Mục Lục
[1] [2] [3] [4]
[5] [6] [7] [8]
[9] [10] [11] [12]
[13] [14] [15] [16]
[17] [18] [19] [20]
[21] [22] [23] [24]
[25] [26] [27] [28]
[29] [30] [31] [32]
[33] [34] [35] [36]
[37] [38] [39] [40]
[41] [42] [43] [44]
[45] [46] [47] [48]
Ê-xê-chi-ên 1 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ ba
mươi, ngày mồng năm tháng tư, khi ta đương ở giữa phu tù, trước bờ sông
Kê-ba, các từng trời mở ra, và ta xem những sự hiện thấy của Ðức Chúa
Trời.
2. Ngày mồng năm tháng ấy, bấy giờ là năm thứ năm sau khi vua
Giê-hô-gia-kin bị bắt làm phu tù,
3. lời của Ðức Giê-hô-va được phán
riêng cho thầy tế lễ Ê-xê-chi-ên, con trai Bu-xi, tại trong đất người
Canh-đê, trên bờ sông Kê-ba. Ấy là tại đó mà tay Ðức Giê-hô-va đặt trên
người.
4. Nầy, ta thấy có luồng gió bão đến từ phương bắc, một đám mây
lớn bọc lửa giãi sáng khắp tư bề; từ giữa nó, thấy như loài kim bóng
nhoáng ra từ chính giữa lửa.
5. Từ giữa nó, thấy giống như bốn vật
sống, hình trạng như vầy: bộ giống người,
6. mỗi con có bốn mặt và bốn
cánh.
7. Chơn nó thẳng, bàn chơn như bàn chơn bò con đực; sáng ngời như
đồng bóng nhoáng.
8. Dưới những cánh nó, bốn bên đều có tay người; bốn
con có mặt và có cánh mình như sau nầy:
9. cánh tiếp giáp nhau khi đi,
không xây lại, mỗi con cứ đi thẳng tới.
10. Còn như hình mặt nó, thì
bốn con đều có mặt người; bốn con đều có mặt sư tử ở bên hữu; bốn con đều
có mặt bò ở bên tả; và bốn con đều có mặt chim ưng.
11. Những mặt và
cánh phân rẽ ra bởi trên cao; mỗi con có hai cánh giáp với nhau, và có hai
cánh che thân mình.
12. Mỗi con đi thẳng tới: thần khiến đi đâu thì đi
đó, không xây mình lại trong khi đi.
13. Hình trạng của những vật sống
ấy giống như hình trạng than đỏ và đuốc lửa; lửa lên xuống giữa các vật
sống ấy, lửa nhoáng sáng và có chớp từ nó phát ra.
14. Các vật sống ấy
chạy đi và trở lại như hình trạng chớp nhoáng.
15. Vả, đang khi ta ngắm
xem các vật sống ấy, nầy, trên đất có một cái bánh xe ở kề bên các vật
sống ấy, mỗi một trong bốn mặt đều có một bánh xe.
16. Hình và kiểu
những bánh xe ấy giống như bích ngọc; hết thảy bốn bánh đều giống nhau;
hình và kiểu như là bánh xe trong bánh xe.
17. Khi đi tới, thì đều đi
bốn phía mình: khi đi không phải xây lại.
18. Vòng bánh xe cao và dễ
sợ; và vòng bánh xe của bốn con đều đầy những mắt.
19. Khi các vật sống
đi, các bánh xe cũng đi kề bên; các vật sống bị cất lên khỏi đất, các bánh
xe cũng bị cất lên như vậy.
20. Thần muốn đi đâu thì các vật sống đi
đó; thần đi đó thì các bánh xe cũng bị cất lên kề bên các vật sống; vì
thần của vật sống đó ở trong các bánh xe.
21. Khi các vật sống đi,
chúng nó cũng đi; dừng, chúng nó cũng dừng; và khi các vật sống bị cất lên
khỏi đất, thì các bánh xe cũng bị cất lên kề bên, vì thần của vật sống ở
trong các bánh xe.
22. Ở trên đầu vật sống, thấy một vòng khung, giống
như thủy tinh dễ sợ, giãi ra trên đầu chúng nó.
23. Dưới vòng khung đó,
các cánh nó sè thẳng ra, cái nầy đối với cái kia. Các vật ấy mỗi con có
hai cánh che thân thể mình ở bên nầy và bên kia.
