày Sa-bát qua rồi, Ma-ri ma-đơ-len,
Ma-ri mẹ Gia-cơ, cùng Sa-lô-mê mua thuốc thơm đặng đi xức xác Ðức Chúa
Jêsus.
2. Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, sáng sớm, mặt trời mới mọc, ba
người đến nơi mộ,
3. nói cùng nhau rằng: Ai sẽ lăn hòn đá lấp cửa mộ ra
cho chúng ta?
4. Khi ngó xem, thấy hòn đá đã lăn ra rồi; vả, hòn đá lớn
lắm.
5. Ðoạn, họ vào nơi mộ, thấy một người trẻ tuổi ngồi bên hữu, mặc
áo dài trắng, thì thất kinh.
6. Song người nói cùng họ rằng: Ðừng sợ
chi, các ngươi tìm Ðức Chúa Jêsus Na-xa-rét, là Ðấng đã chịu đóng đinh;
Ngài sống lại rồi, chẳng còn ở đây; hãy xem nơi đã táng xác Ngài.
7.
Nhưng hãy đi nói cho các môn đồ Ngài và cho Phi-e-rơ rằng: Ngài đi đến xứ
Ga-li-lê trước các ngươi; các ngươi sẽ thấy Ngài tại đó, như Ngài đã phán
cùng các ngươi vậy.
8. Các bà ấy ra khỏi mồ, trốn đi, vì run sợ sửng
sốt; chẳng dám nói cùng ai hết, bởi kinh khiếp lắm.
9. Vả, Ðức Chúa
Jêsus đã sống lại buổi sớm mai ngày thứ nhứt trong tuần lễ, thì trước hết
hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len, là người mà Ngài đã trừ cho khỏi bảy quỉ
dữ.
10. Người đi đem tin cho những kẻ theo Ngài khi trước, và nay đang
tang chế khóc lóc.
11. Nhưng các người ấy vừa nghe nói Ngài sống, và
người từng thấy Ngài, thì không tin.
12. Kế đó, Ðức Chúa Jêsus lấy hình
khác hiện ra cho hai người trong bọn môn đồ đang đi đường về nhà
quê.
13. Hai người nầy đi báo tin cho các môn đồ khác, nhưng ai nấy
cũng không tin.
14. Sau nữa, Ngài hiện ra cho mười một sứ đồ đang khi
ngồi ăn, mà quở trách về sự không tin và lòng cứng cỏi, vì chẳng tin những
kẻ từng thấy Ngài đã sống lại.
15. Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy
đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người.
16. Ai tin và chịu phép
báp-tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt.
17. Vậy
những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng
mới mà nói;
18. bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng
hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành.
19. Ðức Chúa Jêsus
phán như vậy rồi, thì được đem lên trời, ngồi bên hữu Ðức Chúa
Trời.
20. Về phần các môn đồ, thì đi ra giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa
cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững
đạo.