Mục Lục
[1] [2] [3] [4]
[5] [6] [7] [8]
[9] [10] [11] [12]
[13] [14] [15] [16]
[17] [18] [19] [20]
[21] [22] [23] [24]
[25] [26] [27] [28]
Ma-thi-ơ 1 chọn
đoạn khác
1. Gia phổ Ðức Chúa
Jêsus Christ, con cháu Ða-vít và con cháu Áp-ra-ham.
2. Áp-ra-ham sanh
Y-sác; Y-sác sanh Gia-cốp; Gia-cốp sanh Giu-đa và anh em người.
3.
Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra. Pha-rê sanh Ếch-rôm; Ếch-rôm sanh
A-ram;
4. A-ram sanh A-mi-na-đáp; A-mi-na-đáp sanh Na-ách-son;
Na-ách-son sanh Sanh-môn.
5. Sanh-môn bởi Ra-háp sanh Bô-ô. Bô-ô bởi
Ru-tơ sanh Ô-bết. Ô-bết sanh Gie-sê;
6. Gie-sê sanh vua Ða-vít. Ða-vít
bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn.
7. Sa-lô-môn sanh Rô-bô-am; Rô-bô-am
sanh A-bi-gia; A-bi-gia sanh A-sa;
8. A-sa sanh Giô-sa-phát;
Giô-sa-phát sanh Giô-ram; Giô-ram sanh Ô-xia.
9. Ô-xia sanh Giô-tam;
Giô-tam sanh A-cha; A-cha sanh Ê-xê-chia.
10. Ê-xê-chia sanh Ma-na-sê;
Ma-na-sê sanh A-môn; A-môn sanh Giô-si-a.
11. Giô-si-a đang khi bị đày
qua nước Ba-by-lôn sanh Giê-chô-nia và anh em người.
12. Khi đã bị đày
qua nước Ba-by-lôn, thì Giê-chô-nia sanh Sa-la-thi-ên; Sa-la-thi-ên sanh
Xô-rô-ba-bên;
13. Xô-rô-ba-bên sanh A-bi-út; A-bi-út sanh Ê-li-a-kim;
Ê-li-a-kim sanh A-xô.
14. A-xô sanh Sa-đốc; Sa-đốc sanh A-chim; A-chim
sanh Ê-li-út;
15. Ê-li-út sanh Ê-lê-a-xa; Ê-lê-a-xa sanh Ma-than;
Ma-than sanh Gia-cốp;
16. Gia-cốp sanh Giô-sép là chồng Ma-ri; Ma-ri là
người sanh Ðức Chúa Jêsus, gọi là Christ.
17. Như vậy, từ Áp-ra-ham cho
đến Ða-vít, hết thảy cho mười bốn đời; từ Ða-vít cho đến khi bị đày qua
nước Ba-by-lôn, cũng có mười bốn đời; và từ khi bị đày qua nước Ba-by-lôn
cho đến Ðấng Christ, lại cũng có mười bốn đời.
18. Vả, sự giáng sinh
của Ðức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả
cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Ðức
Thánh Linh.
19. Giô-sép chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho
người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm.
20. Song đang ngẫm nghĩ về việc
ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà
phán rằng: Hỡi Giô-sép, con cháu Ða-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ,
vì con mà người chịu thai đó là bởi Ðức Thánh Linh.
21. Người sẽ sanh
một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình
ra khỏi tội.
22. Mọi việc đã xảy ra như vậy, để cho ứng nghiệm lời Chúa
đã dùng đấng tiên tri mà phán rằng:
23. Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu
thai, và sanh một con trai, Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là
Em-ma-nu-ên; nghĩa là: Ðức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
24. Khi Giô-sép
thức dậy rồi, thì làm y như lời thiên sứ của Chúa đã dặn, mà đem vợ về với
mình;
25. song không hề ăn ở với cho đến khi người sanh một trai, thì
đặt tên là Jêsus.
Ma-thi-ơ 2 chọn
đoạn khác
1. Khi Ðức Chúa
Jêsus đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt, có mấy
thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem,
2. mà hỏi rằng: Vua
dân Giu-đa mới sanh tại đâu? Vì chúng ta đã thấy ngôi sao Ngài bên đông
phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài.
3. Nghe tin ấy, vua Hê-rốt cùng cả
thành Giê-ru-sa-lem đều bối rối.
4. Vua bèn nhóm các thầy tế lễ cả và
các thầy thông giáo trong dân lại mà tra hỏi rằng Ðấng Christ phải sanh
tại đâu.
5. Tâu rằng: Tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đê; vì có lời của đấng
tiên tri chép như vầy:
6. Hỡi Bết-lê-hem, đất Giu-đa! Thật ngươi chẳng
kém gì các thành lớn của xứ Giu-đa đâu, Vì từ ngươi sẽ ra một tướng, Là
Ðấng chăn dân Y-sơ-ra-ên, tức dân ta.
7. Vua Hê-rốt bèn vời mấy thầy
bác sĩ cách kín nhiệm, mà hỏi kỹ càng và ngôi sao đã hiện ra khi
nào.
8. Rồi vua sai mấy thầy đó đến thành Bết-lê-hem, và dặn rằng: Các
ngươi hãy đi, hỏi thăm cho chắc về tích con trẻ đó; khi tìm được rồi, hãy
cho ta biết, đặng ta cũng đến mà thờ lạy Ngài.
9. Mấy thầy nghe vua
phán xong, liền đi. Kìa, ngôi sao mà họ đã thấy bên đông phương, đi trước
mặt cho đến chừng ngay trên chỗ con trẻ ở mới dừng lại.
10. Mấy thầy
thấy ngôi sao, mừng rỡ quá bội.
11. Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng
Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của quí ra,
dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược.
12. Kế đó,
trong giấc chiêm bao, mấy thầy được Ðức Chúa Trời mách bảo đừng trở lại
nơi vua Hê-rốt; nên họ đi đường khác mà về xứ mình.
13. Sau khi mấy
thầy đó đi rồi, có một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong chiêm
bao, mà truyền rằng: Hãy chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trốn qua nước
Ê-díp-tô, rồi cứ ở đó cho tới chừng nào ta bảo ngươi; vì vua Hê-rốt sẽ
kiếm con trẻ ấy mà giết.
14. Giô-sép bèn chờ dậy, đem con trẻ và mẹ
Ngài đang ban đêm lánh qua nước Ê-díp-tô.
15. Người ở đó cho tới khi
vua Hê-rốt băng, hầu cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán
rằng: Ta đã gọi Con ta ra khỏi nước Ê-díp-tô.
16. Vua Hê-rốt thấy mình
đã bị mấy thầy bác sĩ đánh lừa, thì tức giận quá, bèn sai giết hết thảy
con trai từ hai tuổi sấp xuống ở thành Bết-lê-hem và cả hạt, theo đúng
ngày tháng mà mấy thầy bác sĩ đã cho vua biết.
17. Vậy là ứng nghiệm
lời đấng tiên tri Giê-rê-mi đã nói rằng:
18. Người ta có nghe tiếng kêu
la, Phàn nàn, than khóc trong thành Ra-ma: Ấy là Ra-chen khóc các con
mình, Mà không chịu yên ủi, vì chúng nó không còn nữa.
19. Nhưng sau
khi vua Hê-rốt băng, có một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong
chiêm bao, tại nước Ê-díp-tô, mà truyền rằng:
20. Hãy chờ dậy, đem con
trẻ và mẹ Ngài trở về xứ Y-sơ-ra-ên, vì những kẻ muốn giết con trẻ đã chết
rồi.
21. Giô-sép bèn chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trở về xứ
Y-sơ-ra-ên.
22. Song khi nghe vua A-chê-la-u nối ngôi vua cha là Hê-rốt
mà trị vì tại xứ Giu-đê, thì Giô-sép sợ, không dám về; và bởi đã được Ðức
Chúa Trời mách bảo trong chiêm bao, nên người vào xứ Ga-li-lê,
23. ở
trong một thành kia tên là Na-xa-rét. Vậy là ứng nghiệm lời mấy đấng tiên
tri đã nói rằng: Người ta sẽ gọi Ngài là người Na-xa-rét.
Ma-thi-ơ 3
chọn
đoạn khác
1. Lúc ấy, Giăng Báp-tít đến giảng đạo trong đồng vắng xứ
Giu-đê,
2. rằng: Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến
gần!
3. Ấy là về Giăng Báp-tít mà đấng tiên tri Ê-sai đã báo trước
rằng: Có tiếng kêu trong đồng vắng: Hãy dọn đường Chúa, Ban bằng các nẻo
Ngài.
4. Vả Giăng mặc áo bằng lông lạc đà, buộc dây lưng bằng da; ăn,
thì ăn những châu chấu và mật ong rừng.
5. Bấy giờ, dân thành
Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, và cả miền chung quanh sông Giô-đanh đều đến
cùng người;
6. và khi họ đã xưng tội mình rồi, thì chịu người làm phép
báp tem dưới sông Giô-đanh.
7. Bởi Giăng thấy nhiều người dòng
Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến chịu phép báp-tem mình, thì bảo họ rằng: Hỡi
dòng dõi rắn lục kia, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn giận ngày
sau?
8. Vậy, các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn,
9. và
đừng tự khoe rằng: Áp-ra-ham là tổ chúng ta; và ta nói cho các ngươi rằng
Ðức Chúa Trời có thể khiến đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham
được.
10. Bây giờ cái búa đã để kề rễ cây; vậy hễ cây nào không sanh
trái tốt, thì sẽ phải đốn và chụm.
11. Về phần ta, ta lấy nước mà làm
phép báp-tem cho các ngươi ăn năn; song Ðấng đến sau ta có quyền phép hơn
ta, ta không đáng xách giày Ngài. Ấy là Ðấng sẽ làm phép báp-tem cho các
ngươi bằng Ðức Thánh Linh và bằng lửa.
12. Tay Ngài cầm nia mà dê thật
sạch sân lúa mình và Ngài sẽ chứa lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt trong
lửa chẳng hề tắt.
13. Khi ấy, Ðức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê đến cùng
Giăng tại sông Giô-đanh, đặng chịu người làm phép báp-tem.
14. Song
Giăng từ chối mà rằng: Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp-tem, mà
Ngài lại trở đến cùng tôi sao! Ðức Chúa Jêsus đáp rằng:
15. Bây giờ cứ
làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn
vâng lời Ngài.
16. Vừa khi chịu phép báp-tem rồi, Ðức Chúa Jêsus ra
khỏi nước; bỗng chúc các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Ðức
Chúa Trời ngự xuống như chim bò câu, đậu trên Ngài.
17. Tức thì có
tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi
đàng.
Ma-thi-ơ 4
chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ, Ðức Thánh Linh đưa Ðức Chúa
Jêsus đến nơi đồng vắng, đặng chịu ma quỉ cám dỗ.
2. Ngài đã kiêng ăn
bốn mươi ngày bốn mươi đêm rồi, sau thì đói.
3. Quỉ cám dỗ đến gần
Ngài, mà nói rằng: Nếu ngươi phải là Con Ðức Chúa Trời, thì hãy khiến đá
nầy trở nên bánh đi.
4. Ðức Chúa Jêsus đáp: Có lời chép rằng: Người ta
sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Ðức
Chúa Trời.
5. Ma quỉ bèn đem Ngài vào nơi thành thánh, đặt Ngài trên
nóc đền thờ,
6. và nói rằng: Nếu ngươi phải là Con Ðức Chúa Trời, thì
hãy gieo mình xuống đi; vì có lời chép rằng: Chúa sẽ truyền các thiên sứ
gìn giữ ngươi, Thì các Ðấng ấy sẽ nâng ngươi trong tay, Kẻo chơn ngươi vấp
nhằm đá chăng.
7. Ðức Chúa Jêsus phán: Cũng có lời chép rằng: Ngươi
đừng thử Chúa là Ðức Chúa Trời ngươi.
8. Ma quỉ lại đem Ngài lên trên
núi rất cao, chỉ cho Ngài các nước thế gian, cùng sự vinh hiển các nước
ấy;
9. mà nói rằng: Ví bằng ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ lạy, thì
ta sẽ cho ngươi hết thảy mọi sự nầy.
10. Ðức Chúa Jêsus bèn phán cùng
nó rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: Ngươi phải
thờ phượng Chúa là Ðức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà
thôi.
11. Ma quỉ bèn bỏ đi; liền có thiên sứ đến gần mà hầu việc
Ngài.
12. Vả, khi Ðức Chúa Jêsus nghe Giăng bị tù rồi, thì Ngài lánh
qua xứ Ga-li-lê.
13. Ngài bỏ thành Na-xa-rét mà đến ở thành
Ca-bê-na-um, gần mé biển, giáp địa phận xứ Sa-bu-lôn cùng xứ
Nép-ta-li,
14. để cho ứng nghiệm lời đấng tiên tri Ê-sai đã nói
rằng:
15. Ðất Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, Ở về trên con đường đi đến biển,
bên kia sông Giô-đanh, Tức là xứ Ga-li-lê thuộc về dân ngoại,
16. Dân
ấy ngồi chỗ tối tăm, đã thấy ánh sáng lớn; Và trên những kẻ ngồi trong
miền và dưới bóng sự chết, Thì ánh sáng đã mọc lên.
17. Từ lúc đó, Ðức
Chúa Jêsus khởi giảng dạy rằng: Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng
đã đến gần.
18. Khi Ngài đang đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy hai
anh em kia, là Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ, với em là Anh-rê, đương thả
lưới dưới biển, vì hai anh em vốn là người đánh cá.
19. Ngài phán cùng
hai người rằng: Các ngươi hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh
lưới người.
20. Hai anh em liền bỏ lưới mà theo Ngài.
21. Từ đó đi
một đỗi xa xa nữa, Ngài thấy hai anh em khác, là Gia-cơ, con của Xê-bê-đê,
với em là Giăng, đang cùng cha mình là Xê-bê-đê vá lưới trong thuyền; Ngài
bèn gọi hai người.
22. Tức thì hai người đó bỏ thuyền và cha mình mà
theo Ngài.
23. Ðức Chúa Jêsus đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ trong các nhà
hội, giảng Tin Lành của nước Ðức Chúa Trời và chữa lành mọi thứ tật bịnh
trong dân.
24. Vậy, danh tiếng Ngài đồn ra khắp cả xứ Sy-ri, người ta
bèn đem cho Ngài mọi người đau ốm, hay là mắc bịnh nọ tật kia, những kẻ bị
quỉ ám, điên cuồng, bại xuội, thì Ngài chữa cho họ được lành cả.
25. Vả
lại, từ xứ Ga-li-lê, xứ Ðê-ca-bô-lơ, thành Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê, cho
đến xứ bên kia sông Giô-đanh, thiên hạ kéo nhau rất đông mà theo
Ngài.
Ma-thi-ơ 5
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông,
bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần.
2. Ngài bèn
mở miệng mà truyền dạy rằng:
3. Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì
nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
4. Phước cho những kẻ than khóc, vì
sẽ được yên ủi!
5. Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưỡng được
đất!
6. Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no
đủ!
7. Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!
8.
Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Ðức Chúa Trời!
9.
Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Ðức Chúa
Trời!
10. Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên
đàng là của những kẻ ấy!
11. Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc,
bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được
phước.
12. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở
trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri
trước các ngươi như vậy.
13. Các ngươi là muối của đất; song nếu mất
mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi
được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chơn.
14. Các
ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành trên núi thì không khi nào bị
khuất được:
15. cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người
ta để trên chơn đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà.
16. Sự sáng
các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành
của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời.
17. Các ngươi
đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không
phải để phá, song để làm cho trọn.
18. Vì ta nói thật cùng các ngươi,
đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng
không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn.
19. Vậy, ai hủy một
điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy,
thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều
răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên
đàng.
20. Vì ta phán cho các ngươi rằng, nếu sự công bình của các ngươi
chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng
Pha-ri-si, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng.
21. Các ngươi
có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hễ ai
giết người thì đáng bị tòa án xử đoán.
22. Song ta phán cho các ngươi:
Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình là
đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hình phạt.
23. Ấy vậy, nếu khi nào
ngươi đem dâng của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều gì nghịch
cùng mình,
24. thì hãy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hòa với
anh em trước đã; rồi hãy đến dâng của lễ.
25. Khi ngươi đi đường với kẻ
nghịch mình, phải lập tức hòa với họ, kẻo họ nộp ngươi cho quan án, quan
án giao ngươi cho thầy đội, mà ngươi phải ở tù.
26. Quả thật, ta nói
cùng ngươi, ngươi trả còn thiếu một đồng tiền, thì không ra khỏi tù
được.
27. Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội tà
dâm.
28. Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đờn bà mà động tình
tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi.
29. Vậy
nếu con mắt bên hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy móc mà quăng nó cho xa
ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân
thể bị ném vào địa ngục.
30. Lại nếu tay hữu xui cho ngươi phạm tội,
thì hãy chặt mà liệng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể
ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể vào địa ngục.
31. Lại có nói
rằng: Nếu người nào để vợ mình, thì hãy cho vợ cái tờ để.
32. Song ta
phán cùng các ngươi: Nếu người nào để vợ mà không phải vì cớ ngoại tình,
thì người ấy làm cho vợ mình ra người tà dâm; lại nếu người nào cưới đờn
bà bị để, thì cũng phạm tội tà dâm.
33. Các ngươi còn có nghe lời phán
cho người xưa rằng: Ngươi chớ thề dối, nhưng đối với Chúa, phải giữ vẹn
lời thề mình.
34. Song ta phán cùng các ngươi rằng đừng thề chi hết:
đừng chỉ trời mà thề, vì là ngôi của Ðức Chúa Trời;
35. đừng chỉ đất mà
thề, vì là bệ chơn của Ðức Chúa Trời; đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề,
vì là thành của Vua lớn.
36. Lại cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì tự
ngươi không thể làm cho một sợi tóc nên trắng hay là đen được.
37. Song
ngươi phải nói rằng: phải, phải; không, không. Còn điều người ta nói thêm
đó, bởi nơi quỉ dữ mà ra.