24. Khi đi tới, ta
nghe tiếng của những cánh chúng nó, như nước lớn ầm ầm, như tiếng của Ðấng
Toàn năng, tiếng om sòm như tiếng một đạo binh vậy. Khi dừng lại, thì xủ
cánh xuống.
25. Lúc chúng nó dừng lại và xủ cánh xuống, thì từ nơi vòng
khung trên đầy có tiếng vang ra.
26. Bên trên vòng khung giãi trên đầu
các vật sống, có hình như cái ngai, trạng nó như là bính ngọc; trên hình
ngai ấy có hình như người ở trên nó.
27. Trong ngai và mọi nơi chung
quanh, ta cũng thấy như đồng bóng nhoáng, giống lửa, từ trạng ngang lưng
người ấy trở lên; và từ trạng ngang lưng trở xuống, ta thấy như lửa sáng
hừng chung quanh.
28. Ánh sáng thấy chung quanh đó giống như ánh sáng
của cái mống trong mây khi đương mưa. Ấy là tỏ ra hình trạng của sự vinh
quang Ðức Giê-hô-va. Ta thấy thì sấp mặt xuống, và nghe tiếng của một Ðấng
phán cùng ta.
Ê-xê-chi-ên 2 chọn
đoạn khác
1. Ngài phán cùng
ta rằng: Hỡi con người, chơn ngươi hãy đứng, ta sẽ phán cùng ngươi.
2.
Ngài vừa phán cùng ta như vậy, thì Thần vào trong ta, làm cho chơn ta đứng
lên, và ta nghe Ðấng đã phán cùng ta.
3. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi
con người, ta sai ngươi đến cùng con cái Y-sơ-ra-ên, đến các dân bạn
nghịch nổi loạn nghịch cùng ta; chúng nó và tổ phụ mình đã phạm phép
nghịch cùng ta cho đến chính ngày nay.
4. Ấy là con cái dày mặt cứng
lòng, ta sai ngươi đến cùng chúng nó. Khá nói cùng chúng nó rằng: Chúa
Giê-hô-va có phán như vậy!
5. Còn như chúng nó, hoặc nghe ngươi, hoặc
chẳng khứng nghe, vì là nhà bạn nghịch, ít nữa chúng nó cũng biết rằng ở
giữa mình đã có một đấng tiên tri.
6. Nhưng, hỡi con người, ngươi chớ
sợ chúng nó, và chớ sợ lời chúng nó, dầu gai gốc ở với ngươi, và ngươi ở
giữa bọ cạp mặc lòng. Phải, dầu chúng nó là nhà bạn nghịch, ngươi cũng
đừng sợ lời chúng nó, và đừng kinh hãi mặt chúng nó.
7. Vậy, ngươi khá
đem lời ta nói cùng chúng nó, dầu nghe, dầu chẳng khứng nghe; vì chúng nó
rất là bạn nghịch.
8. Nhưng, hỡi con người, hãy nghe điều ta phán cùng
ngươi; chớ bạn nghịch như nhà nổi loạn ấy; hãy mở miệng, ăn lấy vật ta ban
cho.
9. Ta bèn xem, nầy, có một cái tay giơ đến ta, cầm một bản sách
cuốn.
10. Bản ấy giở ra trước mặt ta, có chữ đã chép, cả trong và
ngoài; ấy là những lời ca thương, than thở, khốn nạn đã chép vào
đó.
Ê-xê-chi-ên 3
chọn
đoạn khác
1. Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hỡi con
người, hãy ăn vật ngươi thấy; hãy ăn cuốn nầy, rồi đi, và nói cùng nhà
Y-sơ-ra-ên.
2. Ta mở miệng ra, và Ngài khiến ta ăn cuốn ấy.
3. Ngài
phán: Hỡi con người, hãy lấy cuốn ta cho ngươi mà khiến bụng ăn và làm đầy
ruột. Vậy ta ăn lấy, thì trong miệng ngọt như mật.
4. Ngài lại phán:
Hỡi con người, hãy đi, hãy đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên, đem những lời ta,
thuật lại cho chúng nó.
5. Vả, ấy chẳng phải ta sai ngươi đến cùng dân
nói tiếng mọi rợ khó hiểu; bèn là đến cùng nhà Y-sơ-ra-ên.
6. Thật,
chẳng phải ta sai ngươi đến cùng nhiều dân nói tiếng mọi rợ khó hiểu, mà
ngươi không thể hiểu lời chúng nó; nếu ta sai ngươi đến cùng chúng nó,
chắc chúng nó sẽ nghe ngươi.
7. Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên chẳng nghe ngươi,
vì nó không muốn nghe ta; bởi chưng cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng trán cứng
lòng.
8. Nầy, ta làm cho mặt ngươi dạn nghịch cùng mặt chúng nó, trán
ngươi cứng nghịch cùng trán chúng nó.
9. Ta làm cho trán ngươi cứng như
kim cương, cứng hơn đá lửa. Ðừng sợ và đừng run rẩy vì bộ mặt chúng nó,
dầu chúng nó là nhà bạn nghịch mặc lòng!
10. Ðoạn, Ngài phán cùng ta
rằng: Hỡi con người, hãy nhận vào lòng và nghe vào tai mọi lời ta sẽ phán
cùng ngươi.
11. Hãy đi, đến cùng những kẻ bị đày, cùng các con cái của
dân ngươi. Khá nói cùng chúng nó, dầu chúng nó nghe, dầu chẳng khứng nghe,
ngươi cũng nói với rằng: Chúa Giê-hô-va có phán như vậy.
12. Bấy giờ
Thần cất ta lên, và ta nghe có tiếng ào ào rất lớn ở đằng sau ta rằng:
Ðáng chúc phước cho sự vinh hiển Ðức Giê-hô-va từ nơi Ngài!
13. Ta cũng
nghe tiếng cánh của các vật sống đập cái nầy với cái khác, tiếng của những
bánh xe kề các vật ấy, và tiếng ào ào rất lớn.
14. Ðoạn, Thần cất ta
lên và đem ta đi; ta đi, lòng ta đầy sự cay đắng nóng nảy, tay Ðức
Giê-hô-va đặt trên ta cách mạnh mẽ.
15. Ta bèn đi đến Tên-A-bíp cùng
những kẻ bị đày ở trên bờ sông Kê-ba. Ta dừng lại nơi họ đương ở, và trú
lại giữa họ bảy ngày, buồn rầu lặng lẽ.
16. Khỏi bảy ngày, có lời của
Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
17. Hỡi con người, ta đã lập ngươi
lên đặng canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên; khá nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn
bảo chúng nó.
18. Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! Nếu
ngươi không răn bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ bỏ đường xấu để
cứu mạng mình, thì người dự đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi
huyết nó nơi tay ngươi.
19. Trái lại, nếu ngươi răn bảo kẻ dữ, mà nó
không từ bỏ sự dự cùng đường xấu mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó;
còn ngươi, thì giải cứu được linh hồn mình.
20. Cũng một lẽ ấy, nếu
người công bình bỏ sự công bình mà phạm tội, và ta đặt sự ngăn trở trước
mặt nó, thì nó sẽ chết. Thế thì, vì ngươi không răn bảo người ấy, nên nó
sẽ chết trong tội lỗi nó, và không còn được ghi nhớ những việc công bình
nó đã làm; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi.
21. Trái lại, nếu
ngươi răn bảo người công bình, khiến đừng phạm tội, mà thật ra nó không
phạm tội, thì chắc nó sẽ sống, vì đã nghe lời răn bảo; còn ngươi, thì giải
cứu được linh hồn mình.
22. Tại đó, tay Ðức Giê-hô-va ở trên ta, và
Ngài phán cùng ta rằng: Hãy chờ dậy, đi trong nơi đồng bằng, tại đó ta sẽ
phán cùng ngươi.
23. Vậy ta chờ dậy và ra đi trong đồng bằng. Nầy, sự
vinh hiển Ðức Giê-hô-va đứng đó, như sự vinh hiển ta đã thấy trên bờ sông
Kê-ba. Ta bèn ngã sấp mặt xuống,
24. thì Thần vào trong ta, làm cho
chơn ta đứng lên. Ðoạn, Ngài phán cùng ta, và bảo rằng: Hãy đi, giam mình
trong nhà ngươi.
25. Hỡi con người, nầy, người ta sẽ lấy dây trói
ngươi, và ngươi không thể đi ra giữa chúng nó.
26. Ta sẽ khiến lưỡi
ngươi dính vào cửa họng ngươi: ngươi sẽ câm, không quở trách chúng nó
được; vì chúng nó là nhà bạn nghịch.