38. Các ngươi có nghe lời phán rằng: Mắt đền
mắt, răng đền răng.
39. Song ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ.
Trái lại, nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia cho họ
luôn;
40. nếu ai muốn kiện ngươi đặng lột cái áo vắn, hãy để họ lấy
luôn cái áo dài nữa;
41. nếu ai muốn bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi
hai dặm với họ.
42. Ai xin của ngươi hãy cho, ai muốn mượn của ngươi,
thì đừng trớ.
43. Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân
cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình.
44. Song ta nói cùng các ngươi
rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi,
45.
hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài
khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình
cùng kẻ độc ác.
46. Nếu các ngươi yêu những kẻ yêu mình, thì có được
thưởng gì đâu? Những kẻ thâu thuế há chẳng làm như vậy sao?
47. Lại nếu
các ngươi tiếp đãi anh em mình mà thôi, thì có lạ gì hơn ai? Người ngoại
há chẳng làm như vậy sao?
48. Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như
Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn.
Ma-thi-ơ 6 chọn
đoạn khác
1. Hãy
giữ, đừng làm sự công bình mình trước mặt người ta, cho họ đều thấy. Bằng
không, thì các ngươi chẳng được phần thưởng gì của Cha các ngươi ở trên
trời.
2. Vậy, khi ngươi bố thí, đừng thổi kèn trước mặt mình, như bọn
giả hình làm trong nhà hội và ngoài đường, để được người ta tôn kính. Quả
thật, ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần thưởng của mình
rồi.
3. Song khi ngươi bố thí, đừng cho tay tả biết tay hữu làm việc
gì,
4. hầu cho sự bố thí được kín nhiệm; và Cha ngươi, là Ðấng thấy
trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.
5. Khi các ngươi cầu nguyện,
đừng làm như bọn giả hình; vì họ ưa đứng cầu nguyện nơi nhà hội và góc
đường, để cho thiên hạ đều thấy. Quả thật ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã
được phần thưởng của mình rồi.
6. Song khi ngươi cầu nguyện, hãy vào
phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện Cha ngươi, ở nơi kín nhiệm đó;
và Cha ngươi, là Ðấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.
7.
Vả, khi các ngươi cầu nguyện, đừng dùng những lời lặp vô ích như người
ngoại; vì họ tưởng vì cớ lời mình nói nhiều thì được nhậm.
8. Vậy, các
ngươi đừng như họ; vì Cha các ngươi biết các ngươi cần sự gì trước khi
chưa xin Ngài.
9. Vậy các ngươi hãy cầu như vầy: Lạy Cha chúng tôi ở
trên trời; Danh Cha được thánh;
10. Nước Cha được đến; Ý Cha được nên,
ở đất như trời!
11. Xin cho chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày;
12. Xin
tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng
chúng tôi;
13. Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi
điều ác! Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.
14.
Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng
sẽ tha thứ các ngươi.
15. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha
các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.
16. Khi các ngươi kiêng
ăn, chớ làm bộ buồn rầu như bọn giả hình; vì họ nhăn mặt, cho mọi người
biết họ kiêng ăn. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần
thưởng của mình rồi.
17. Song khi ngươi kiêng ăn, hãy xức dầu trên đầu,
và rửa mặt,
18. hầu cho người ta không xem thấy ngươi đang kiêng ăn,
nhưng chỉ Cha ngươi là Ðấng ở nơi kín nhiệm xem thấy mà thôi; và Cha người
thấy trong chỗ kín nhiệm sẽ thưởng cho ngươi.
19. Các ngươi chớ chứa
của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào
ngạch khoét vách mà lấy;
20. nhưng phải chứa của cải ở trên trời, là
nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch
khoét vách mà lấy.
21. Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi
cũng ở đó.
22. Con mắt là đèn của thân thể. Nếu mắt ngươi sáng sủa thì
cả thân thể ngươi sẽ được sáng láng;
23. nhưng nếu mắt ngươi xấu, thì
cả thân thể sẽ tối tăm. Vậy, nếu sự sáng láng trong ngươi chỉ là tối tăm,
thì sự tối tăm nầy sẽ lớn biết là dường bao!
24. Chẳng ai được làm tôi
hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà
khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Ðức Chúa Trời lại làm tôi
Ma-môn nữa.
25. Vậy nên ta phán cùng các ngươi rằng: đừng vì sự sống
mình mà lo đồ ăn uống; cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc. Sự sống há
chẳng quí trọng hơn đồ ăn sao, thân thể há chẳng quí trọng hơn quần áo
sao?
26. Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt cũng chẳng có thâu
trử vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng
phải là quí trọng hơn loài chim sao?
27. Vả lại, có ai trong vòng các
ngươi lo lắng mà làm cho đời mình được dài thêm một khắc không?
28. Còn
về quần áo, các ngươi lại lo lắng mà làm chi? Hãy ngắm xem những hoa huệ
ngoài đồng mọc lên thể nào: chẳng làm khó nhọc, cũng không kéo chỉ;
29.
nhưng ta phán cùng các ngươi, dẫu vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng
không được mặc áo tốt như một hoa nào trong giống đó.
30. Hỡi kẻ ít đức
tin, loài cỏ ngoài đồng, là giống nay còn sống, mai bỏ vào lò, mà Ðức Chúa
Trời còn cho nó mặc đẹp thể ấy thay, huống chi là các ngươi!
31. ấy
vậy, các ngươi chớ lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì? uống gì? mặc
gì?
32. Vì mọi điều đó, các dân ngoại vẫn thường tìm, và Cha các ngươi
ở trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi.
33. Nhưng
trước hết, hãy tìm kiếm nước Ðức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì
Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa.
34. Vậy, chớ lo lắng chi về
ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho
ngày ấy.
Ma-thi-ơ 7
chọn
đoạn khác
1. Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình
khỏi bị đoán xét.
2. Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ
cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ
cũng lường lại cho mực ấy.
3. Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh
em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình?
4. Sao ngươi dám nói với
anh em rằng: Ðể tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà
trong mắt mình?
5. Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt
mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình
được.
6. Ðừng cho chó những đồ thánh, và đừng quăng hột trai mình trước
mặt heo, kẻo nó đạp dưới chơn, và quay lại cắn xé các ngươi.
7. Hãy
xin, sẽ được' hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho.
8. Bởi vì, hễ ai
xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở.
9. Trong các ngươi
có ai, khi con mình xin bánh, mà cho đá chăng?
10. Hay là con mình xin
cá, mà cho rắn chăng?
11. Vậy nếu các ngươi vốn là xấu, còn biết cho
con cái mình các vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại
chẳng ban các vật tốt cho những người xin Ngài sao?
12. Ấy vậy, hễ điều
chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho
họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri.
13. Hãy vào cửa hẹp, vì cửa
rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều.
14.
Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.
15.
Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi,
song bề trong thật là muông sói hay cắn xé.
16. Các ngươi nhờ những
trái nó mà nhận biết được. Nào có ai hái trái nho nơi bụi gai, hay là trái
vả nơi bụi tật lê?
17. Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây
nào xấu thì sanh trái xấu.
18. Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây
xấu cũng chẳng sanh được trái tốt.
19. Hễ cây nào chẳng sanh trái tốt,
thì phải đốn mà chụm đi.
20. Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà
nhận biết được.
21. Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa,
lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý
muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.
22. Ngày đó, sẽ có nhiều người
thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa
mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa
mà làm nhiều phép lạ sao?
23. Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng:
Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi
ta!
24. Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời ta phán đây, thì giống như một
người khôn ngoan cất nhà mình trên hòn đá.
25. Có mưa sa, nước chảy,
gió lay, xô động nhà ấy; song không sập, và đã cất trên đá.
26. Kẻ nào
nghe lời ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà
mình trên đất cát.
27. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy,
thì bị sập, hư hại rất nhiều.
28. Vả, khi Ðức Chúa Jêsus vừa phán những
lời ấy xong, đoàn dân lấy đạo Ngài làm lạ;
29. vì Ngài dạy như là có
quyền, chớ không giống các thầy thông giáo.
Ma-thi-ơ 8 chọn
đoạn khác
1. Khi
Ðức Chúa Jêsus ở trên núi xuống, có đoàn dân đông lắm theo Ngài.
2.
Nầy, có một người phung đến gần, lạy Ngài, mà thưa rằng: Lạy Chúa, nếu
Chúa khứng, chắc có thể làm cho tôi sạch được.
3. Ðức Chúa Jêsus giơ
tay rờ người, mà phán cùng người rằng: Ta khứng, hãy sạch đi. Tức thì
người phung được sạch.
4. Ðức Chúa Jêsus bèn phán cùng người rằng: Hãy
giữ, chớ nói cùng ai; song hãy đi tỏ mình cùng thầy cả, và dâng của lễ
theo như Môi-se dạy, để làm chứng cho họ.
5. Khi Ðức Chúa Jêsus vào
thành Ca-bê-na-um, có một thầy đội đến cùng Ngài,
6. mà xin rằng: Lạy
Chúa, đứa đầy tớ tôi mắc bịnh bại, nằm liệt ở nhà tôi, đau đớn lắm.
7.
Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta sẽ đến, chữa cho nó được lành.
8. Thầy đội
thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng đáng rước Chúa vào nhà; xin Chúa chỉ phán
một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành.
9. Vì tôi ở dưới quyền người
khác, tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi nữa; tôi biểu tên nầy rằng: hãy
đi! thì nó đi; biểu tên kia rằng: Hãy đến! thì nó đến; và dạy đầy tớ tôi
rằng: Hãy làm việc nầy! thì nó làm.
10. Ðức Chúa Jêsus nghe lời đó rồi,
lấy làm lạ, mà phán cùng những kẻ đi theo rằng: Quả thật, ta nói cùng các
ngươi, ta chưa hề thấy ai trong dân Y-sơ-ra-ên có đức tin lớn dường
ấy.
11. Ta cũng nói cùng các ngươi, có nhiều người từ đông phương, tây
phương sẽ đến, ngồi đồng bàn với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp trong nước
thiên đàng.
12. Nhưng các con bổn quốc sẽ bị liệng ra chốn tối tăm ở
ngoài, tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.
13. Ðức Chúa Jêsus bèn
phán cùng thầy đội rằng: Hãy về, theo như điều ngươi tin thì sẽ được thành
vậy. Và chính trong giờ ấy, đứa đầy tớ được lành.
14. Ðoạn, Ðức Chúa
Jêsus vào nhà Phi-e-rơ, thấy bà gia người nằm trên giường, đau rét.
15.
Ngài bèn rờ tay người bịnh, rét liền mất đi; rồi người đứng dậy giúp việc
hầu Ngài.
16. Ðến chiều, người ta đem cho Ðức Chúa Jêsus nhiều kẻ bị
quỉ ám, Ngài lấy lời nói mà đuổi quỉ ra; cũng chữa được hết thảy những
người bịnh,
17. vậy cho được ứng nghiệm lời của Ðấng tiên tri Ê-sai đã
nói rằng: Chính Ngài đã lấy tật nguyền của chúng ta, và gánh bịnh hoạn của
chúng ta.
18. Vả, khi Ðức Chúa Jêsus thấy đoàn dân đông lắm ở xung
quanh mình, bèn truyền qua bờ bên kia.
19. Có một thầy thông giáo đến,
thưa cùng Ngài rằng: Lạy thầy, thầy đi đâu, tôi sẽ theo đó.
20. Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không
có chỗ mà gối đầu.
21. Lại một môn đồ khác thưa cùng Ngài rằng: Lạy
Chúa, xin Chúa cho phép tôi về chôn cha tôi trước đã.
22. Nhưng Ðức
Chúa Jêsus phán rằng: Hãy theo ta, để kẻ chết chôn kẻ chết.
23. Kế đó,
Ðức Chúa Jêsus xuống thuyền, các môn đồ theo Ngài.
24. Thình lình biển
nổi bão lớn, đến nỗi sóng dậy phủ thuyền; nhưng Ngài đương ngủ.
25. Các
môn đồ đến gần, đánh thức Ngài, mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin cứu chúng tôi
với, chúng tôi hầu chết!
26. Ngài phán rằng: hỡi kẻ ít đức tin kia, cứ
sao các ngươi sợ? Ngài bèn đứng dậy, quở gió và biển; thì liền yên lặng
như tờ.
27. Những người đó lấy làm lạ, nói rằng: Người nầy là ai, mà
gió và biển đều vâng lịnh người?
28. Ðức Chúa Jêsus qua bờ bên kia rồi,
tại xứ dân Ga-đa-ra, gặp hai người bị quỉ ám ở nơi mồ đi ra, bộ dữ tợn
lắm, đến nỗi không ai dám đi ngang qua đường đó.
29. Chúng nó la lên
rằng: Lạy Con Ðức Chúa Trời, chúng tôi với Ngài có can hệ gì chẳng? Có
phải Ngài đến đây để làm khổ chúng tôi trước kỳ không?
30. Vả, khi ấy,
ở đàng xa có một bầy heo đông đương ăn.
31. Các quỉ xin Ðức Chúa Jêsus
rằng: Nếu Chúa đuổi chúng tôi ra, xin cho nhập vào bầy heo đó.
32. Ngài
biểu các quỉ rằng: Hãy đi đi! Các quỉ ra khỏi hai người đó, liền nhập vào
bầy heo. Tức thì cả bầy ở trên dốc núi nhảy xuống biển, thảy đều chết chìm
dưới nước.
33. Những đứa chăn heo bèn chạy trốn, trở về thành, thuật
các chuyện đã xảy ra, và chuyện hai người bị quỉ ám nữa.
34. Cả thành
liền ra đón Ðức Chúa Jêsus; khi vừa thấy Ngài, thì xin Ngài đi khỏi xứ
mình.
Ma-thi-ơ 9
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus xuống thuyền lại trở qua
biển và đến thành mình.
2. Nầy, có người đem lại cho Ngài một người đau
bại nằm trên giường. Ðức Chúa Jêsus thấy đức tin của các ngươi đó, thì
phán cùng người bại rằng: Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được
tha.
3. Khi ấy, có một vài thầy thông giáo đều nghĩ thầm rằng: Người
nầy nói lộng ngôn.
4. Song Ðức Chúa Jêsus biết ý tưởng mấy thầy đó, thì
phán rằng: Nhơn sao trong lòng các ngươi có ác tưởng làm vậy?
5. Trong
hai lời nầy: một là nói, tội lỗi ngươi đã được tha; hai là nói, ngươi hãy
đứng dậy mà đi, thì lời nào dễ nói hơn
6. Vả, hầu cho các ngươi biết
Con người ở thế gian có quyền tha tội, thì Ngài phán cùng người bại rằng:
Hãy đứng dậy, vác lấy giường, mà trở về nhà ngươi.
7. Người bại liền
dậy mà trở về nhà mình.
8. Ðoàn dân thấy phép lạ đó, thì ai nấy đều sợ
hãi, và ngợi khen Ðức Chúa Trời đã cho người ta được phép tắc dường
ấy.
9. Ðức Chúa Jêsus đã đi khỏi nơi đó rồi, thấy một người tên là
Ma-thi-ơ đương ngồi tại sở thâu thuế, bèn phán cùng người rằng: Hãy theo
ta. Người liền đứng dậy, mà theo Ngài.
10. Vả, đương khi Ðức Chúa Jêsus
ngồi ăn tại nhà Ma-thi-ơ, có nhiều người thâu thuế cùng kẻ xấu nết đến
ngồi ăn với Ngài và môn đồ Ngài.
11. Người Pha-ri-si thấy vậy, thì nói
cùng môn đồ Ngài rằng: Làm sao thầy các ngươi ngồi ăn chung với người thâu
thuế và kẻ xấu nết vậy?
12. Ðức Chúa Jêsus nghe đều đó, bèn phán rằng:
Chẳng phải là người khỏe mạnh cần thầy thuốc đâu, song là người có
bịnh.
13. Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự
thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ
công bình, song kêu kẻ có tội.
14. Khi ấy, các môn đồ của Giăng đến tìm
Ðức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Cớ sao chúng tôi và những người Pha-ri-si
kiêng ăn, còn môn đồ thầy không kiêng ăn?
15. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng:
Trong khi chàng rể còn ở với bạn hữu đến mừng cưới, thì những bạn hữu đó
có thể nào buồn rầu được ư? Nhưng đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi
họ, thì họ mới kiêng ăn.
16. Không có ai vá miếng nỉ mới vào cái áo cũ;
vì nếu làm vậy, miếng nỉ mới sẽ chẳng rách áo cũ, và đàng rách trở nên xấu
hơn.
17. Cũng không có ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm vậy thì
bầu nứt, rượu chảy ra, và bầu phải hư; song ai nấy đổ rượu mới vào bầu
mới, thì giữ được cả hai bề.
18. Ðang khi Ðức Chúa Jêsus phán các điều
đó, xảy có người cai nhà hội kia bước vào, quì lạy trước mặt Ngài mà thưa
rằng: Con gái tôi mới chết; xin Chúa đến, đặt tay trên nó, thì nó sẽ được
sống.
19. Ðức Chúa Jêsus bèn đứng dậy, cùng môn đồ Ngài đều đi theo
người.
20. Nầy, có một người đờn bà mắc bịnh mất huyết đã mười hai năm,
lại gần sau lưng mà rờ đến trôn áo Ngài.
21. Vì người đờn bà ấy tự nghĩ
rằng: Nếu ta chỉ rờ áo Ngài, thì cũng sẽ được lành.
22. Ðức Chúa Jêsus
xây mặt lại, thấy người đờn bà, thì phán rằng: hỡi con, hãy vững lòng, đức
tin con đã làm cho con được lành. Liền trong giờ đó, người đờn bà lành
bịnh.
23. Khi Ðức Chúa Jêsus đến nhà người cai nhà hội, thấy bọn thổi
sáo, và chúng làm om sòm,
24. thì phán rằng: Các ngươi hãy lui ra; con
gái nhỏ nầy chẳng phải chết đâu, nhưng nó ngủ. Chúng nghe thì chê cười
Ngài.
25. Bọn đó đã bị đuổi ra rồi, Ngài bèn vào, cầm lấy tay đứa gái,
thì nó liền chờ dậy.
26. Tin nầy đồn ra khắp cả xứ đó.
27. Ðức Chúa
Jêsus ở đó ra đi, có hai người mù theo Ngài mà kêu rằng: Hỡi con cháu vua
Ða-vít, xin thương chúng tôi cùng!
28. Khi Ngài đã vào nhà rồi, hai
người mù đến; Ngài bèn phán rằng: Hai ngươi tin ta làm được đều hai ngươi
ao ước sao? Họ thưa rằng: Lạy Chúa được.
29. Ngài bèn rờ mắt hai người
mà phán rằng: Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy.
30. Mắt
hai người liền mở. Ðức Chúa Jêsus lấy giọng nghiêm phán rằng: Hãy giữ,
đừng cho ai biết chuyện nầy.
31. Song lúc hai người ra khỏi nhà, thì
đồn danh tiếng Ngài khắp cả xứ.
32. Khi đi khỏi chỗ đó, thì người ta
đem tới cho Ngài một người câm bị quỉ ám.
33. Quỉ bị đuổi ra rồi, thì
người câm nói được. Ðoàn dân lấy làm lạ mà nói rằng: Không hề bao giờ thấy
sự như vậy trong dân Y-sơ-ra-ên.
34. Nhưng người Pha-ri-si lại nói
rằng: Người nầy cậy phép chúa quỉ mà trừ quỉ.
35. Ðức Chúa Jêsus đi
khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành nước
Ðức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bịnh.
36. Khi Ngài thấy những
đám dân đông, thì động lòng thương xót, vì họ khốn cùng, và tan lạc như
chiên không có kẻ chăn.
37. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Mùa gặt thì
thật trúng, song con gặt thì ít.
38. Vậy, hãy cầu xin chủ mùa gặt sai
con gặt đến trong mùa mình.
Ma-thi-ơ 10 chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus
gọi mười hai môn đồ đến, ban quyền phép trừ tà ma, và chữa các thứ tật
bịnh.
2. Tên mười hai sứ đồ như sau nầy: Sứ đồ thứ nhứt là Si-môn, cũng
gọi là Phi-e-rơ, và Anh-rê là em người; Gia-cơ con của Xê-bê-đê, và Giăng
là em Gia-cơ;
3. Phi-líp cùng Ba-tê-lê-my; Thô-ma, và Ma-thi-ơ là người
thâu thuế; Gia-cơ con của A-phê, cùng Tha-đê;
4. Si-môn là người
Ca-na-an, cùng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là kẻ phản Ðức Chúa Jêsus.
5. Ấy đó
là mười hai sứ đồ Ðức Chúa Jêsus sai đi, và có truyền rằng: Ðừng đi đến
dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri cả;
6. song thà
đi đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.
7. Khi đi đàng,
hãy rao giảng rằng: Nước thiên đàng gần rồi.
8. Hãy chữa lành kẻ đau,
khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã được
lãnh không thì hãy cho không.
9. Ðừng đem vàng, hoặc bạc, hoặc tiền
trong lưng các ngươi;
10. cũng đừng đem cái bao đi đường, hoặc hai áo,
hoặc giày, hoặc gậy; vì người làm việc đáng được đồ ăn.
11. Các ngươi
vào thành nào hay là làng nào, hãy hỏi thăm ai là người đáng tiếp rước
mình, rồi ở nhà họ cho đến lúc đi.
12. Và khi vào nhà nào, hãy cầu bình
an cho nhà ấy;
13. nếu nhà đó xứng đáng, thì sự bình an các ngươi xuống
cho; bằng không, thì sự bình an các ngươi trở về các ngươi.
14. Nếu ai
không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là
thành đó, hãy phủi bụi đã dính chơn các ngươi.
15. Quả thật, ta nói
cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu
đoán phạt nhẹ hơn thành ấy.
16. Kìa, ta sai các ngươi đi khác nào như
chiên vào giữa bầy muông sói. Vậy, hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim
bò câu.
17. Hãy coi chừng người ta; vì họ sẽ nộp các ngươi trước tòa
án, đánh đòn các ngươi trong nhà hội;
18. lại vì cứ ta mà các ngươi sẽ
bị giải đến trước mặt các quan tổng đốc và các vua, để làm chứng trước mặt
họ và các dân ngoại.
19. Song khi họ sẽ đem nộp các ngươi, thì chớ lo
về cách nói làm sao, hoặc nói lời gì; vì những lời đáng nói sẽ chỉ cho các
ngươi chính trong giờ đó.
20. Ấy chẳng phải tự các ngươi nói đâu, song
là Thánh-Linh của Cha các ngươi sẽ từ trong lòng các ngươi nói ra.
21.
Anh sẽ nộp em cho bị giết, cha sẽ nộp con cho bị giết, con cái sẽ dấy lên
nghịch cùng cha mẹ mà làm cho người phải chết đi.
22. Các ngươi lại sẽ
bị thiên hạ ghen ghét và danh ta; song ai bền lòng cho đến cuối cùng, thì
sẽ được rỗi.
23. Khi nào người ta bắt bớ các ngươi trong thành nầy, thì
hãy trốn qua thành kia; vì ta nói thật, các ngươi đi chưa khắp các thành
dân Y-sơ-ra-ên thì Con người đã đến rồi.
24. Môn đồ không hơn thầy, tôi
tớ không hơn chủ.
25. Môn đồ được như thầy, tôi tớ được như chủ, thì
cũng đủ rồi. Nếu người ta đã gọi chủ nhà là Bê-ên-xê-bun, phương chi là
người nhà!
26. Vậy, các ngươi đừng sợ; vì chẳng có việc gì giấu mà
chẳng phải bày ra, cũng chẳng có việc gì kín nhiệm mà sau sẽ chẳng
biết.
27. Cho nên lời ta phán cùng các ngươi trong nơi tối tăm, hãy nói
ra nơi sáng láng; và lời các ngươi nghe kề lỗ tai, hãy giảng ra trên mái
nhà.
28. Ðừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng
thà sợ Ðấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục.
29.
Hai con chim sẻ há chẳng từng bị bán một đồng tiền sao? Và ví không theo ý
muốn Cha các ngươi, thì không hề một con nào rơi xuống đất.
30. Tóc
trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi.
31. Vậy, đừng sợ chi hết, vì
các ngươi quí trọng hơn nhiều con chim sẻ.
32. Bởi đó, ai xưng ta ra
trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên
trời;
33. còn ta chối ta trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ chối họ
trước mặt Cha ta ở trên trời.
34. Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình
an cho thế gian; ta đến, không phải đem sự bình an, mà là đem gươm
dáo.
35. Ta đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, dâu với bà
gia;
36. và người ta sẽ có kẻ thù nghịch, là người nhà mình.
37. Ai
yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái
hơn ta thì cũng không đáng cho ta;
38. ai không vác thập tự mình mà
theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta.
39. Ai gìn giữ sự sống mình, thì
sẽ mất; còn ai vì cớ ta mất sự sống mình, thì sẽ tìm lại được.
40. Ai
rước các ngươi, tức là rước ta; ai rước ta, tức là rước Ðấng đã sai
ta.
41. Ai rước một đấng tiên tri vì là tiên tri, thì sẽ lãnh phần
thưởng của đấng tiên tri; ai rước một người công chính vì là công chính,
thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính.
42. Ai sẽ cho một người
trong bọn nhỏ nầy chỉ uống một chén nước lạnh, vì người nhỏ đó là môn đồ
ta, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ ấy sẽ chẳng mất phần thưởng của
mình đâu.
Ma-thi-ơ 11
chọn
đoạn khác
1. Vả, Ðức Chúa Jêsus đã dạy các điều đó
cho mười hai môn đồ rồi, bèn lìa khỏi chỗ nầy đặng đi giảng dạy trong các
thành xứ đó.
2. Khi Giăng ở trong ngục nghe nói về các công việc của
Ðấng Christ, thì sai môn đồ mình đến thưa cùng Ngài rằng:
3. Thầy có
phải là Ðấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi Ðấng khác
chăng?
4. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: hãy về thuật lại cùng Giăng những
điều các ngươi nghe và thấy:
5. kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ
phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn
được nghe giảng tin lành.
6. Phước cho ai chẳng vấp phạm vì cớ
ta!
7. Khi họ ra về, Ðức Chúa Jêsus mới phán về việc Giăng cho đoàn dân
nghe, rằng: Các ngươi đã đi xem chi trong đồng vắng? Có phải xem cây sậy
bị gió rung chăng?
8. Các ngươi đi xem cái chi nữa? Có phải xem người
mặc áo tốt đẹp chăng? Kìa, những người mặc áo tốt đẹp thì ở trong đền
vua.
9. Nhưng các ngươi lại đi xem cái chi nữa? Có phải là xem đấng
tiên tri chăng? Phải, ta nói cùng các ngươi, cũng hơn đấng tiên tri
nữa.
10. Ấy vì người đó mà có chép rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước
mặt con, Ðặng dọn đường sẵn cho con đi.
11. Quả thật, ta nói cùng các
ngươi, trong những người bởi đờn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng
hơn Giăng Báp-tít, nhưng mà kẻ rất nhỏ hèn trong nước thiên đàng còn được
tôn trọng hơn người.
12. Song, từ ngày Giăng Báp-tít đến nay, nước
thiên đàng bị hãm ép, và là kẻ hãm ép đó choán lấy.
13. Vì hết thảy các
đấng tiên tri và sách luật đã nói trước cho đến đời Giăng.
14. Nếu các
ngươi muốn hiểu biết, thì ấy là Ê-li, là đấng phải đến.
15. Ai có tai
mà nghe, hãy nghe.
16. Ta sẽ sánh dòng dõi nầy với ai? Dòng dõi nầy
giống như con trẻ ngồi giữa chợ, kêu la cùng bạn mình,
17. mà rằng: Ta
đã thổi sáo, mà bay không nhảy múa; ta đã than vãn, mà bay không
khóc.
18. Vì Giăng đã đến, không ăn, không uống, người ta nói rằng:
Giăng bị quỉ ám.
19. Con người đến, hay ăn hay uống, thì họ nói rằng:
Kìa, là người ham ăn mê uống, bạn bè với người thâu thuế cùng kẻ xấu nết.
Song le, sự khôn ngoan được xưng là phải, bởi những việc làm của sự
ấy.
20. Vì dân các thành mà Ðức Chúa Jêsus đã làm rất nhiều phép lạ
rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng:
21. Khốn nạn cho mầy, thành
Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa bay, đem làm trong thành Ty-rơ
và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu
rồi.
22. Vậy nên ta bảo bay, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành
Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn bay.
23. Còn mầy, Ca-bê-na-um là thành
đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm
giữa mầy, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày
nay.
24. Vậy nên ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu
đoán phạt nhẹ hơn mầy.
25. Lúc đó, Ðức Chúa Jêsus nói rằng: Hỡi Cha! là
Chúa đã giấu những điều này với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho
những con trẻ hay.
26. Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy
điều đó là tốt lành.
27. Mọi việc Cha ta đã giao cho ta; ngoài Cha
không có ai biết Con; ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì
cũng không ai biết Cha.
28. Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến
cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.
29. Ta có lòng nhu mì,
khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn
các ngươi sẽ được yên nghỉ.
30. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ
nhàng.
Ma-thi-ơ 12
chọn
đoạn khác
1. Lúc đó, nhằm ngày Sa-bát, Ðức Chúa
Jêsus đi qua giữa đồng lúa mì; các môn đồ đói, bứt bông lúa mà ăn.
2.
Người Pha-ri-si thấy vậy, bèn nói cùng Ngài rằng: Kìa môn đồ thầy làm điều
không nên làm trong ngày Sa-bát.
3. Song Ngài đáp rằng: Chuyện vua
Ða-vít đã làm trong khi vua với kẻ đi theo bị đói, các ngươi há chưa đọc
đến sao?
4. tức là vua vào đền Ðức Chúa Trời, ăn bánh bày ra, là bánh
mà vua và kẻ đi theo không có phép ăn, chỉ để riêng cho các thầy tế
lễ.
5. Hay là các ngươi không đọc trong sách luật, đến ngày Sa-bát, các
thầy tế lễ trong đền thờ phạm luật ngày đó, mà không phải tội sao?
6.
Vả lại, ta phán cùng các ngươi, tại chỗ nầy có một đấng tôn trọng hơn đền
thờ.
7. Phải chi các ngươi hiểu nghĩa câu nầy: Ta muốn lòng nhân từ,
không muốn của tế lễ, thì các ngươi không trách những người vô tội;
8.
vì Con người là Chúa ngày Sa-bát.
9. Ðức Chúa Jêsus đi khỏi nơi đó, bèn
vào nhà hội.
10. Ở đó, có một người teo một bàn tay. Có kẻ hỏi Ngài
rằng: Trong ngày Sa-bát, có phép chữa kẻ bịnh hay không? Ấy là họ có ý
kiếm dịp kiện Ngài.
11. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ai trong vòng các
ngươi có một con chiên, nếu đương ngày Sa-bát, bị té xuống hầm, thì há
không kéo nó lên sao?
12. Huống chi người ta trọng hơn con chiên là
dường nào! Vậy, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành.
13. Ðoạn, Ngài
phán cùng người tay teo rằng: Hãy giơ tay ra. Người liền giơ tay, thì tay
nầy cũng lành như tay kia.
14. Những người Pha-ri-si đi ra ngoài rồi
bàn với nhau, lập mưu đặng giết Ngài.
15. Song Ðức Chúa Jêsus biết điều
ấy, thì bỏ đi khỏi chỗ đó; có nhiều người theo, và Ngài chữa lành
cả.
16. Ngài cấm ngặt họ đừng cho ai biết Ngài;
17. để được ứng
nghiệm lời đấng tiên tri Ê-sai đã nói rằng:
18. Nầy, tôi tớ ta đã chọn,
Là người mà ta rất yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng. Ta sẽ cho Thánh Linh ta
ngự trên người, Người sẽ rao giảng sự công bình cho dân ngoại.
19.
Người sẽ chẳng cãi lẫy, chẳng kêu la, Và chẳng ai nghe được tiếng người
ngoài đường cái.
20. Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã gãy, chẳng tắc ngọn
đèn gần tàn, Cho đến chừng nào người khiến sự công bình được thắng.
21.
Dân ngoại sẽ trông cậy danh người.
22. Bấy giờ có kẻ đem đến cho Ðức
Chúa Jêsus một người mắc quỉ ám, đui và câm; Ngài chữa cho, đến nỗi người
câm nói và thấy được.
23. Chúng lấy làm lạ, mà nói rằng: Có phải người
đó là con cháu vua Ða-vít chăng?
24. Song những người Pha-ri-si nghe
vậy, thì nói rằng: Người nầy chỉ nhờ Bê-ên-xê-bun là chúa quỉ mà trừ quỉ
đó thôi.
25. Ðức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ, thì phán rằng: Một nước mà
chia xé nhau thì bị phá hoang; một thành hay là một nhà mà chia xé nhau
thì không còn được.
26. Nếu quỉ Sa-tan trừ quỉ Sa-tan, ấy là tự nó chia
xé nhau; thì nước nó làm sao còn được ư?
27. Và nếu ta nhờ Bê-ên-xê-bun
mà trừ quỉ, thì con các ngươi nhờ ai mà trừ quỉ ư? Bởi đó, chính chúng nó
sẽ xử đoán các ngươi vậy.
28. Mà nếu ta cậy Thánh Linh của Ðức Chúa
Trời để trừ quỉ, thì nước Ðức Chúa Trời đã đến tận các ngươi.
29. Hay
là, có lẽ nào, ai vào nhà một người mạnh sức để cướp lấy của, mà trước
không trói người mạnh sức ấy được sao? Phải trói người rồi mới cướp của
nhà người được.
30. Ai không ở với ta, thì nghịch cùng ta; ai không
thâu hiệp với ta, thì tan ra.
31. Ấy vậy, ta phán cùng các ngươi, các
tội lỗi và lời phạm thượng của người ta đều sẽ được tha; song lời phạm
thượng đến Ðức Thánh Linh thì sẽ chẳng được tha đâu.
32. Nếu ai nói
phạm đến Con người, thì sẽ được tha; song nếu ai nói phạm đến Ðức Thánh
Linh, thì dầu đời nầy hay đời sau cũng sẽ chẳng được tha.
33. Hoặc cho
là cây tốt thì trái cũng tốt, hoặc cho là cây xấu thì trái cũng xấu; vì
xem trái thì biết cây.
34. Hỡi dòng dõi rắn lục; bay vốn là loài xấu,
làm sao nói được sự tốt? Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói
ra.
35. Người lành do nơi đã chứa điều thiện mà phát ra điều thiện;
nhưng kẻ dữ do nơi đã chứa điều ác mà phát ra điều ác.
36. Vả, ta bảo
các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình
đã nói;
37. vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi
lời nói mà ngươi sẽ bị phạt.
38. Bấy giờ có mấy thầy thông giáo và
người Pha-ri-si thưa cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Bẩm thầy, chúng tôi muốn
xem thầy làm dấu lạ.
39. Ngài đáp rằng: Dòng dõi hung ác gian dâm này
xin một dấu lạ, nhưng sẽ chẳng cho dấu lạ khác ngoài dấu lạ của đấng tiên
tri Giô-na.
40. Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm,
cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.
41. Ðến
ngày phán xét, dân thành Ni-ni-ve sẽ đứng dậy với dòng dõi nầy mà lên án
nó, vì dân ấy đã nghe lời Giô-na giảng và ăn năn; mà đây nầy, có một người
tôn trọng hơn Giô-na!
42. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ
đứng dậy với dòng dõi nầy mà lên án nó, vì người từ nơi cùng trái đất đến
nghe lời khôn ngoan vua Sa-lô-môn; mà đây nầy, có một người tôn trọng hơn
vua Sa-lô-môn!