27. Nhưng khi ta phán cùng ngươi,
ta sẽ mở miệng ngươi, và ngươi khá bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Ai nghe, hãy nghe; ai không nghe, thì đừng nghe! Vì chúng nó là
nhà bạn nghịch.
Ê-xê-chi-ên 4 chọn
đoạn khác
1. Hỡi con người,
hãy lấy một tấm ngói, đặt nó trước mặt ngươi, và vẽ thành Giê-ru-sa-lem ở
trên.
2. Ngươi khá vây hãm nó; dựng đồn, đắp lũy nghịch cùng nó; đóng
quân vây bọc lấy, và đặt máy phá thành xung quanh nghịch cùng nó.
3.
Lại hãy lấy một chảo sắt, đặt nó làm cái tường sắt giữa ngươi và thành;
rồi ngươi xây mặt lại cùng nó; nó sẽ bị vây, và ngươi sẽ vây nó. Ðó sẽ là
một điềm cho nhà Y-sơ-ra-ên.
4. Kế đó, ngươi khá nằm nghiêng mình bên
tả, và để tội lỗi nhà Y-sơ-ra-ên tại đó. Ngươi nằm như vậy bao nhiêu ngày,
thì mang lấy tội lỗi chúng nó cũng bấy nhiêu.
5. Vì ta đã định cho
ngươi một số ngày bằng với số năm của tội lỗi chúng nó, là ba trăm chín
mươi ngày, ngươi sẽ mang lấy tội lỗi nhà Y-sơ-ra-ên như vậy.
6. Vả lại,
khi những ngày ấy đã mãn, ngươi khá nằm nghiêng mình bên hữu, và mang lấy
tội lỗi của nhà Giu-đa, trải bốn mươi ngày, ta định cho ngươi mỗi một ngày
thay vì một năm.
7. Ngươi khá xây mặt và quay cánh tay trần về sự vây
hãm thành Giê-ru-sa-lem; ngươi khá nói tiên tri nghịch cùng nó.
8. Nầy,
ta dùng dây trói ngươi, và ngươi sẽ chẳng quay bên nầy bên kia, cho đến
những ngày ngươi vây thành đã trọn.
9. Cũng hãy lấy lúa mì, mạch nha,
đậu, biển đậu, kê và đại mạch, để vào một bình, dùng làm bánh cho mình;
ngươi nằm nghiêng bao nhiêu ngày, thì ngươi sẽ ăn bánh ấy trong bấy nhiêu
ngày, tức là ba trăm chín mươi ngày.
10. Ðồ ăn ngươi sẽ ăn, cứ mỗi ngày
nặng hai mươi siếc-lơ; ngươi sẽ ăn theo thì giờ.
11. Nước ngươi uống
cũng sẽ lường, là một phần sáu hin; theo thì giờ mà uống.
12. Ngươi sẽ
ăn bánh ấy như bánh mạch nha, mà phải dùng phân ngươi nấu chín trước mắt
chúng nó.
13. Ðức Giê-hô-va lại phán: Ấy con cái Y-sơ-ra-ên sẽ ăn bánh
dơ bẩn của chúng nó như vậy, trong các nước mà ta sẽ đuổi chúng nó
đến.
14. Ta bèn nói: Ôi! hỡi Chúa Giê-hô-va, nầy, linh hồn tôi chẳng hề
bị ô uế. Từ lúc còn nhỏ đến bây giờ, tôi chẳng hề ăn con vậy đã chết tự
nhiên, hoặc bị thú vật xé; và chẳng có thịt gớm ghiếc nào đã vào trong
miệng tôi.
15. Ngài đáp rằng: Ta cho phép ngươi lấy phân bò thay phân
người; ngươi khá dùng nó mà hấp bánh.
16. Ðoạn, Ngài lại phán: Hỡi con
người, nầy, ta sẽ bẻ gậy bánh trong Giê-ru-sa-lem đi; chúng nó sẽ cân bánh
mà ăn, và sợ hãi, lường nước mà uống, và sững sờ.
17. Thế thì chúng nó
thiếu bánh và nước, cùng nhau thất kinh, và hao mòn trong tội lỗi
mình.
Ê-xê-chi-ên 5
chọn
đoạn khác
1. Hỡi con người, còn như ngươi, hãy lấy
một cái gươm bén như dao cạo râu, lấy mà đưa qua trên đầu và râu ngươi.
Rồi dùng cân cân, và chia tóc.
2. Khi những ngày vây thành đã mãn,
ngươi hãy đốt nó một phần ba tại giữa thành; rồi lấy một phần ba khác,
dùng gươm mà đánh nó tại chung quanh thành. Sau lai, hãy rắc tan một phần
ba cuối cùng ra trước gió, chính ta sẽ tuốt gươm theo sau.
3. Trong
những cái còn lại, ngươi khá lấy một ít mà buộc vào vạt áo choàng
mình;
4. còn những cái sau rốt, hãy lấy một vài cái quăng trong lửa và
đốt cháy. Từ đó sẽ có lửa phát ra kịp đến cả nhà Y-sơ-ra-ên.
5. Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Kìa là thành Giê-ru-sa-lem, ta đã đặt nó giữa các
dân tộc, và các nước bao xung quanh nó.
6. Bởi nó bạn nghịch luật lệ
ta, làm đều dữ hơn các dân tộc, trái phép tắc ta hơn các nước chung quanh;
vì chúng nó khinh bỏ luật lệ ta, và không bước theo phép tắc ta.
7. Vậy
nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Tại các ngươi là rối loạn hơn các dân
tộc chung quanh, không bước theo phép tắc ta, cũng không giu luật lệ ta;
tại các ngươi cũng không làm theo luật lệ của các dân tộc chung quanh
mình,
8. vì cớ đó Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta, chính ta nghịch
cùng ngươi; và ta sẽ làm sự đoán phạt giữa ngươi cho các dân tộc đều
thấy.
9. Vì cớ mọi sự gớm ghiếc của ngươi, ta sẽ làm giữa ngươi một sự
mà trước kia ta chưa hề làm, sau nầy cũng không hề làm nữa.
10. Ở giữa
ngươi, cha sẽ ăn thịt con, con sẽ ăn thịt cha. Ta sẽ làm sự đoán phạt
nghịch cùng ngươi; và mọi kẻ sót lại của ngươi, ta sẽ làm cho nó tan lạc
ra mọi gió.
11. Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, tại ngươi
đã làm ô uế nơi thánh ta bởi những sự xấu hổ gớm ghiếc, nên ta cũng chắc
sẽ xây mắt chẳng tiếc ngươi. Mắt ta sẽ không dè tiếc, ta sẽ không thương
xót.
12. Một phần ba trong ngươi sẽ chết dịch, sẽ bị chơn đói kém làm
tiêu mòn ở giữa ngươi; một phần ba sẽ ngã dưới lưỡi gươm trong tứ vi
ngươi; còn một phần ba nữa, ta sẽ làm tan lạc ra mọi gió, và lấy gươm đuổi
theo nó.
13. Sự giận ta sẽ được trọn như vậy, và ta sẽ khiến cơn thạnh
nộ ta thôi nghịch cùng chúng nó, ta sẽ được yên ủi; và khi ta làm trọn sự
giận trên chúng nó rồi, thì chúng nó sẽ biết rằng ấy chính ta, Ðức
Giê-hô-va, đã nói trong sự sốt sắng ta.
14. Vả lại, ta sẽ làm ngươi ra
hoang vu và cớ nhuốc nha trong các nước chung quanh ngươi, và trước mắt kẻ
đi qua.
15. Vậy khi ta sẽ nổi giận xét đoán ngươi, nhơn sự thạnh nộ
trách phạt ngươi, ngươi sẽ bị nhuốc nha và chê bai, làm gương và gở lạ cho
các nước chung quanh ngươi. Chính ta là Ðức Giê-hô-va phán như vậy!
16.
Ta sẽ bắn trên chúng nó những tên độc của sự đói kém làm cho chết, mà ta
sẽ bắn để hủy diệt các ngươi; ta sẽ thêm sự đói kém trên các ngươi, và sẽ
bẻ gậy bánh của các ngươi đi.
17. Ta sẽ giáng sự đói kém cho các ngươi,
và sai thú dữ đến làm cho ngươi cô độc. Ôn dịch và sự đổ máu sẽ trải qua
giữa ngươi; ta lại sẽ sai gươm xuống trên ngươi nữa. Chính ta là Ðức
Giê-hô-va đã phán vậy!