43. Khi tà ma ra khỏi một người, thì nó đi đến nơi khô
khan kiếm chỗ nghỉ, nhưng kiếm không được;
44. rồi nói nói rằng: Ta sẽ
trở về nhà ta mà ta mới ra khỏi; khi trở về, thấy nhà không, quét sạch, và
sửa soạn tử tế.
45. Nó bèn lại đi, đem về bảy quỉ khác dữ hơn nó nữa,
cùng vào nhà đó mà ở; vậy số phận người ấy sau lại xấu hơn trước. Dòng dõi
dữ nầy cũng như vậy.
46. Khi Ðức Chúa Jêsus còn phán cùng dân chúng,
thì mẹ và anh em Ngài đến đứng ngoài, muốn nói cùng Ngài.
47. có người
thưa cùng Ngài rằng: Ðây nầy, mẹ và anh em thầy ở ngoài, muốn nói cùng
thầy.
48. Ngài đáp rằng: Ai là mẹ ta, ai là anh em ta?
49. Ngài giơ
tay chỉ các môn đồ mình, mà phán rằng: Nầy là mẹ ta cùng anh em ta!
50.
Vì hễ ai làm theo ý muốn Cha ta ở trên trời, thì người đó là anh em, chị
em ta, cùng là mẹ ta vậy.
Ma-thi-ơ 13 chọn
đoạn khác
1. Cũng ngày ấy,
Ðức Chúa Jêsus ra khỏi nhà, ngồi bên mé biển.
2. Ðoàn dân nhóm họp xung
quanh Ngài đông lắm, đến nỗi Ngài phải xuống thuyền mà ngồi, còn cả đoàn
dân đứng trên bờ.
3. Ngài dùng thí dụ mà giảng nhiều điều cùng họ. Ngài
phán như vầy: Có người gieo giống đi ra đặng gieo.
4. Khi đương gieo,
một phần giống rơi dọc đường, chim bay xuống và ăn.
5. Một phần khác
rơi nhằm chỗ đất đá sỏi, chỉ có ít đất thịt, bị lấp không sâu, liền mọc
lên;
6. song khi mặt trời mọc lên, thì bị đốt, và vì không có rễ, nên
phải héo.
7. Một phần khác rơi nhằm bụi gai, gai mọc rậm lên, phải
nghẹt ngòi.
8. Một phần khác nữa rơi nhằm chỗ đất tốt, thì sanh trái;
hoặc một hột ra được một trăm, hoặc một hột sáu chục, hoặc một hột ba
chục.
9. Ai có tai, hãy nghe!
10. Môn đồ bèn đến gần Ngài mà hỏi
rằng: sao thầy dùng thí dụ mà phán cùng chúng vậy?
11. Ngài đáp rằng:
bởi vì đã ban cho các ngươi được biết những điều mầu nhiệm của nước thiên
đàng, song về phần họ, thì không ban cho biết.
12. Vì sẽ cho thêm kẻ
nào đã có, thì họ sẽ được dư dật; nhưng kẻ nào không có, thì lại cất luôn
điều họ đã có nữa.
13. Vậy nên ta phán thí dụ cùng chúng; vì họ xem mà
không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu chi hết.
14. Vậy, về
họ, đã được ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai rằng: Các ngươi sẽ lắng tai
nghe, mà chẳng hiểu chi; Lấy mắt xem mà chẳng thấy chi.
15. Vì lòng dân
nầy đã cứng cỏi; Ðã làm cho nặng tai Và nhắm mắt mình lại, E khi mắt mình
thấy được, Tai mình nghe được, Lòng mình hiểu được, Họ tự hối cải lại, Và
ta chữa họ được lành chăng.
16. Nhưng phước cho mắt các ngươi, vì thấy
được; phước cho tai các ngươi, vì nghe được!
17. Quả thật, ta nói cùng
các ngươi, có nhiều đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ước ao thấy
điều các ngươi thấy, mà chẳng được thấy; ước ao nghe điều các ngươi nghe,
mà chẳng được nghe.
18. Ấy vậy, các ngươi hãy nghe nghĩa ví dụ về kẻ
gieo giống là gì.
19. Khi người nào nghe đạo nước thiên đàng, mà không
hiểu, thì quỉ dữ đến cướp điều đã gieo trong lòng mình; ấy là kẻ chịu lấy
hột giống rơi ra dọn đàng.
20. Người nào chịu lấy hột giống nơi đất đá
sỏi, tức là kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy;
21. song trong lòng
không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, đến khi vì đạo mà gặp sự cực khổ, sự
bắt bớ, thì liền vấp phạm.
22. Kẻ nào chịu lấy hột giống nơi bụi gai,
tức là kẻ nghe đạo; mà sự lo lắng về đời nầy, và sự mê đắm và của cải, làm
cho nghẹt ngòi đạo và thành ra không kết quả.
23. Song, kẻ nào chịu lấy
hột giống nơi đất tốt, tức là kẻ nghe đạo và hiểu; người ấy được kết quả
đến nỗi một hột ra một trăm, hột khác sáu chục, hột khác ba chục.
24.
Ðức Chúa Jêsus phán ví dụ khác cùng chúng rằng: Nước thiên đàng giống như
người kia gieo giống tốt trong ruộng mình.
25. Nhưng đương khi người ta
ngủ, thì kẻ thù chủ ruộng liền đến, gieo cỏ lùng vào trong lúa mì, rồi
đi.
26. Ðến khi lúa mì lớn lên, và trổ bông, thì cỏ lùng cũng lòi
ra.
27. Các đầy tớ của chủ nhà bèn đến thưa rằng: Thưa chủ, chủ không
gieo giống tốt trong ruộng chủ sao: Vậy thì cỏ lùng bởi đâu mà ra?
28.
Chủ đáp rằng: Ấy là một kẻ thù đã làm điều đó. Các đầy tớ thưa rằng: Vậy
chủ có muốn chúng tôi đi nhổ cỏ đó chăng?
29. Chủ rằng: Chẳng nên, e
khi nhổ cỏ lùng, hoặc các ngươi nhổ lộn lúa mì đi chăng.
30. Hãy để cho
cả hai thứ cùng lớn lên cho đến mùa gặt; đến mùa gặt, ta sẽ dặn con gặt
rằng: trước hết hãy nhổ cỏ lùng, bó lại từng bó mà đốt đi; song hãy thâu
trử lúa mì vào kho ta.
31. Ngài lấy ví dụ khác mà phán rằng: Nước thiên
đàng giống như một hột cải mà người kia lấy gieo trong ruộng mình;
32.
hột ấy thật nhỏ hơn cả các giống khác, song khi đã mọc lên, thì lớn hơn
các thứ rau, và trở nên cây cối, cho đến nỗi chim trời tới làm ổ trên
nhành nó được.
33. Ngài lấy ví dụ khác nữa mà phán rằng: Nước thiên
đàng giống như men mà người đờn bà kia lấy trộn vào trong ba đấu bột, cho
đến chừng nào bột dậy cả lên.
34. Ðức Chúa Jêsus lấy lời ví dụ mà phán
những điều đó cùng đoàn dân, Ngài chẳng phán điều gì cùng họ mà không dùng
lời ví dụ,
35. để được ứng nghiệm lời đấng tiên tri rằng: Ta sẽ mở
miệng ra mà nói lời ví dụ, Ta sẽ rao bảo những điều kín nhiệm từ khi dựng
nên trời đất.
36. Bấy giờ, Ðức Chúa Jêsus cho chúng về, rồi vào nhà;
môn đồ đến gần mà hỏi Ngài rằng: Xin thầy giải lời ví dụ về cỏ lùng trong
ruộng cho chúng tôi.
37. Ngài đáp rằng: Kẻ gieo giống tốt, là Con
người;
38. ruộng là thế gian; giống tốt, là con cái nước thiên đàng; cỏ
lùng, là con cái quỉ dữ;
39. kẻ nghịch thù gieo cỏ ấy, là ma quỉ; mùa
gặt, là ngày tận thế; con gặt, là các thiên sứ.
40. Còn người ta nhổ cỏ
lùng mà đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận thế cũng sẽ như vậy;
41.
Con người sẽ sai các thiên sứ Ngài thâu mọi gương xấu và những kẻ làm ác
khỏi nước Ngài,
42. và quăng những người đó vào lò lửa, là nơi sẽ có
khóc lóc và nghiến răng.
43. Khi ấy, những người công bình sẽ chói rạng
như mặt trời trong nước của Cha mình. Ai có tai, hãy nghe!
44. Nước
thiên đàng giống như của báu chôn trong một đám ruộng kia. Một người kia
tìm được thì giấu đi, vui mừng mà trở về, bán hết gia tài mình, mua đám
ruộng đó.
45. Nước thiên đàng lại giống như một người lái buôn kiếm
ngọc châu tốt,
46. khi đã tìm được một hột châu quí giá, thì đi bán hết
gia tài mình mà mua hột châu đó.
47. Nước thiên đàng cũng giống như một
tay lưới thả xuống biển, bắt đủ mọi thứ cá.
48. Khi lưới được đầy rồi,
thì người đánh cá kéo lên bờ; đoạn, ngồi mà chọn giống tốt để riêng ra,
đem bỏ vào rổ, còn giống xấu thì ném đi.
49. Ðến ngày tận thế cũng như
vầy: các thiên sứ sẽ đến và chia kẻ ác với người công bình ra,
50. ném
những kẻ ác vào lò lửa; ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.
51. Các
ngươi có hiểu mọi điều đó chăng! Các môn đồ thưa rằng: Có hiểu.
52.
Ngài bèn phán rằng: Vì cớ ấy, mọi thầy thông giáo đã học thông đạo về nước
thiên đàng, thì giống như một người chủ nhà kia, đem những vật mới và cũ ở
trong kho mình ra.
53. Ðức Chúa Trời phán các lời ví dụ ấy rồi, thì đi
khỏi chỗ đó.
54. Ngài về đến quê hương, rồi dạy dỗ trong nhà hội, đến
nỗi ai nghe cũng lấy làm lạ, mà nói rằng: Bởi đâu mà người nầy được khôn
ngoan và những phép lạ nầy?
55. Có phải là con người thợ mộc chăng? Mẹ
người có phải là Ma-ri, và anh em người là Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn, Giu-đê
chăng?
56. Chị em người đều ở giữa chúng ta chăng? bởi đâu mà người nầy
được mọi điều ấy như vậy?
57. Họ bèn vì cớ Ngài mà vấp phạm. Song Ðức
Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Ðấng tiên tri chỉ bị trong xứ mình và người
nhà mình khinh dể mà thôi.
58. Ở đó, Ngài không làm nhiều phép lạ, vì
chúng không có lòng tin.
Ma-thi-ơ 14 chọn
đoạn khác
1. Lúc ấy, Hê-rốt
là vua chư hầu, nghe tiếng đồn Ðức Chúa Jêsus,
2. thì phán cùng bầy tôi
rằng: Ðây là Giăng Báp-tít. Người chết đi sống lại, nhơn đó mới làm được
mấy phép lạ như vậy.
3. Số là, bởi cớ Hê-rô-đia, vợ Phi-líp, là em
mình, nên vua Hê-rốt đã truyền bắt trói Giăng và bỏ tù.
4. Vì Giăng có
can vua rằng: Vua không có phép được lấy người đó làm vợ.
5. Vua muốn
giết Giăng, song sợ dân chúng, vì họ đều tôn Giăng là đấng tiên tri.
6.
Vừa đến ngày ăn mừng sanh nhựt vua Hê-rốt, con gái của Hê-rê-đia nhảy múa
ở giữa người dự đám, vua lấy làm thích lắm,
7. đến nỗi lấy lời thề mà
hứa cho con gái ấy điều cho nàng muốn xin.
8. Vậy, nàng bị mẹ xui giục,
bèn tâu rằng: Xin lấy cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm mà cho tôi
đây.
9. Vua lấy làm buồn rầu; song vì đã thề lỡ rồi và có những người
dự yến ở đó, nên truyền cho nàng như lời.
10. Vua bèn sai người chém
Giăng trong ngục,
11. rồi họ để đầu người trên mâm mà đem cho con gái
ấy, nàng bèn đem cho mẹ mình.
12. Ðoạn, các môn đồ của Giăng đến, lấy
xác mà chôn, rồi đi báo tin cho Ðức Chúa Jêsus.
13. Ðức Chúa Jêsus vừa
nghe tin ấy liền bỏ đó xuống thuyền, đi tẻ ra nơi đồng vắng. Khi đoàn dân
biết vậy, thì từ các thành đi bộ mà theo Ngài.
14. Ngài ở thuyền bước
lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, mà chữa cho kẻ bịnh
được lành.
15. Ðến chiều tối, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Ở đây
vắng vẻ, và trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng
đặng mua đồ ăn.
16. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Không cần họ phải đi;
chính các ngươi hãy cho họ ăn.
17. Môn đồ thưa rằng: Chúng tôi có đây
năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
18. Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho
ta.
19. Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái
bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời mà tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho
môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng.
20. Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa
lại thâu được đầy mười hai giỏ.
21. Số người ăn ước chừng năm ngàn,
không kể đờn bà con nít.
22. Kế đó, Ngài liền hối môn đồ xuống thuyền,
qua trước bờ bên kia, trong khi Ngài đang truyền cho dân chúng tan
đi.
23. Xong rồi, Ngài lên núi để cầu nguyện riêng; đến chiều tối, Ngài
ở đó một mình.
24. Bấy giờ, thuyền đã ra giữa biển rồi, vì gió ngược,
nên bị sóng vỗ.
25. Song đến canh tư đêm ấy, Ðức Chúa Jêsus đi bộ trên
mặt biển mà đến cùng môn đồ.
26. Khi thấy Ngài đi bộ trên mặt biển, thì
môn đồ bối rối mà nói rằng: Ấy là một con ma; rồi sợ hãi mà la lên.
27.
Nhưng Ðức Chúa Jêsus liền phán rằng: Các ngươi hãy yên lòng; ấy là ta đây,
đừng sợ!
28. Phi-e-rơ bèn thưa rằng: Lạy Chúa, nếu phải Chúa, xin khiến
tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa.
29. Ngài phán rằng: Hãy lại đây!
Phi-e-rơ ở trên thuyền bước xuống, đi bộ trên mặt nước mà đến cùng Ðức
Chúa Jêsus.
30. Song khi thấy gió thổi, thì Phi-e-rơ sợ hãi, hòng sụp
xuống nước, bèn la lên rằng: Chúa ơn, xin cứu lấy tôi!
31. Tức thì Ðức
Chúa Jêsus giơ tay ra nắm lấy người, mà nói rằng: Hỡi người ít đức tin,
sao ngươi hồ nghi làm vậy?
32. Ngài cùng Phi-e-rơ lên thuyền rồi, thì
gió yên lặng.
33. Các người trong thuyền bèn đến quì lạy Ngài mà nói
rằng: Thầy thật là Con Ðức Chúa Trời!
34. Khi qua biển rồi, Ngài và môn
đồ đến xứ Ghê-nê-xa-rết.
35. Người xứ đó nhận biết Ngài, thì sai người
báo tin cho khắp các miền xung quanh, và họ đem các kẻ bịnh đến cùng
Ngài,
36. xin chỉ cho rờ đến viền áo mà thôi; vậy ai rờ đến cũng đều
được lành bịnh cả.
Ma-thi-ơ 15 chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ, có mấy
người Pha-ri-si và mấy thầy thông giáo từ thành Giê-ru-sa-lem đến gần Ðức
Chúa Jêsus, mà thưa rằng:
2. Sao môn đồ thầy phạm lời truyền khẩu của
người xưa? Vì họ không rửa tay trước khi ăn.
3. Ngài đáp rằng: Còn các
ngươi sao cũng vì cớ lời truyền khẩu mình mà phạm điều răn của Ðức Chúa
Trời?
4. Vì Ðức Chúa Trời đã truyền điều răn nầy: Phải hiếu kính cha mẹ
ngươi; lại, điều nầy: Ai mắng nhiếc cha mẹ thì phải chết.
5. Nhưng các
ngươi lại nói rằng: Ai nói cùng cha mẹ rằng: Những điều mà tôi có thể giúp
cha mẹ, đã dâng cho Ðức Chúa Trời rồi, thì người ấy không cần phải hiếu
kính cha mẹ.
6. Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền khẩu mình mà bỏ lời
Ðức Chúa Trời.
7. Hỡi kẻ giả hình! Ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi
phải lắm, mà rằng:
8. Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng
chúng nó xa ta lắm.
9. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó
dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.
10. Ðoạn, Ngài gọi
đoàn dân đến, mà phán rằng: Hãy nghe, và hiểu.
11. Chẳng phải điều chi
vào miệng làm dơ dáy người; nhưng điều chi ở miệng ra, ấy mới là điều làm
dơ dáy ngươi vậy!
12. Môn đồ bèn lại gần, mà thưa rằng: Thầy có hay
rằng người Pha-ri-si nghe lời thầy nói mà phiền giận chăng?
13. Ngài
đáp rằng: Cây nào mà Cha ta trên trời không trồng, thì phải nhổ đi.
14.
Hãy để vậy: đó là những kẻ mù làm người dẫn đưa; nếu kẻ mù dẫn đưa kẻ mù,
thì cả hai sẽ cùng té xuống hố.
15. Phi-e-rơ bèn cất tiếng thưa rằng:
Xin thầy cắt nghĩa lời ví dụ ấy cho chúng tôi.
16. Ðức Chúa Jêsus hỏi
rằng: Các ngươi cũng còn chưa hiểu biết sao?
17. Các ngươi chưa hiểu
vật gì vào miệng thì đi thẳng xuống bụng, rồi phải bỏ ra nơi kín
sao?
18. Song những điều bởi miệng mà ra là từ trong lòng, thì những
điều đó làm dơ dáy người.
19. Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng,
những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng
ngôn.
20. Ấy đó là những điều làm dơ dáy người; song sự ăn mà không rửa
tay chẳng làm dơ dáy người đâu.
21. Ðức Chúa Jêsus đi từ đó, vào bờ cõi
thành Ty-rơ và thành Si-đôn.
22. Xảy có một người đờn bà xứ Ca-na-an,
từ xứ ấy đến, mà kêu lên rằng: Lạy Chúa, là con cháu vua Ða-vít, xin
thương xót tôi cùng! Con gái tôi mắc quỉ ám, khốn cực lắm.
23. Nhưng
Ngài chẳng đáp một lời. Môn đồ bèn đến gần, cố nài xin rằng: Xin thầy
truyền cho đờn bà ấy về, vì người kêu van ở đằng sau chúng ta.
24. Ngài
đáp rằng: Ta chịu sai đến đây, chỉ vì các con chiên lạc mất của nhà
Y-sơ-ra-ên đó thôi.
25. Song người đờn bà lại gần, lạy Ngài mà thưa
rằng: Lạy Chúa, xin Chúa giúp tôi cùng!
26. Ngài đáp rằng: Không nên
lấy bánh của con cái mà quăng cho chó con ăn.
27. Người đờn bà lại thưa
rằng: Lạy Chúa, thật như vậy, song mấy con chó con ăn những miếng bánh vụn
trên bàn chủ nó rớt xuống.
28. Ngài bèn phán rằng: Hỡi đờn bà kia,
ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn! Cũng một giờ đó,
con gái người liền được lành.
29. Ðức Chúa Jêsus từ đó đi đến gần biển
Ga-li-lê; rồi lên trên núi mà ngồi.
30. Bấy giờ có đoàn dân rất đông
đến gần Ngài, đem theo những kẻ què, đui, câm, tàn tật và nhiều kẻ đau
khác, để dưới chơn Ðức Chúa Jêsus, thì Ngài chữa cho họ được lành.
31.
Vậy, chúng thấy kẻ câm được nói, kẻ tàn tật được khỏi, kẻ què được đi, kẻ
đui được sáng, thì lấy làm lạ lắm, đều ngợi khen Ðức Chúa Trời của dân
Y-sơ-ra-ên.
32. Khi đó, Ðức Chúa Jêsus gọi môn đồ đến mà phán rằng: Ta
thương xót đoàn dân nầy; vì đã ba ngày ở cùng ta, bây giờ không có chi ăn
hết. Ta không muốn để họ nhịn đói mà về, e phải mệt lủi dọc đường
chăng.
33. Môn đồ thưa rằng: Ở nơi đồng vắng nầy, ta há dễ kiếm đâu đủ
bánh, đặng cho dân đông dường ấy ăn no nê sao?
34. Ngài phán hỏi môn đồ
rằng: Các ngươi có mấy cái bánh? Môn đồ thưa rằng: Có bảy cái bánh, cùng
vài con cá.
35. Ngài bèn biểu dân chúng ngồi xuống đất.
36. Ðoạn
Ngài lấy bảy cái bánh và cá; tạ ơn rồi, bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ
phân phát cho dân chúng.
37. Ai nấy ăn no cả, còn bánh thừa lượm được
bảy giỏ đầy.
38. Số người ăn là bốn ngàn, không kể đờn bà con
trẻ.
39. Bấy giờ Ngài cho đoàn dân về, rồi xuống thuyền mà qua bờ cõi
xứ Ma-ga-đan.
Ma-thi-ơ
16 chọn
đoạn khác
1. Những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê
đến cùng Ðức Chúa Jêsus, có ý thử Ngài, thì xin làm cho xem một dấu lạ từ
trên trời xuống.
2. Nhưng Ngài đáp rằng: Khi chiều tối đến, thì các
ngươi nói rằng: sẽ tốt trời, vì trời đỏ.
3. Còn sớm mai, thì các ngươi
nói rằng: Hôm nay sẽ có cơn dông, vì trời đỏ và mờ mờ. Các ngươi người
biết phân biệt rõ sắc trời, mà không phân biệt được dấu chỉ thì giờ
ư!
4. Dòng dõi hung ác gian dâm nầy xin một dấu lạ; nhưng sẽ chẳng cho
dấu lạ chi khác ngoài dấu lạ của đấng tiên tri Giô-na. Rồi Ngài bỏ họ mà
đi.
5. Khi môn đồ đi đến bờ bên kia, quên đem bánh theo.
6. Ðức Chúa
Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hãy giữ mình cẩn thận về men của người
Pha-ri-si và Sa-đu-sê.
7. Môn đồ suy nghĩ và luận cùng nhau rằng: Ðây
là vì chúng ta không đem bánh theo.
8. Ðức Chúa Jêsus biết điều đó, thì
phán rằng: Hỡi kẻ ít đức tin, sao các ngươi tưởng rằng ấy là vì cớ các
ngươi không có bánh?
9. Các ngươi há chưa hiểu, cũng không nhớ năm cái
bánh cho năm ngàn người, và các ngươi lượm được mấy giỏ đầy bánh thừa
sao?
10. Lại há không nhớ bảy cái bánh cho bốn ngàn người, và các người
lượm được bao nhiêu giỏ đầy bánh thừa sao?
11. Các ngươi sao chẳng hiểu
rằng không phải về bánh mà ta muốn nói đâu? nhưng hãy giữ mình về men của
người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.
12. Bấy giờ môn đồ mới hiểu rằng Ngài
chẳng bảo giữ mình về men làm bánh, nhưng về đạo của người Pha-ri-si và
Sa-đu-sê.
13. Khi Ðức Chúa Jêsus đã vào địa phận thành Sê-sa-rê
Phi-líp, bèn hỏi môn đồ, mà rằng: Theo lời người ta nói thì Con người là
ai?
14. Môn đồ thưa rằng: Người nói là Giăng Báp-tít; kẻ nói là Ê-li;
kẻ khác lại nói là Giê-rê-mi, hay là một đấng tiên tri nào đó.
15. Ngài
phán rằng: Còn các người thì xưng ta là ai?
16. Si-môn Phi-e-rơ thưa
rằng: Chúa là Ðấng Christ, con Ðức Chúa Trời hằng sống.
17. Bấy giờ,
Ðức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có
phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn
là Cha ta ở trên trời vậy.
18. Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là
Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng
được hội đó.
19. Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi; hễ
điều gì mà ngươi buộc dưới đất, thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì
mà ngươi mở dưới đất, thì cũng sẽ mở ở trên trời.
20. Ðoạn, Ngài cấm
môn đồ đừng nói cho ai biết rằng Ngài, Ðức Chúa Jêsus, là Ðấng
Christ.
21. Từ đó, Ðức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải
đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những
người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết,
đến ngày thứ ba phải sống lại.
22. Phi-e-rơ bèn đem Ngài riêng ra, mà
can rằng: Hỡi Chúa, Ðức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho
Chúa đâu!
23. Nhưng Ngài xây mặt lại mà phán cùng Phi-e-rơ rằng: Ớ
Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chỉ
nghĩ đến việc Ðức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta.
24. Ðức Chúa
Jêsus bèn phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình,
vác thập tự giá mình mà theo ta.
25. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ
mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống mình thì sẽ được lại.
26. Người nào
nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người
lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?
27. Vì Con người sẽ ngự trong sự vinh
hiển của Cha mình mà giáng xuống cùng các thiên sứ, lúc đó, Ngài sẽ thưởng
cho từng người, tùy việc họ làm.
28. Quả thật, ta nói cùng các ngươi,
trong các ngươi đứng đây, có một vài kẻ sẽ không chết trước khi thấy con
người ngự đến trong nước Ngài.
Ma-thi-ơ 17 chọn
đoạn khác
1. Khỏi sáu ngày,
Ðức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng là em Gia-cơ, cùng Ngài đi
tẻ lên núi cao.
2. Ngài biến hóa trước mặt các ngươi ấy mặt Ngài sáng
lòa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng.
3. Nầy, có Môi-se và Ê-li
hiện đến, nói chuyện cùng Ngài.
4. Phi-e-rơ bèn cất tiếng thưa cùng Ðức
Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, chúng ta ở lại đây thì tốt lắm; ví bằng đẹp ý
Chúa, thì tôi sẽ đóng ba trại tại đây, một cái cho Chúa, một cái cho
Môi-se và một cái cho Ê-li.
5. Ðang khi người còn nói, bỗng chúc có một
đám mây sáng rực che phủ những người ở đó; và có tiếng từ trong mây phán
rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường; hãy nghe lời Con
đó!
6. Khi môn đồ nghe tiếng ấy, thì té sấp mặt xuống đất, và sợ hãi
lắm.
7. Song Ðức Chúa Jêsus lại gần, rờ môn đồ mà phán rằng: Hãy đứng
dậy, đừng sợ!
8. Môn đồ bèn ngửa mặt lên, thì chỉ thấy một mình Ðức
Chúa Jêsus mà thôi.
9. Ðang khi Ðức Chúa Jêsus và môn đồ ở trên núi
xuống, thì Ngài ra lịnh cấm rằng: Sự các ngươi đã thấy chớ thuật lại cùng
ai, cho đến khi Con người từ kẻ chết sống lại.
10. Môn đồ hỏi Ngài
rằng: Vậy thì sao các thầy thông giáo nói rằng Ê-li phải đến trước?
11.
Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật Ê-li phải đến mà sửa lại mọi việc.
12.
Nhưng ta phán cùng các ngươi rằng: Ê-li đã đến rồi, và người ta không nhận
biết, song họ lại xử với người theo ý muốn mình; Con người phải chịu khốn
khổ bởi họ cũng như vậy.
13. Môn đồ bèn hiểu rằng Ngài nói đó là nói về
Giăng Báp-tít.
14. Khi Ðức Chúa Jêsus và môn đồ đã trở lại cùng đoàn
dân, thì có một người đến gần, quì trước mặt Ngài,
15. mà thưa rằng:
Lạy Chúa, xin Chúa thương đến con trai tôi! vì nó mắc bệnh phong điên,
phải chịu đau đớn quá; thường khi té vào lửa, và té xuống nước.
16. Tôi
đã đem nó cho môn đồ Chúa, nhưng chữa không được.
17. Ðức Chúa Jêsus
đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và gian tà kia, ta sẽ ở với các ngươi cho
đến chừng nào? Ta sẽ nhịn nhục các ngươi cho đến khi nào? Hãy đem con đến
đây cho ta.
18. Rồi Ðức Chúa Jêsus quở trách quỉ, quỉ liền ra khỏi đứa
trẻ, và từ giờ đó đứa trẻ được lành.
19. Môn đồ bèn đến gần Ðức Chúa
Jêsus, mà hỏi riêng rằng: Vì cớ gì chúng tôi không đuổi quỉ ấy
được?
20. Ngài đáp rằng: Ấy là tại các ngươi ít đức tin: vì ta nói thật
cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin bằng một hột cải, sẽ khiến núi
nầy rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liền dời qua, và không có sự gì mà
các ngươi chẳng làm được.
21. Nhưng thứ quỉ nầy nếu không cầu nguyện
không kiêng ăn thì chẳng trừ nó được.
22. Ðang khi Ðức Chúa Jêsus và
môn đồ trải qua trong xứ Ga-li-lê, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Con người
sẽ bị nộp trong tay người ta.
23. Họ sẽ giết Ngài, nhưng đến ngày thứ
ba Ngài sẽ sống lại. Các môn đồ bèn lo buồn lắm.
24. Khi đã đến thành
Ca-bê-na-um, những người thâu thuế của đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ rằng: Thầy
ngươi có nộp tiền thuế chăng?
25. Phi-e-rơ trả lời rằng: Có. Và khi
Phi-e-rơ vào nhà, thì Ðức Chúa Jêsus hỏi trước rằng: Hỡi Si-môn, ngươi
nghĩ sao? Các vua thế gian thâu lương lấy thuế ai? Thâu của con trai mình
hay là của người ngoài?
26. Phi-e-rơ thưa rằng: Người ngoài. Ngài phán
rằng: Vậy thì các con trai được miễn thuế!
27. Song le, để chúng ta
khỏi làm gương xấu cho họ, thì ngươi hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá
nào dính câu trước hết, banh miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc ở trong.
Hãy lấy đồng bạc đó, và đem nộp thuế cho ta với ngươi.
Ma-thi-ơ 18
chọn
đoạn khác
1. Trong lúc đó, môn đồ lại gần Ðức Chúa Jêsus, mà hỏi rằng:
Ai là lớn hơn hết trong nước thiên đàng?
2. Ðức Chúa Jêsus gọi một đứa
trẻ đến, để ở giữa môn đồ,
3. mà phán rằng: quả thật, ta nói cùng các
ngươi, nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào
nước thiên đàng đâu.
4. Vậy, hễ ai trở nên khiêm nhường như đứa trẻ
nầy, sẽ là lớn hơn hết trong nước thiên đàng.
5. Hễ ai vì danh ta chịu
tiếp một đứa trẻ thể nầy, tức là chịu tiếp ta.
6. Song, nếu ai làm cho
một đứa trong những đứa nhỏ nầy đã tin ta sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối
đá vào cổ, mà quăng nó xuống đáy biển còn hơn.
7. Khốn nạn cho thế gian
vì sự gây nên phạm tội! Vì sự gây nên phạm tội phải có: song khốn nạn thay
cho ai là kẻ gây nên phạm tội!
8. Nếu tay hay là chơn ngươi làm cho
ngươi sa vào tội lỗi, hãy chặt và ném nó cho xa ngươi đi; vì thà ngươi què
chơn hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ cả hai tay hay là
hai chơn mà bị quăng vào lửa đời đời.
9. Nếu con mắt ngươi làm cho
ngươi sa vào tội lỗi, thì hãy móc mà ném cho xa ngươi đi; vì thà ngươi một
mắt mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ hai mắt mà bị quăng vào lửa địa
ngục.
10. Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ
nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy
mặt Cha ta, là Ðấng ở trên trời.
11. Vì Con người đã đến cứu sự đã
mất.
12. Các ngươi tưởng thế nào? nếu người nào có một trăm con chiên,
một con bị lạc mất đi, thì há chẳng để chín mươi chín con lại trên núi, mà
đi kiếm con đã lạc mất sao?
13. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu
người kiếm lại được, thì lấy làm vui mừng về con đó hơn chín mươi chín con
không lạc.
14. Cũng không muốn cho một đứa nào trong những đứa trẻ nầy
phải hư mất.
15. Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách
người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi
được anh em lại.
16. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với
ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc
chắn.
17. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội
thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội thánh, thì hãy coi người như kẻ
ngoại và kẻ thâu thuế vậy.
18. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ điều
gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì
mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời.
19. Quả thật, ta
lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới
đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ.
20.
Vì nơi nào có hai ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa
họ.
21. Phi-e-rơ bèn đến gần Ðức Chúa Jêsus mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu
anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy
lần chăng?
22. Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần
đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy.
23. Vậy nên, nước thiên đàng giống như
vua kia, muốn tính sổ với các đầy tớ mình.
24. Khi vua khởi soát sổ,
thì có người đem nộp một tên kia mắc nợ vua một vạn ta-lâng.
25. Bởi vì
người chẳng có gì mà trả, thì chủ dạy bán người, vợ con và gia tài người,
đặng trả nợ.
26. Kẻ đầy tớ nầy bèn sấp mình xuống nơi chơn chủ mà xin
rằng: Thưa chủ, xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết!
27. Chủ bèn động
lòng thương xót, thả người về, và tha nợ cho.
28. Nhưng khi đầy tớ đó
ra về, gặp một người trong bạn làm việc, có thiếu mình một trăm đơ-ni-ê,
thì nắm bóp cổ bạn mà nói rằng: Hãy trả nợ cho ta!
29. Người bạn sấp
mình xuống mà nài xin rằng: Xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả cho
anh.
30. Song người chẳng khứng, cứ việc bắt bỏ tù cho đến khi trả hết
nợ.
31. Các bạn thấy vậy, buồn lắm, đến thuật lại cùng chủ mình mọi
điều đã xảy ra.
32. Chủ bèn đòi đầy tớ ấy đến mà nói rằng: Hỡi đầy tớ
độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta;
33. ngươi
há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi
sao?
34. Chủ nổi giận, phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong
hết nợ.
35. Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho
anh em mình thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như
vậy.
Ma-thi-ơ 19
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus phán lời ấy xong rồi,
thì từ xứ Ga-li-lê mà đi đến bờ cõi xứ Giu-đê, bên kia sông
Giô-danh.
2. Có nhiều đoàn dân đông theo Ngài, và Ngài chữa lành các kẻ
bịnh ở đó.
3. Người Pha-ri-si bèn đến gần để thử Ngài, mà rằng: Không
cứ vì cớ gì người ta có phép để vợ mình chăng?
4. Ngài trả lời rằng:
Các ngươi há chưa đọc lời chép về Ðấng Tạo Hóa, hồi ban đầu, dựng nên một
người nam, một người nữ,
5. và có phán rằng: Vì cớ đó người nam sẽ lìa
cha mẹ, mà dính díu với vợ mình; hai người sẽ cùng nên một thịt hay
sao?
6. Thế thì, vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà
thôi. Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Ðức Chúa Trời đã phối
hiệp!
7. Họ lại hỏi Ngài rằng: Vậy chớ sao Môi-se đã dạy lập tờ để đặng
để vợ đi?
8. Ngài phán rằng: Vì cớ lòng các ngươi cứng cỏi, nên Môi-se
cho phép để vợ; nhưng, lúc ban đầu không có như vậy đâu.
9. Vả, ta phán
cùng các ngươi, nếu ai để vợ mình không phải vì cớ ngoại tình, và cưới vợ
khác, thì người ấy phạm tội tà dâm; và hễ ai cưới người bị để, thì phạm
tội ngoại tình.
10. Môn đồ thưa rằng: nếu phận người nam phải xử với vợ
mình như vậy thì thà không cưới vợ là hơn.
11. Ngài đáp rằng: Chẳng
phải mọi người đều có thể lãnh được lời nầy, chỉ người sẵn có ban cho như
vậy mà thôi.
12. Vì có người hoạn từ trong lòng mẹ; có người hoạn vì
tay người ta, và có người tự mình làm nên hoạn vì cớ nước thiên đàng.
Người nào lãnh nổi lời ấy thì hãy lãnh lấy.