Ê-xê-chi-ên 6 chọn
đoạn khác
1. Có lời Ðức
Giê-hô-va phán cho ta như vầy:
2. Hỡi con người, hãy xây mặt về các núi
của Y-sơ-ra-ên, và nói tiên tri nghịch cùng nó,
3. rằng: Hỡi các núi
của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời của Chúa Giê-hô-va. Chúa Giê-hô-va phán cùng
các núi, các đồi, hầm hố, và nơi trũng như vầy: Nầy, ta, chính ta sẽ giá
gươm trên các ngươi, hủy hoại các nơi cao của các ngươi.
4. Bàn thờ các
ngươi sẽ bị phá hoang, tượng mặt trời các ngươi sẽ bị bẻ gãy; ta sẽ ném bỏ
những kẻ bị giết của các ngươi trước mặt thần tượng các ngươi.
5. Ta sẽ
đặt những xác chết con cái Y-sơ-ra-ên ra trước mặt thần tượng chúng nó, và
rải hài cốt các ngươi khắp chung quanh bàn thờ các ngươi.
6. Hễ nơi nào
các ngươi ở, thì thành ấp sẽ bị hủy hoại, các nơi cao sẽ bị hoang vu, đến
nỗi bàn thờ các ngươi bị hủy hoại hoang vu, thần tượng bị đập bể và không
còn nữa, tượng mặt trời nát ra từng mảnh, và mọi công việc của các ngươi
thành ra hư không.
7. Những kẻ bị giết sẽ ngã xuống giữa các ngươi, các
ngươi sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va!
8. Dầu vậy, khi các ngươi bị
tan lạc ra các nước, ta sẽ còn để dân sót lại, vì giữa các nước sẽ có một
vài người được thoát khỏi mũi gươm.
9. Những kẻ trong các ngươi được
thoát ấy sẽ nhớ đến ta trong các nước mà chúng nó bị bắt đến, thể nào ta
đã buồn rầu trong lòng, vì lòng tà dâm của chúng nó đã lìa bỏ ta, và mắt
chúng nó hành dâm theo thần tượng mình. Bấy giờ chúng nó tự oán hận mình,
vì cớ mọi sự dữ chúng nó đã làm bởi những việc gớm ghiếc của mình.
10.
Chúng nó sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, và lời ta đã nói giáng tai vạ cho
chúng nó chẳng phải là lời hư không vậy.
11. Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Hãy vỗ tay giậm chơn mà rằng: Than ôi! vì mọi sự dữ đáng gớm của nhà
Y-sơ-ra-ên; vì nó sẽ chết bởi gươm dao, đói kém, và ôn dịch.
12. Kẻ nào
xa sẽ chết bởi ôn dịch. Kẻ nào gần sẽ ngã dưới lưỡi gươm. Kẻ nào sống sót,
là kẻ bị vây, sẽ chết bởi đói kém; đối với chúng nó, ta sẽ làm cho trọn sự
giận của ta.
13. Khi những kẻ bị giết của chúng nó nằm giữa đám thần
tượng xung quanh bàn thờ, trên mỗi gò cao, trên mọi đỉnh núi, dưới mọi cây
xanh và cây dẽ rậm, khắp những nơi chúng nó dâng hương thơm ngào ngạt cho
thần tượng mình, bấy giờ các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
14. Vậy
ta sẽ giang tay nghịch cùng chúng nó, hễ nơi nào chúng nó ở, thì ta sẽ làm
cho đất đó ra hoang vu hủy phá, từ đồng vắng cho đến Ðíp-lát. Thế thì
chúng nó sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 7 chọn
đoạn khác
1.
Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con người, Chúa
Giê-hô-va phán cùng đất Y-sơ-ra-ên như vầy: Sự cuối rốt đây nầy! Sự cuối
rốt đã đến cho bốn góc đất!
3. Bây giờ, ấy là sự cuối rốt cho ngươi. Ta
sẽ xổ cơn giận ta trên ngươi, theo đường lối ngươi mà đoán xét ngươi, và
khiến đổ lại trên ngươi những sự gớm ghiếc.
4. Mắt ta chẳng đoái tiếc
ngươi; ta chẳng thương xót ngươi; nhưng ta sẽ giáng đường lối ngươi trên
ngươi, và những sự gớm ghiếc sẽ ở giữa ngươi. Các ngươi sẽ biết ta là Ðức
Giê-hô-va.
5. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Tai vạ, tai vạ có một: nầy,
nó đến!
6. Kỳ cuối cùng đến, kỳ cuối cùng nầy đến; nó tỉnh thức mà
nghịch cùng ngươi, kìa, nó đến kia!
7. Hỡi dân trong đất, sự bại hoại
định cho ngươi đã đến; kỳ đã đến, ngày gần rồi, là ngày có tiếng ồn ào,
không còn tiếng reo mừng trên các núi.
8. Nay ta hầu kíp đổ sự thạnh nộ
ta trên ngươi, và làm cho trọn sự giận ta nghịch cùng ngươi; ta sẽ đoán
xét ngươi theo cách ngươi ăn ở, và khiến đổ lại trên ngươi những sự gớm
ghiếc ngươi.
9. Mắt ta chẳng đoái tiếc ngươi, ta chẳng thương xót ngươi
đâu. Ta sẽ tùy theo đường lối ngươi báo trả ngươi, sự gớm ghiếc ngươi sẽ ở
giữa ngươi. Các ngươi sẽ biết rằng chính ta, Ðức Giê-hô-va, là Ðấng đánh
phạt.
10. Nầy, ngày đây! Nầy, ngày đến! Sự bại hoại định cho ngươi đã
đến; gậy đã trổ bông, sự kiêu căng đã nẩy nụ.
11. Sự cường bạo đã dấy
lên làm gậy gian ác; chúng nó sẽ chẳng còn chi hết, chẳng còn ai của đám
đông chúng nó, chẳng còn gì của sự giàu có chúng nó, chẳng còn sự sang
trọng giữa họ nữa.
12. Kỳ đến, ngày gần tới! Kẻ mua chớ vui, kẻ bán chớ
buồn; vì có cơn giận trên cả đoàn dân nó.
13. Vì kẻ bán dầu còn sống,
cũng không thể trở lại lấy của mình đã bán; vì sự hiện thấy chỉ về cả đoàn
dân nó, sẽ chẳng ai trở lại; và chẳng ai sẽ nhờ sự gian ác đời mình mà bổ
sức lại.
14. Kèn đã thổi, mọi sự đều sẵn sàng rồi; nhưng chẳng ai ra
trận, vì cơn giận ta ở trên cả đoàn dân nó.
15. Ở ngoài thì gươm dao, ở
trong thì ôn dịch và đói kém! Kẻ nào ở ngoài đồng sẽ chết bởi gươm dao; kẻ
nào ở trong thành, thì cơn đói kém và ôn dịch sẽ vồ nuốt lấy.
16. Song
những người nào được trốn sẽ thoát khỏi, và sẽ ở trên núi như bò câu ở
đồng trũng, mọi người trong chúng nó than vãn, ai nấy vì sự gian ác
mình.
17. Mọi tay đều mòn mỏi, mọi đầu gối đều yếu như nước!
18.
Chúng nó sẽ thắt lưng bằng bao gai, bị sự kinh khiếp bao bọc; mọi mặt đều
hổ thẹn, mọi đầu đều trọc trọi.
19. Chúng nó sẽ quăng bạc mình ra ngoài
đường phố, vàng chúng nó sẽ ra như đồ ô uế; hoặc vàng, hoặc bạc, cũng
không thể cứu chúng nó nơi ngày cơn giận của Ðức Giê-hô-va; không thể làm
cho chúng nó đầy ruột, vì ấy là đồ làm cho chúng nó sa vào tội lỗi!
20.
Những đồ trang sức chúng nó đã làm cớ kiêu ngạo cho mình; chúng nó dùng đồ
ấy mà làm hình tượng gớm ghiếc và đồ đáng ghét. Vậy nên, ta đã làm cho đồ
ấy ra như sự ô uế cho chúng nó!
21. Ta sẽ phó những đồ ấy làm mồi cho
tay dân ngoại, làm của cướp cho kẻ dữ trong thế gian; chúng nó sẽ làm ô uế
nó.
22. Ta sẽ xây mặt khỏi chúng nó, người ta sẽ làm dơ nhớp nơi cấm
của ta; những kẻ trộm cướp sẽ vào đó và làm ô uế.
23. Khá sắm sửa xiềng
xích! Vì trong đất đầy những tội làm đổ máu, và trong thành đầy những sự
tàn bạo.