13. Khi ấy, người ta đem
các con trẻ đến, đặng Ngài đặt tay trên mình và cầu nguyện cho chúng nó;
môn đồ quở trách những người đem đến.
14. Song Ðức Chúa Jêsus phán
rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở; vì nước thiên đàng thuộc
về những kẻ giống như con trẻ ấy.
15. Ngài bèn đặt tay trên chúng nó,
rồi từ đó mà đi.
16. Nầy, có một người đến hỏi Ngài rằng: Theo thầy,
tôi phải làm việc lành chi cho được sự sống đời đời?
17. Ðức Chúa Jêsus
đáp rằng: Sao ngươi hỏi ta về việc lành? Chỉ có một Ðấng lành mà thôi. Nếu
ngươi muốn vào sự sống, thì phải giữ các điều răn.
18. Người hỏi: Những
điều răn gì? Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Những điều răn nầy: Ðừng giết
người; đừng phạm tội tà dâm; đừng ăn trộm cắp; đừng làm chứng dối;
19.
Hãy thảo kính cha mẹ; và: Hãy yêu kẻ lân cận như mình.
20. Người trẻ đó
thưa rằng: Tôi đã giữ đủ các điều nầy; còn thiếu chi cho tôi nữa?
21.
Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi bán hết gia
tài mà bố thí cho kẻ nghèo nàn, thì ngươi sẽ có của quí ở trên trời; rồi
hãy đến mà theo ta.
22. Nhưng khi người trẻ nghe xong lời nầy, thì đi,
bộ buồn bực; vì chàng có của cải nhiều lắm.
23. Ðức Chúa Jêsus bèn phán
cùng môn đồ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, người giàu vào nước
thiên đàng là khó lắm.
24. Ta lại nói cùng các ngươi, lạc đà chui qua
lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Ðức Chúa Trời.
25. Môn đồ
nghe lời ấy, thì lấy làm lạ lắm mà nói rằng: Vậy thì ai được rỗi?
26.
Ðức Chúa Jêsus ngó môn đồ mà phán rằng: Ðiều đó loài người không thể làm
được, song Ðức Chúa Trời làm mọi việc đều được.
27. Phi-e-rơ bèn thưa
rằng: Nầy chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo thầy; vậy thì chúng tôi sẽ được
chi?
28. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến
kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con người sẽ ngự trên ngôi vinh hiển của Ngài,
thì các ngươi là kẻ đã theo ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét
đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
29. Hễ ai vì danh ta mà bỏ anh em,
chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, nhà cửa, thì người ấy sẽ lãnh bội phần
hơn, và được hưởng sự sống đời đời.
30. Song có nhiều kẻ ở đầu sẽ nên
rốt, và nhiều kẻ ở rốt sẽ nên đầu.
Ma-thi-ơ 20 chọn
đoạn khác
1. Vả, nước thiên
đàng, giống như người chủ nhà kia, tảng sáng đi ra, để mướn người làm công
cho vườn nho mình.
2. Khi người chủ đã định giá với người làm công, mỗi
ngày một đơ-ni-ê, thì sai họ vào vườn nho mình.
3. Ước chừng giờ thứ
ba, người chủ lại ra, thấy những kẻ khác rảnh việc đứng trong chợ,
4.
thì nói cùng họ rằng: Các ngươi hãy đi vào vườn nho ta, và ta sẽ trả tiền
công phải cho.
5. Họ liền đi. Ước chừng giờ thứ sáu và giờ thứ chín,
người chủ lại ra, cũng làm như vậy.
6. Ước chừng giờ thứ mười một, chủ
ra, lại thấy những kẻ khác đứng trong chợ, thì hỏi rằng: Sao các ngươi
đứng đây cả ngày không làm gì hết?
7. Họ trả lời rằng: Vì không ai mướn
chúng tôi. Người chủ nói với họ rằng: Các ngươi cũng hãy đi vào vườn nho
ta.
8. Ðến tối, chủ vườn nho nói với người giữ việc rằng: Hãy gọi những
người làm công mà trả tiền công cho họ, khởi từ người rốt cho đến người
đầu.
9. Những người làm công mướn từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi
người được một đơ-ni-ê.
10. Rồi tới phiên những người đầu đến, tưởng
lãnh được nhiều hơn; song họ cũng lãnh mỗi người một đơ-ni-ê.
11. Khi
lãnh rồi, lằm bằm cùng chủ nhà,
12. mà rằng: Những người rốt ấy chỉ làm
một giờ, mà chủ đãi cũng như chúng tôi, là kẻ đã chịu mệt nhọc cả ngày và
giang nắng.
13. Song chủ trả lời cho một người trong bọn rằng: Bạn ơi,
ta không xử tệ với ngươi đâu; ngươi há chẳng đã định với ta một đơ-ni-ê
sao?
14. Hãy lấy của ngươi mà đi đi; ta muốn trả cho kẻ rốt nầy bằng
như đã trả cho ngươi vậy.
15. Ta há không có phép dùng của cải ta theo
ý muốn ta sao? Hay là ngươi thấy ta ở tử tế mà lấy mắt ganh sao?
16.
Ðó, những kẻ rốt sẽ nên đầu và kẻ đầu sẽ nên rốt là như vậy.
17. Trong
khi Ðức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem, Ngài đem riêng theo mười
hai môn đồ, dọc đường, phán cùng họ rằng:
18. Nầy, chúng ta đi lên
thành Giê-ru-sa-lem, và Con người sẽ bị bắt nộp cho các thầy tế lễ cả và
các thầy thông giáo, bọn đó sẽ luận giết Ngài.
19. Họ sẽ nộp Ngài cho
dân ngoại hầu để nhạo báng, đánh đập, và đóng đinh trên cây thập tự; đến
ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.
20. Bấy giờ, có mẹ của các con trai
Xê-bê-đê cùng các con mình đến gần Ðức Chúa Jêsus, lạy Ngài đặng hỏi một
chuyện.
21. Ngài phán rằng: Ngươi muốn chi? Thưa rằng: Xin cho hai con
trai tôi đây ngồi một đứa bên hữu Ngài, một đứa bên tả, ở trong nước
Ngài.
22. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi không hiểu điều của mình
xin. Các ngươi uống được chén mà ta hầu uống không? Hai người thưa rằng:
Chúng tôi uống được.
23. Ngài phán rằng: Thật các ngươi sẽ uống chén ta
nhưng mà ngồi bên hữu hay bên tả ta, thì chẳng phải tự ta cho được; ấy là
cho những người nào mà Cha ta đã sửa soạn cho.
24. Mười môn đồ kia nghe
sự xin đó, thì giận hai anh em.
25. Nhưng Ðức Chúa Jêsus gọi đến mà
phán rằng: Các ngươi biết rằng các vua dân ngoại thì ép dân phải phục
mình, còn các quan lớn thì lấy quyền thế mà trị dân.
26. Trong các
ngươi thì không như vậy; trái lại, trong các ngươi, kẻ nào muốn làm lớn,
thì sẽ làm đầy tớ các ngươi;
27. còn kẻ nào muốn làm đầu, thì sẽ làm
tôi mọi các ngươi.
28. Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta
hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá
chuộc nhiều người.
29. Ðương khi Ðức Chúa Jêsus và môn đồ ra khỏi thành
Giê-ri-cô, thì có một đoàn dân đông theo Ngài.
30. Nầy, có hai người mù
ngồi bên đường, nghe nói Ðức Chúa Jêsus qua đó, thì kêu lên rằng: Lạy
Chúa, Con cháu vua Ða-vít, xin thương xót chúng tôi!
31. Chúng rầy hai
người ấy, biểu nín đi; nhưng họ kêu lớn hơn nữa, rằng: Lạy Chúa, con cháu
vua Ða-vít, xin thương xót chúng tôi!
32. Ðức Chúa Jêsus dừng lại, gọi
hai người mù đến, mà phán rằng: Các ngươi muốn ta làm chi cho?
33. Họ
thưa rằng: Lạy Chúa, xin cho mắt chúng tôi được mở ra.
34. Ðức Chúa
Jêsus động lòng thương xót, bèn rờ đến mắt họ; tức thì hai người thấy được
và đi theo Ngài.
Ma-thi-ơ 21 chọn
đoạn khác
1. Vừa khi Ðức Chúa
Jêsus cùng môn đồ đến thành Giê-ru-sa-lem, và đã tới thành Bê-pha-giê, bên
núi Ô-li-ve rồi, thì Ngài sai hai môn đồ,
2. mà phán rằng: Hãy đi đến
làng ở trước mặt các ngươi, tức thì sẽ gặp một con lừa cái bị cột, với một
con lừa con; hãy mở ra và dắt đến cho ta.
3. Nếu có ai nói chi với các
ngươi, hãy trả lời rằng Chúa cần dùng hai con lừa đó; tức thì họ sẽ gởi
lừa đi.
4. Vả, điều ấy xảy ra để cho ứng nghiệm lời của đấng tiên tri
rằng:
5. Hãy nói với con gái thành Si-ôn rằng: Nầy, vua ngươi đến cùng
ngươi, Nhu mì, cỡi lừa Và lừa con, là con của lừa cái mang ách.
6. Hai
môn đồ bèn đi, và làm y theo lời Ðức Chúa Jêsus đã dạy.
7. Hai người
dắt lừa cái và lừa con, trải áo mình trên lưng lừa, và nâng Ngài cỡi
lên.
8. Bấy giờ phần nhiều trong đám dân đông trải áo mình trên đường
kẻ khác chặt nhánh cây mà rải ra giữa đường.
9. Ðoàn dân đi trước và
theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Ða-vít! Ðáng khen ngợi cho
Ðấng nhơn danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!
10. Khi Ngài
đã vào thành Giê-ru-sa-lem, thì cả thành đều xôn xao, nói rằng: Người nầy
là ai?
11. Chúng trả lời rằng: Ấy là Ðấng tiên tri Jêsus ở thành
Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê.
12. Ðức Chúa Jêsus vào đền thờ, đuổi hết kẻ bán
người mua ở đó; đổ bàn của người đổi bạc, và ghế của người bán bò
câu.
13. Ngài phán cùng họ rằng: Có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu
nguyện; nhưng các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp.
14.
Bấy giờ, những kẻ mù và què đến cùng Ngài trong đền thờ, thì Ngài chữa cho
họ được lành.
15. Nhưng các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo thấy
sự lạ Ngài đã làm, và nghe con trẻ reo lên trong đền thờ rằng: Hô-sa-na
con vua Ða-vít! thì họ tức giận,
16. và nói với Ngài rằng: Thầy có nghe
điều những đứa trẻ nầy nói không? Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Có. Vậy chớ các
ngươi chưa hề đọc lời nầy: Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và con
đương bú, hay sao?
17. Ðoạn, Ngài bỏ họ, đi ra khỏi thành mà đến làng
Bê-tha-ni và nghỉ đêm ở đó.
18. Sáng mai, khi trở lại thành thì Ngài
đói.
19. Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy
những lá mà thôi, thì Ngài phán cùng cây vả rằng: Mầy chẳng khi nào sanh
ra trái nữa! Cây vả tức thì khô đi.
20. Môn đồ thấy điều đó, lấy làm
kỳ, nói rằng: Cớ sao trong giây phút mà cây vả liền khô đi vậy?
21. Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức
tin, và không chi hết nghi ngờ chi hết, thì chẳng những các ngươi làm được
điều đã làm cho cây vả mà thôi, song dầu các ngươi biểu hòn núi nầy rằng:
Hãy cất mình lên và quăng xuống biển, điều đó cũng sẽ làm được.
22.
Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thảy đều
được cả.
23. Ðức Chúa Jêsus vào đền thờ rồi, đương giảng đạo, có các
thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đến mà hỏi rằng: Bởi quyền phép
nào mà thầy làm những sự nầy, và ai đã cho thầy quyền phép ấy?
24. Ðức
Chúa Jêsus đáp rằng: Ta cũng sẽ hỏi các ngươi một điều; nếu trả lời được,
thì ta cũng sẽ nói cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta đã làm những
việc đó.
25. Phép báp-tem của Giăng bởi đâu? Bởi trên trời hay là bởi
người ta? Vả, họ bàn riêng với nhau như vầy: Nếu chúng ta đáp rằng: Bởi
trên trời, thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người
ấy?
26. Còn nếu đáp rằng: Bởi người ta, thì chúng ta sợ thiên hạ, vì
thiên hạ đều cho Giăng là đấng tiên tri.
27. Vậy, họ trả lời Ðức Chúa
Jêsus rằng: Chúng tôi không biết. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ta cũng
không bảo cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta làm những điều
nầy.
28. Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai đứa con trai; nói
cùng đứa thứ nhứt, mà rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn
nho.
29. Ðứa ấy thưa rằng: Vâng; rồi không đi.
30. Ðoạn, người cha
đi đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Ðứa nầy thưa rằng: Tôi không muốn
đi. Nhưng sau ăn năn, rồi đi.
31. Trong hai con trai đó, đứa nào làm
theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Ðứa thứ hai. Ðức Chúa Jêsus phán cùng họ
rằng: Quả thật, ta nói cùng các người, những kẻ thâu thuế và phường dĩ
điếm sẽ được vào nước Ðức Chúa Trời trước các ngươi.
32. Vì Giăng đã
theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn
những kẻ thâu thuế và phường dĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã
thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.
33. Hãy nghe lời ví
dụ khác. Có người chủ nhà kia, trồng một vườn nho, rào chung quanh, ở
trong đào một cái hầm ép rượu, và cất một cái tháp; rồi cho những kẻ trồng
nho mướn, và đi qua xứ khác.
34. Ðến mùa hái trái, người chủ sai đầy tớ
đến cùng bọn trồng nho, đặng thâu hoa lợi.
35. Bọn trồng nho bắt các
đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, và ném đá người nọ.
36. Người
chủ lại sai đầy tớ khác đông hơn khi trước; thì họ cũng đối đãi một
cách.
37. Sau hết, người chủ sai chính con trai mình đến cùng họ, vì
nói rằng: Chúng nó sẽ kính trọng con ta.
38. Nhưng khi bọn trồng nho
thấy con đó, thì nói với nhau rằng: Người nầy là kẻ kế tự đây; hè! hãy
giết nó đi, và chiếm lấy phần gia tài nó.
39. Họ bèn bắt con ấy, quăng
ra ngoài vườn nho, và giết đi.
40. Vậy, khi người chủ vườn đến, thì sẽ
xử với bọn làm vườn ấy thể nào?
41. Chúng trả lời rằng: Người chủ sẽ
diệt đồ hung ác ấy cách khổ sở, và cho bọn trồng nho khác mướn vườn ấy, là
kẻ sẽ nộp hoa lợi lúc đến mùa.
42. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Các ngươi
há chưa hề đọc lời trong Kinh Thánh: Hòn đá đã bị người xây nhà bỏ ra, Trở
nên đá đầu góc nhà; Ấy là một sự lạ trước mắt chúng ta, hay sao?
43.
Bởi vậy, ta phán cùng các ngươi, nước Ðức Chúa Trời sẽ cất khỏi các ngươi,
và cho một dân khác là dân sẽ có kết quả của nước đó.
44. Kẻ nào rơi
trên hòn đá ấy sẽ bị giập nát, còn kẻ nào bị đá ấy rớt nhằm thì sẽ tan
tành như bụi.
45. Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nghe những lời
ví dụ đó, thì biết Ngài nói về mình.
46. Họ bèn tìm cách để bắt Ngài;
song sợ thiên hạ vì thiên hạ tôn Ngài là đấng tiên tri.
Ma-thi-ơ 22
chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Jêsus lại phán ví dụ cùng chúng nữa, rằng:
2.
Nước thiên đàng giống như một vua kia làm tiệc cưới cho con mình.
3.
vua sai đầy tớ đi nhắc những người đã được mời đến dự tiệc; nhưng họ không
chịu đến.
4. Vua lại sai đầy tớ khác mà dặn rằng: Hãy nói với người
được mời như vầy: Nầy, ta đã sửa soạn tiệc rồi; bò và thú béo đã giết
xong, mọi việc đã sẵn cả, hãy đến mà dự tiệc cưới.
5. Nhưng họ không
đếm xỉa đến, cứ việc đi đường mình; kẻ nầy đi ra ruộng, kẻ kia buôn
bán;
6. còn nhưng kẻ khác bắt đầy tớ của vua, mắng chưởi và giết
đi.
7. Vua nổi giận, bèn sai quân lính diệt những kẻ giết người đó, và
đốt phá thành của họ?
8. Ðoạn, vua phán cùng đầy tớ mình rằng: Tiệc
cưới đã dọn xong rồi; song những người được mời không xứng dự tiệc
đó.
9. Vậy, các ngươi hãy đi khắp các ngã tư, hễ gặp người nào thì mời
cả đến dự tiệc.
10. Ðầy tớ đi khắp các đường cái, nhóm lại hết thảy
những người họ gặp, bất luận dữ lành, đến nỗi trong phòng đầy những người
dự tiệc.
11. Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc
áo lễ,
12. thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà
không mặc áo lễ? Người đó làm thinh.
13. Vua bèn truyền cho đầy tớ
rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ
có khóc lóc và nghiến răng.
14. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít
người được chọn.
15. Bấy giờ người Pha-ri-si đi ra bàn luận với nhau,
để kiếm cách bắt lỗi Ðức Chúa Jêsus về lời nói.
16. Họ sai môn đồ mình
với đảng vua Hê-rốt đến thưa cùng Ngài rằng: Lạy thầy, chúng tôi biết thầy
là thật, và theo cách thật mà dạy đạo của Ðức Chúa Trời, không tư vị ai;
vì thầy không xem bề ngoài của người ta.
17. Vậy, xin thầy nói cho
chúng tôi, thầy nghĩ thế nào: có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không?
18.
Ðức Chúa Jêsus biết ý xấu của họ, bèn đáp rằng: Hỡi kẻ giả hình, sao các
ngươi thử ta?
19. Hãy đưa cho ta xem đồng tiền nộp thuế. Họ đưa cho
Ngài một đơ-ni-ê.
20. Ngài bèn phán rằng: Hình và hiệu nầy của
ai?
21. Họ trả lời rằng: Của Sê-sa. Ngài bèn phán rằng: Vậy, hãy trả
cho Sê-sa vật gì của Sê-sa; và trả cho Ðức Chúa Trời vật gì của Ðức Chúa
Trời.
22. Họ nghe lời ấy, đều bợ ngợ, liền bỏ Ngài mà đi.
23. Trong
ngày đó, có người Sa-đu-sê, là kẻ nói rằng không có sự sống lại, đến gần
Ngài mà hỏi rằng:
24. Thưa thầy, Môi-se có nói: Nếu người nào chết mà
không có con, thì em sẽ lấy vợ góa anh để nối dòng cho anh.
25. Vả,
trong chúng tôi có bảy anh em. Người anh lấy vợ và chết đi, nhưng vì chưa
có con nên để vợ lại cho em.
26. Người thứ hai, thứ ba, cho đến thứ bảy
cũng vậy.
27. Rốt lại, người đờn bà cũng chết.
28. Vậy, lúc sống
lại, đờn bà đó sẽ làm vợ ai trong bảy người? vì cả thảy đều đã lấy người
làm vợ.
29. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi lầm, vì không hiểu Kinh
Thánh, và cũng không hiểu quyền phép Ðức Chúa Trời thể nào.
30. Vì đến
khi sống lại, người ta không cưới vợ, cũng không lấy chồng, song những kẻ
sống lại là như thiên sứ trên trời vậy.
31. Các ngươi há không đọc lời
Ðức Chúa Trời phán về sự sống lại của kẻ chết rằng:
32. Ta là Ðức Chúa
Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Y-sác, Ðức Chúa Trời của Gia-cốp,
hay sao? Ðức Chúa Trời không phải là Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ
sống.
33. Chúng nghe lời ấy, thì lấy làm lạ về sự dạy dỗ của
Ngài.
34. Ngài Pha-ri-si nghe nói Ðức Chúa Jêsus đã làm cho bọn
Sa-đu-sê cứng miệng, thì nhóm hiệp nhau lại.
35. Có một thầy dạy luật
trong bọn họ hỏi câu nầy để thử Ngài:
36. Thưa thầy, trong luật pháp,
điều răn nào là lớn hơn hết?
37. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết
lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Ðức Chúa Trời ngươi.
38.
Ấy là điều răn thứ nhứt và lớn hơn hết.
39. Còn điều răn thứ hai đây,
cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.
40. Hết thảy luật pháp
và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra.
41. Khi người Pha-ri-si
nhóm nhau lại, thì Ðức Chúa Jêsus hỏi họ rằng:
42. Về Ðấng Christ, các
ngươi nghĩ thể nào? Ngài là con ai? Họ đáp rằng: Con vua Ða-vít.
43.
Ngài đáp rằng: Vậy, vì cớ nào vua Ða-vít được Ðức Thánh Linh cảm động, gọi
Ðấng Christ là Chúa, mà rằng:
44. Chúa phán cùng Chúa tôi: Hãy ngồi bên
hữu ta, Cho đến khi nào ta để kẻ thù nghịch ngươi dưới chơn ngươi?
45.
Vậy, nếu vua Ða-vít xưng Ngài là Chúa, thì Ngài làm con vua ấy là thể
nào?
46. Không ai thưa lại được một lời, và từ ngày đó, chẳng ai dám
hỏi Ngài nữa.
Ma-thi-ơ
23 chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ Ðức Chúa Jêsus phán cùng dân
chúng và môn đồ Ngài rằng:
2. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si
đều ngồi trên ngôi của Môi-se.
3. Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ
đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không
làm.
4. Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn
mình thì không muốn động ngón tay vào.
5. Họ làm việc gì cũng cố để cho
người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài;
6.
ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhất trong nhà hội;
7. muốn
người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!
8.
Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có
một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em.
9. Cũng đừng gọi người
nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Ðấng ở trên
trời.
10. Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một
Chủ, là Ðấng Christ.
11. Song ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ
làm đầy tớ các ngươi.
12. Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn
kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên.
13. Khốn cho các ngươi, thầy
thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước
thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai
muốn vào, thì lại ngăn trở.
14. Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và
người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện
cho dài mà nuốt nhà đờn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng
hơn.
15. Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ
giả hình! vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào
đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên
người địa ngục gấp hai các ngươi.
16. Khốn cho các ngươi, là kẻ mù dẫn
đường, các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ đền thờ mà thề, thì không can
chi; song chỉ vàng của đền thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy.
17. Hỡi
kẻ dại và mù, vàng, và đền thờ làm cho vàng nên thánh, cái nào trọng
hơn?
18. Lại các ngươi nói rằng: Nếu người nào chỉ bàn thờ mà thề, thì
không can chi; song chỉ của lễ trên bàn thờ mà thề, thì phải mắc lời thề
ấy.
19. Hỡi kẻ mù kia, của lễ, và bàn thờ làm cho của lễ nên thánh, cái
nào trọng hơn?
20. Vậy thì người nào chỉ bàn thờ mà thề, là chỉ bàn thờ
và cả của lễ trên bàn thờ mà thề;
21. người nào chỉ đền thờ mà thề, là
chỉ đền thờ và Ðấng ngự nơi đền thờ mà thề
22. còn ai chỉ trời mà thề,
là chỉ ngôi của Ðức Chúa Trời và Ðấng ngự trên ngôi mà thề vậy.
23.
Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì
các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ
trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín;
đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều
kia.
24. Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con
lạc đà!
25. Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là
kẻ giả hình! vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy
dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ.
26. Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước
hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch
sẽ.
27. Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ
giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề
trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.
28. Các ngươi cũng
vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình
và tội lỗi.
29. Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si,
là kẻ giả hình! vì các ngươi xây đắp mồ mả của đấng tiên tri, trau giồi mồ
mả của người công bình,
30. và nói rằng: Nếu chúng ta ở cùng một thời
với tổ phụ, thì không hùa theo người mà làm đổ máu các đấng tiên tri
vậy.
31. Ấy đó, các ngươi tự làm chứng cho mình rằng thật là con cháu
những người giết các đấng tiên tri.
32. Vậy thì hãy làm cho đầy dẫy cái
lường của tổ phụ các ngươi!
33. Hỡi loài rắn, dữ dội rắn lục kia, thế
nào mà tránh khỏi sự đoán phạt nơi địa ngục được?
34. Vậy nên, nầy, ta
sai những đấng tiên tri, kẻ khôn ngoan, và thầy thông giáo đến cùng các
ngươi; trong những người ấy, kẻ thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên
cây thập tự, kẻ thì các ngươi sẽ đánh đập trong nhà hội mình, và các ngươi
sẽ đuổi bắt họ từ thành nầy qua thành kia,
35. hầu cho hết thảy máu vô
tội bị tràn ra trên mặt đất, đổ về các ngươi, từ máu A-bên là người công
bình cho đến máu Xa-cha-ri là con của Ba-ra-chi, mà các ngươi đã giết ở
giữa khoảng đền thờ và bàn thờ.
36. Quả thật, ta nói cùng các ngươi,
mọi điều đó sẽ xảy đến cho dòng dõi nầy.
37. Hỡi Giê-ru-sa-lem,
Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai
đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái
túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!
38. Nầy, nhà
các ngươi sẽ bỏ hoang!
39. Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa,
cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Ðấng nhơn danh Chúa mà
đến!
Ma-thi-ơ 24
chọn
đoạn khác
1. Khi Ðức Chúa Jêsus ra khỏi đền thờ,
đương đi, thì môn đồ đến gần để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền
thờ.
2. Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật,
ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn
khác mà không bị đổ xuống.
3. Ngài đương ngồi trên núi ô-li-ve, môn đồ
tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào
những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế.
4.
Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi.
5. Vì
nhiều người sẽ mại danh ta đến mà nói rằng: Ta là Ðấng Christ; và sẽ dỗ
dành nhiều người.
6. Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về
giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là
cuối cùng đâu.
7. Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ
nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất.
8. Song mọi
điều đó chỉ là đầu sự tai hại.
9. Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi
trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh
ta.
10. Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch
nhau, và ghen ghét nhau.
11. Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành
lắm kẻ.
12. Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần
nhiều người sẽ nguội lần.
13. Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng,
thì sẽ được cứu.
14. Tin Lành nầy về nước Ðức Chúa Trời sẽ được giảng
ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ
đến.
15. Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi
thánh, mà đấng tiên tri Ða-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý),
16. thì ai
ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;
17. ai ở trên mái nhà, đừng xuống
chuyên của cải trong nhà;
18. và ai ở ngoài ruộng, đừng trở về lấy áo
mình.
19. Ðang lúc đó, khốn khó thay cho đờn bà có mang, và đờn bà cho
con bú!
20. Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa
đông hay là ngày Sa-bát;
21. vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ
khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng
không hề có nữa.
22. Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một
người nào được cứu; song vì cớ các ngươi được chọn, thì những ngày ấy sẽ
giảm bớt.
23. Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa Ðấng Christ
ở đây hay là: Ở đó, thì đừng tin.
24. Vì nhiều christ giả và tiên tri
giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng
đến dỗ dành chính những người được chọn.
25. Nầy, ta đã bảo trước cho
các ngươi.
26. Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở
trong đồng vắng, thì đừng đi đến; nầy, Ngài ở trong nhà thì đừng
tin.
27. Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì
sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.
28. Nơi nào có xác chết, thì những
chim ó sẽ nhóm tại đó.
29. Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua,
thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời
sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động.
30. Khi ấy, điềm Con
người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy
Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống.
31. Ngài
sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được
lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy cho đến tận
phương kia.
32. Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới
đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới.
33. Cũng vậy, khi các ngươi
thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đương ở trước
cửa.
34. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước
khi mọi điều nầy chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến.
35.
Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi.
36. Về ngày và
giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy,
song chỉ một mình Cha biết thôi.
37. Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con
người đến cũng thể ấy.
38. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta
ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu,
39. và người
ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi
Con người đến cũng như vậy.
40. Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một
đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị để lại;
41. và có
hai người nữ đương xay cối, một người được đem đi, còn một người bi để
lại.
42. Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình
sẽ đến.
43. Hãy biết rõ, nếu người chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm sẽ
đến, thì tỉnh thức, không để cho đào ngạch nhà mình.
44. Vậy thì các
ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không
ngờ.
45. Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà người chủ đặt cai trị
đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ?
46. Phước cho đầy tớ đó, khi chủ
đến thấy làm như vậy!
47. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt
kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình.
48. Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó
nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm,
49. bèn đánh kẻ cùng làm việc với
mình, và ăn uống với phường say rượu,
50. thì chủ nó sẽ đến trong ngày
nó không ngờ và giờ nó không biết.
51. Chủ sẽ đánh xé xương và định
phần nó đồng với kẻ giả hình. Ðó là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến
răng.
Ma-thi-ơ 25
chọn
đoạn khác
1. Khi ấy, nước thiên đàng sẽ giống như
mười người nữ đồng trinh kia cầm đèn đi rước chàng rể.
2. Trong các
nàng đó, có năm người dại và năm người khôn.
3. Người dại khi cầm đèn
đi thì không đem dầu theo cùng mình.
4. Song người khôn khi cầm đèn đi
thì đem dầu theo trong bình mình.
5. Vì chàng rể đến trễ, nên các nàng
thảy đều buồn ngủ và ngủ gục.
6. Ðến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa,
chàng rể đến, hãy đi ra rước người!
7. Các nữ đồng trinh bèn thức dậy
cả, sửa soạn đèn mình.
8. Các ngươi dại nói với các ngươi khôn rằng:
Xin bớt dầu của các chị cho chúng tôi, vì đèn chúng tôi gần tắt.
9.
Nhưng các ngươi khôn trả lời rằng: Không, e chẳng đủ cho chúng tôi và các
chị; thà các chị hãy đi đến người bán dầu mà mua.
10. Song trong khi họ
đang đi mua, thì chàng rể đến; kẻ nào chực sẵn, thì đi với người cùng vào
tiệc cưới, và cửa đóng lại.
11. Chặp lâu, những người nữ đồng trinh
khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng
tôi!
12. Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta
không biết các ngươi đâu.
13. Vậy, hãy tỉnh thức, vì các ngươi không
biết ngày, cũng không biết giờ.
14. Vả, nước thiên đàng sẽ giống như
một người kia, khi đi đường xa, gọi các đầy tớ mà giao của cải
mình.
15. Chủ đó cho người nầy năm ta-lâng, người kia hai, người khác
một, tùy theo tài mỗi người; đoạn, chủ lên đường.
16. Tức thì, người đã
nhận năm ta-lâng đi làm lợi ra, và được năm ta-lâng khác.
17. Người đã
nhận hai ta-lâng cũng vậy, làm lợi ra được hai ta-lâng nữa.
18. Song
người chỉ nhận một thì đi đào lỗ dưới đất mà giấu tiền của chủ.
19.
Cách lâu ngày, chủ của những đầy tớ ấy trở về khiến họ tính sổ.
20.
Người đã nhận năm ta-lâng bèn đến, đem năm ta-lâng khác nữa, và thưa rằng:
Lạy chúa, chúa đã cho tôi năm ta-lâng; đây nầy, tôi làm lợi ra được năm
ta-lâng nữa.
21. Chủ nói với người rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín
kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc
nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi.
22. Người đã nhận hai
ta-lâng cũng đến mà thưa rằng: Lạy chúa, chúa đã cho tôi hai ta-lâng; đây
nầy, tôi đã làm lợi ra được hai ta-lâng nữa.
23. Chủ đáp rằng: Hỡi đầy
tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ,
ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa
ngươi.
24. Người chỉ nhận một ta-lâng cũng đến mà thưa rằng: Lạy chúa,
tôi biết chúa là người nghiêm nhặt, gặt trong chỗ mình không gieo, lượm
lặt trong chỗ mình không rải ra,
25. nên tôi sợ mà đi giấu ta-lâng của
chúa ở dưới đất; đây nầy, vật của chúa xin trả cho chúa.
26. Song chủ
đáp rằng: Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác kia, ngươi biết ta gặt trong chỗ ta
không gieo, và lượm lặt trong chỗ ta không rải ra;
27. vậy thì ngươi
phải đưa bạc của ta lại cho người buôn bạc, rồi khi ta trở về, sẽ lấy vốn
và lời.
28. Vậy, các ngươi hãy lấy ta-lâng của người nầy mà cho kẻ có
mười ta-lâng.
29. Vì sẽ cho thêm kẻ nào đã có, thì họ sẽ dư dật; nhưng
kẻ nào không có, thì cũng cất luôn điều họ đã có nữa.
30. Còn tên đầy
tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và
nghiến răng.
31. Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với
các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài.
32.
Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người
khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra;
33. để chiên ở bên hữu
và dê ở bên tả.
34. Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng:
Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng
đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất.
35. Vì ta đói, các
ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các
ngươi tiếp rước ta;
36. ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau,
các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta.
37. Lúc ấy, người công
bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho
ăn; hoặc khát, mà cho uống?
38. Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là
khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho?
39. Hay là khi nào
chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa?
40. Vua
sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc
đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã
làm cho chính mình ta vậy.
41. Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở
bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm
sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó.
42. Vì ta đã đói, các ngươi không
cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống;
43. ta là khách lạ, các
ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau
và bị tù, các ngươi không thăm viếng.
44. Ðến phiên các ngươi nầy bèn
thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc
khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà
không hầu việc Ngài ư?
45. Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng
các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người
rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.
46. Rồi
những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự
sống đời đời.
Ma-thi-ơ
26 chọn
đoạn khác
1. Vả, Ðức Chúa Jêsus đã phán những lời
ấy xong rồi, thì phán cùng môn đồ rằng:
2. Các ngươi biết rằng còn hai
ngày nữa thì đến lễ Vượt qua, và Con người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh
trên cây thập tự.
3. Bấy giờ các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong
dân nhóm lại trong tòa thầy cả thượng phẩm tên là Cai-phe;
4. và bàn
với nhau dùng mưu chước gì đặng bắt Ðức Chúa Jêsus mà giết.
5. Song họ
nói rằng: Không nên làm trong ngày lễ, e trong dân chúng sanh ra điều xào
xạc chăng.
6. Khi Ðức Chúa Jêsus ở làng Bê-tha-ni, tại nhà Si-môn là
người phung,
7. có một người đờn bà cầm cái chai bằng ngọc trắng đựng
dầu thơm quí giá lắm, đến gần mà đổ trên đầu Ngài đương khi ngồi ăn.
8.
Môn đồ thấy vậy, giận mà trách rằng: Sao phí của như vậy?
9. Dầu nầy có
thể bán được nhiều tiền và lấy mà thí cho kẻ nghèo nàn.
10. Ðức Chúa
Jêsus biết điều đó, bèn phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi làm khó cho
người đờn bà đó? Người đã làm việc tốt cho ta;
11. vì các ngươi thương
có kẻ nghèo ở cùng mình, song sẽ không có ta ở cùng luôn luôn.
12.
Người đổ dầu thơm trên mình ta là để sửa soạn chôn xác ta đó.
13. Quả
thật, ta nói cùng các ngươi, khắp cả thế gian, hễ nơi nào Tin Lành nầy
được giảng ra, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến
người.
14. Bấy giờ có một người trong mười hai sứ đồ, tên là Giu-đa
Ích-ca-ri-ốt, đến tìm các thầy tế lễ cả,
15. mà nói rằng: Các thầy bằng
lòng trả cho tôi bao nhiêu đặng tôi sẽ nộp người cho? Họ bèn trả cho nó ba
chục bạc.
16. Từ lúc đó, nó tìm dịp tiện để nộp Ðức Chúa Jêsus.
17.
Trong ngày thứ nhứt ăn bánh không men, môn đồ đến gần Ðức Chúa Jêsus mà
thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu?
18.
Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy
nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà
ngươi.
19. Môn đồ làm y như lời Ðức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt
qua.
20. Ðến tối, Ngài ngồi ăn với mười hai sứ đồ.
21. Khi đương ăn,
Ngài phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi rằng có một người trong
các ngươi sẽ phản ta.
22. Các môn đồ lấy làm buồn bực lắm, và lần lượt
hỏi Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải tôi không? Ngài đáp rằng:
23. Kẻ nào
để tay vào mâm với ta, ấy là kẻ sẽ phản ta.
24. Con người đi, y theo
lời đã chép về Ngài; song khốn nạn thay cho kẻ phản Con người! Thà nó
chẳng sanh ra thì hơn!
25. Giu-đa là kẻ phản Ngài cất tiếng hỏi rằng:
Thưa thầy, có phải tôi chăng? Ngài phán rằng: Thật như ngươi đã
nói.
26. Khi đương ăn, Ðức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa
cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta.
27. Ngài lại lấy
chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi;
28. vì
nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha
tội.
29. Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho
nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong
nước của Cha ta.
30. Khi đã hát thơ thánh rồi, Ðức Chúa Jêsus và môn đồ
đi ra mà lên núi, Ô-li-ve.
31. Ngài bèn phán rằng: Ðêm nay các ngươi sẽ
đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì
chiên trong bầy sẽ bị tan lạc.
32. Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ
đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.
33. Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng:
Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm
vậy.
34. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính
đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần.
35. Phi-e-rơ thưa
rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy
môn đồ đều nói y như vậy.
36. Rồi Ðức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đến một
chỗ kêu là Ghết-sê-ma-nê. Ngài phán rằng: Hãy ngồi đây đợi ta đi cầu
nguyện đằng kia.
37. Ðoạn, Ngài bèn đem Phi-e-rơ và hai người con của
Xê-bê-đê đi với mình, tức thì Ngài buồn bực và sầu não lắm.
38. Ngài
bèn phán: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết; các ngươi hãy ở đây và tỉnh
thức với ta.
39. Rồi Ngài bước tới một ít, sấp mặt xuống đất mà cầu
nguyện rằng: Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi Con! Song
không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.
40. Kế đó, Ngài trở lại với
môn đồ, thấy đang ngủ, thì Ngài phán cùng Phi-e-rơ rằng: Thế thì các ngươi
không tỉnh thức với ta trong một giờ được!
41. Hãy thức canh và cầu
nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác
thịt thì yếu đuối.
42. Ngài lại đi lần thứ hai, mà cầu nguyện rằng: Cha
ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý
Cha được nên.
43. Ngài trở lại nữa, thì thấy môn đồ còn ngủ; vì mắt họ
đã đừ quá rồi.
44. Ðoạn, Ngài bỏ mà lại đi cầu nguyện lần thứ ba, và
lặp xin như lời trước.
45. Rồi Ngài đi đến với môn đồ, mà phán rằng:
Bây giờ các ngươi ngủ và nghỉ ngơi ư! Nầy, giờ đã gần tới, Con người sẽ bị
nộp trong tay kẻ có tội.
46. Hãy chờ dậy, đi hè, kìa kẻ phản ta đến
kia.
47. Khi Ngài còn đương phán, xảy thấy Giu-đa là một người trong
mười hai sứ đồ đến với một bọn đông người cầm gươm và gậy, mà các thầy tế
lễ và các trưởng lão trong dân đã sai đến.
48. Ðứa phản Ngài đã trao
cho bọn đó dấu nầy: Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt
lấy.
49. Tức thì Giu-đa đến gần Ðức Chúa Jêsus mà rằng: Chào thầy! Rồi
hôn Ngài.
50. Nhưng Ðức Chúa Jêsus phán cùng nó rằng: Bạn ơi! vậy thì
vì việc nầy mà ngươi đến đây sao? Rồi chúng nó đến gần tra tay bắt Ðức
Chúa Jêsus.
51. Và nầy, có một người trong những người ở với Ðức Chúa
Jêsus giơ tay rút gươm ra, đánh đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt
một cái tai của người.
52. Ðức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hãy nạp gươm
vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm.
53. Ngươi tưởng ta
không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ
sao?
54. Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng
việc nầy tất phải xảy đến?
55. Lúc bấy giờ, Ðức Chúa Jêsus phán cùng
chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ
cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi
không bắt ta.
56. Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các
đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. Khi ấy, hết thảy môn đồ bỏ Ngài mà
trốn đi.
57. Những kẻ đã bắt Ðức Chúa Jêsus đem Ngài đến nhà thầy cả
thượng phẩm Cai-phe, tại đó các thầy thông giáo và các trưởng lão đã nhóm
lại.
58. Phi-e-rơ theo Ngài xa xa cho đến sân của thầy cả thượng phẩm,
vào ngồi với các kẻ canh giữ đặng coi việc ấy ra làm sao.
59. Bấy giờ
các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được
giết Ngài.
60. Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm
không được chứng nào cả. Sau hết, có hai người đến,
61. nói như vầy:
Người nầy đã nói Ta có thể phá đền thờ của Ðức Chúa Trời, rồi dựng lại
trong ba ngày.
62. Thầy cả thượng phẩm bèn đứng dậy mà nói với Ngài
rằng: Những người nầy làm chứng mà kiện ngươi, ngươi không thưa lại gì
sao?
63. Nhưng Ðức Chúa Jêsus cứ làm thinh. Thầy cả thượng phẩm lại nói
với Ngài rằng: Ta khiến ngươi chỉ Ðức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói
cho chúng ta, ngươi có phải là Ðấng Christ, Con Ðức Chúa Trời
chăng?
64. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời; vả lại, ta nói cùng
các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Ðức
Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.
65. Thầy cả thượng phẩm
bèn xé áo mình mà nói rằng: Nó đã nói phạm thượng; chúng ta còn cần gì
người làm chứng nữa sao Các ngươi vừa nghe lời phạm thượng đó, thì nghĩ
làm sao?
66. Chúng trả lời rằng: Nó đáng chết!
67. Họ bèn nhổ trên
mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài,
68. mà nói rằng: Hỡi Ðấng
Christ, hãy nói tiên tri đi; cho chúng ta biết ai đánh ngươi.
69. Bấy
giờ Phi-e-rơ vẫn ngồi ngoài sân. Có một người đầy tớ gái đến gần, mà nói
cùng người rằng: Ngươi cũng là kẻ ở với Jêsus, người Ga-li-lê.
70. Song
Phi-e-rơ chối trước mặt chúng mà rằng: Ta không hiểu ngươi nói chi.
71.
Khi đi ra ngoài cửa, lại có một đầy tớ gái khác thấy người, bèn nói cùng
kẻ ở đó rằng: Người nầy cũng ở với Jêsus, người Na-xa-rét.
72. Song
Phi-e-rơ lại chối và thề rằng: Ta chẳng hề biết người ấy.
73. Một chặp
nữa, những kẻ ở gần đó đến gần nói với Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi
cũng thuộc về đảng ấy, vì tiếng nói của ngươi khai ngươi ra.
74. Người
bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu! Tức thì gà gáy.
75.
Phi-e-rơ nhớ lại lời Ðức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi
sẽ chối ta ba lần. Ðoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng
cay.
Ma-thi-ơ 27
chọn
đoạn khác
1. Ðến sáng mai, các thầy tế lễ cả và các
trưởng lão trong dân hội nghị nghịch cùng Ðức Chúa Jêsus để giết
Ngài.
2. Khi đã trói Ngài rồi, họ đem nộp cho Phi-lát, là quan tổng
đốc.
3. Khi ấy, Giu-đa, là kẻ đã phản Ngài, thấy Ngài bị án, thì ăn
năn, bèn đem ba chục miếng bạc trả cho các thầy tế lễ cả và các trưởng
lão,
4. mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội! Song họ đáp
rằng: Sự đó can gì đến chúng ta? Mặc kệ ngươi.
5. Giu-đa bèn ném bạc
vào đền thờ, liền trở ra, đi thắt cổ.
6. Nhưng các thầy tế lễ cả lượm
bạc và nói rằng: Không có phép để bạc nầy trong kho thánh, vì là giá của
huyết.
7. Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm
để chôn những khách lạ.
8. Nhơn đó, ruộng ấy đến nay còn gọi là "ruộng
huyết."
9. Bấy giờ được ứng nghiệm lời đấng tiên tri Giê-rê-mi đã nói
rằng: Họ lấy ba chục bạc, là giá của Ðấng đã bị định bởi con cái
Y-sơ-ra-ên,
10. và đưa bạc ấy mà mua ruộng của kẻ làm đồ gốm y như lời
Chúa đã truyền cho ta.
11. Ðức Chúa Jêsus đứng trước quan tổng đốc,
quan hỏi rằng: Có phải ngươi là Vua của dân Giu-đa không? Ðức Chúa Jêsus
đáp rằng: Thật như lời.
12. Trong lúc các thầy tế lễ cả và các trưởng
lão kiện Ngài, Ngài không đối đáp gì hết.
13. Phi-lát bèn nói cùng Ngài
rằng: Họ có nhiều điều làm chứng kiện ngươi, ngươi há không nghe đến
sao?
14. Song Ðức Chúa Jêsus không đáp lại một lời gì, đến nỗi làm cho
quan tổng đốc lấy làm lạ lắm.
15. Phàm đến ngày lễ Vượt qua, quan tổng
đốc thường có lệ tha một tên tù tùy ý dân muốn.
16. Ðang lúc ấy, có một
tên phạm nổi tiếng, tên là Ba-ra-ba.
17. Khi chúng đã nhóm lại, thì
Phi-lát hỏi rằng: Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay là Jêsus
gọi là Christ?
18. Vì quan ấy biết bởi lòng ghen ghét nên chúng đã nộp
Ngài.
19. Quan tổng đốc đương ngồi trên tòa án, vợ người sai thưa cùng
người rằng: Ðừng làm gì đến người công bình đó; vì hôm nay tôi đã bởi cớ
người mà đau đớn nhiều trong chiêm bao.
20. Song các thầy tế lễ cả và
các trưởng lão dỗ chúng hãy xin tha Ba-ra-ba và giết Ðức Chúa Jêsus
21.
Quan tổng đốc cất tiếng hỏi rằng: Trong hai người nầy, các ngươi muốn ta
tha ai? Chúng thưa rằng: Ba-ra-ba.
22. Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus
gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Ðóng đinh nó
trên cây thập tự!
23. Quan hỏi: Song người nầy đã làm việc dữ gì? chúng
lại kêu la lớn hơn rằng: Ðóng đinh nó trên cây thập tự!
24. Phi-lát
thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn ào càng thêm, thì lấy nước rửa
tay trước mặt thiên hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người
nầy; điều đó mặc kệ các ngươi.
25. Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin
huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!
26. Phi-lát bèn
tha tên Ba-ra-ba cho chúng; và khiến đánh đòn Ðức Chúa Jêsus, đoạn giao
Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.
27. Lính của quan tổng đốc bèn
đem Ðức Chúa Jêsus vào công đường, và nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài.
28.
Họ cổi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài.
29. Ðoạn, họ đương
một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi
quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa.
30.
Họ nhổ trên Ngài, và lấy cây sậy đánh đầu Ngài.
31. Khi đã nhạo báng
Ngài rồi, thì họ cổi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi
đóng đinh trên cây thập tự.
32. Khi họ đi ra, gặp một người ở trành
Sy-ren tên là Si-môn; thì bắt người vác cây thập tự của Ðức Chúa
Giê-xu.
33. Ðã đi tới một chỗ gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ cái
Sọ,
34. họ cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng; song Ngài nếm, thì
không chịu uống.
35. Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, thì bắt
thăm mà chia nhau áo xống của Ngài.
36. Rồi họ ngồi đó mà canh giữ
Ngài.
37. Phía trên đầu Ngài họ để cái bảng đề chữ chỉ về án Ngài,
rằng: Người Nầy Là Jêsus, Vua Dân Giu-đa.
38. Cũng lúc đó, họ đóng đinh
hai tên trộm cướp với Ngài, một tên ở cây thập tự bên hữu, một tên ở cây
thập tự bên tả.
39. Những kẻ đi ngang qua đó chê cười Ngài, lắc
đầu,
40. mà nói rằng: Ngươi là kẻ phá đền thờ và dựng lại trong ba
ngày, hãy cứu lấy mình đi! Nếu ngươi là Con Ðức Chúa Trời, hãy xuống khỏi
cây thập tự!
41. Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng
lão cũng ngạo Ngài rằng:
42. Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được.
Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì
chúng ta mới tin.
43. Nó nhờ cậy Ðức Chúa Trời; nếu Ðức Chúa Trời yêu
nó thì bây giờ Ngài phải giải cứu cho, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Ðức
Chúa Trời.
44. Hai tên trộm cướp bị đóng đinh trên cây thập tự với Ngài
cũng nhiếc móc Ngài như vậy.
45. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp
cả xứ đều tối tăm mù mịt.
46. Ước chừng giờ thứ chín, Ðức Chúa Jêsus
kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li lam-ma sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Ðức
Chúa Trời tôi ơi! Ðức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?
47. Có mấy
người đứng đó, nghe kêu, thì nói rằng: Nó kêu Ê-li.
48. Liền có một
người trong bọn họ chạy lấy một miếng bông đá, và thấm đầy dấm, để trên
đầu cây sậy mà đưa cho Ngài uống.
49. Nhưng kẻ khác thì lại nói rằng:
Hãy để vậy, coi thử có Ê-li đến giải cứu nó chăng.
50. Ðức Chúa Jêsus
lại kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn.
51. Và nầy, cái màn
trong đền thờ, bị xé ra làm hai từ trên chí dưới, đất thì rúng động, đá
lớn bể ra,
52. mồ mả mở ra, và nhiều thây của các thánh qua đời được
sống lại.
53. Sau khi Ðức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi
mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy.
54. Thầy
đội và những lính cùng với người canh giữ Ðức Chúa Jêsus, thấy đất rúng
động và những điều xảy đến, thì sợ hãi lắm, mà nói rằng: Thật người nầy là
Con Ðức Chúa Trời.
55. Vả, có nhiều người đờn bà đứng coi ở đàng xa, là
người đã đi theo Ðức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê để hầu việc Ngài.
56.
Trong những đờn bà đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri, mẹ của Gia-cơ và Giô-sép,
và mẹ hai con trai của Xê-bê-đê.
57. Ðến chiều tối, có một người giàu,
ở thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-sép, chính là một môn đồ của Ðức Chúa
Jêsus,
58. đến nơi Phi-lát mà xin xác Ðức Chúa Jêsus. Phi-lát bèn
truyền cho.
59. Giô-sép lấy xác Ngài mà bọc trong tấm vải liệm
trắng,
60. và đưa để trong một cái huyệt mới mà người đã khiến đục cho
mình trong hòn đá; đoạn, lăn một hòn đá lớn đến trước cửa mồ, rồi
đi.
61. Có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác ở đó, ngồi đối ngang
huyệt.
62. Ðến ngày mai (là ngày sau ngày sắm sửa), các thầy tế lễ cả
và người Pha-ra-si cùng nhau đến Phi-lát
63. mà nói rằng: Thưa Chúa,
chúng tôi nhớ người gian dối nầy, khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày
thì ta sẽ sống lại.
64. Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến
ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng:
Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối
trước.
65. Phi-lát nói với họ rằng: Các ngươi có lính canh; hãy đi canh
giữ theo ý các ngươi.
66. Vậy, họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cắt lính
canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm.
Ma-thi-ơ 28 chọn
đoạn khác
1. sau ngày Sa-bát,
ngày thứ nhứt trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Ma-ri Ma-đơ-len và
Ma-ri khác đến thăm mộ.
2. Và nầy, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ
của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá ra mà ngồi ở trên.
3. Hình
dong của thiên sứ giống như chớp nháng, và áo trắng như tuyết.
4. Vì
đó, những lính canh sợ hãi run rẩy, trở nên như người chết.
5. Song
thiên sứ nói cùng các ngươi đờn bà đó rằng: Các ngươi đừng sợ chi cả; vì
ta biết các ngươi tìm Ðức Chúa Jêsus, là Ðấng bị đóng đinh trên thập tự
giá.
6. Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán.
Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm;
7. và hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay
rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Ðây nầy, Ngài đi trước các ngươi qua xứ
Ga-li-lê; ở đó, các ngươi sẽ thấy Ngài. Ấy, ta đã bảo các ngươi.
8. Hai
người đờn bà đó bèn vội vàng ra khỏi mộ, vừa sợ vừa cả mừng, chạy báo tin
cho các môn đồ.
9. Nầy, Ðức Chúa Jêsus gặp hai người đờn bà đó, thì
phán rằng: Mừng các ngươi! Hai người cùng đến gần ôm chơn Ngài, và thờ lạy
Ngài.
10. Ðức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ðừng sợ chi cả; hãy đi bảo cho
anh em ta đi qua xứ Ga-li-lê, ở đó sẽ thấy ta.
11. Trong khi hai người
đờn bà đó đi đường, thì có mấy tên lính canh vào thành thuật lại cho các
thầy tế lễ cả biết mọi việc đã xảy đến.
12. Các thầy bèn nhóm lại cùng
các trưởng lão đặng bàn luận, xong rồi, thì họ cho những lính đó nhiều
tiền bạc,
13. mà dặn rằng: Các ngươi hãy nói rằng: Môn đồ nó đã đến lúc
ban đêm, khi chúng tôi đương ngủ, mà lấy trộm nó đi.
14. Nếu điều ấy
thấu tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người, và làm cho các
ngươi khỏi lo sợ.
15. Mấy tên lính đó lấy bạc, và làm theo như lời.
Tiếng ấy đã đồn ra trong dân Giu-đa cho đến ngày nay.
16. Mười một môn
đồ, đi qua xứ Ga-li-lê, lên hòn núi mà Ðức Chúa Jêsus đã chỉ cho.
17.
Khi môn đồ thấy Ngài, thì thờ lạy Ngài; nhưng có một vài người nghi
ngờ.
18. Ðức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền
phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.
19. Vậy, hãy đi dạy dỗ
muôn dân, hãy nhơn danh Ðức Cha, Ðức Con, và Ðức Thánh Linh mà làm phép
báp tem cho họ,
20. và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho
các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận
thế.