24. Ta sẽ đem những kẻ rất hung ác trong các dân ngoại đến để
choán lấy nhà chúng nó; ta sẽ làm cho sự kiêu ngạo của kẻ mạnh tắt đi; các
nơi thánh của nó sự bị ô uế.
25. Sự hủy diệt đến! Chúng nó sẽ tìm sự
bình an, nhưng tìm không được.
26. Tai vạ chồng trên tai vạ, tin dữ kế
lấy tin dữ. Chúng nó sẽ tìm sự hiện thấy nơi kẻ tiên tri; nhưng luật pháp
lìa khỏi thầy tế lễ, trí mưu lìa khỏi các trưởng lão.
27. Vua sẽ thương
khóc, quan trưởng sẽ mặc lấy sự não, tay của dân trong đất đều run rẩy. Ta
sẽ đãi chúng nó theo cách chúng nó ăn ở; chúng nó đáng thể nào thì ta xét
đoán cho thể ấy, chúng nó sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 8
chọn
đoạn khác
1. Năm thứ sáu, ngày mồng năm tháng sáu, khi ta đương ngồi
trong nhà, và các trưởng lão Giu-đa ngồi trước mặt ta, thì tay Chúa
Giê-hô-va giáng trên ta.
2. Bấy giờ ta thấy, và nầy, có hình giống như
hình trạng lửa. Từ hình trạng ngang lưng người ấy trở xuống, thì là lửa;
còn từ lưng trở lên, thì như hình trạng sáng chói, tựa đồng bóng
nhoáng.
3. Người ấy giơ ra như hình cái tay, nắm lấy một lọn tóc trên
đầu ta. Thần cất ta lên giữa quãng đất và trời, trong sự hiện thấy của Ðức
Chúa Trời đem ta đến thành Giê-ru-sa-lem, nơi cửa vào sân trong, về phía
bắc, là nơi có chỗ ngồi của hình tượng sự ghen tương làm cho nổi
ghen.
4. Nầy, tại đó có sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, như
ta đã xem trong sự hiện thấy tại đồng bằng.
5. Ngài bèn phán cùng ta
rằng: Hỡi con người, hãy ngước mắt về phía bắc. Vậy ta ngước mắt về phía
bắc, và nầy, nơi phía bắc cửa bàn thờ, chỗ lối vào, có hình tượng của sự
ghen tương.
6. Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hỡi con người, ngươi có thấy
sự những kẻ nầy làm, tức là những sự gớm ghiếc lớn mà nhà Y-sơ-ra-ên đã
phạm tại đây, đặng làm cho ta xa nơi thánh ta chăng? Song ngươi sẽ còn
thấy sự gớm ghiếc lớn khác nữa!
7. Ðoạn, Ngài dắt ta đến cửa hành lang;
ta nhìn xem, thấy một lỗ trong vách.
8. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con
người, hãy xoi vách đi. Khi ta xoi vách xong, thì thấy có một cái
cửa.
9. Ngài lại phán: Hãy vào xem những sự gian ác đáng gớm mà chúng
nó làm ra ở đây.
10. Vậy ta vào, xem thấy; và nầy, có mọi thứ hình
tượng côn trùng và thú vật gớm ghiếc, mọi thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên đã
vẽ trên chung quanh tường.
11. Trước mặt các thần tượng ấy đứng bảy
mươi trưởng lão của nhà Y-sơ-ra-ên, giữa đám họ có Gia-a-xa-nia, con trai
Sa-phan, mỗi người tay cầm lư hương, khói thơm bay lên như ngút.
12.
Ngài bèn phán: Hỡi con người, ngươi có thấy sự các trưởng lão nhà
Y-sơ-ra-ên mỗi người làm trong nơi tối tăm, trong phòng vẽ hình tượng của
mình không? Vì chúng nó nói rằng: Ðức Giê-hô-va không thấy chúng ta đâu;
Ðức Giê-hô-va đã lìa bỏ đất nầy!
13. Ngài lại phán rằng: Ngươi sẽ còn
thấy những sự gớm ghiếc lớn khác nữa mà chúng nó làm!
14. Ngài dẫn ta
đến lối cửa nhà Ðức Giê-hô-va, cửa ấy về phía bắc; nầy, tại đó ta thấy
những đờn bà ngồi mà khác Tham-mu.
15. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con
người, thấy chưa? Ngươi sẽ còn thấy những sự gớm ghiếc lớn hơn nữa!
16.
Kế đó, Ngài đem ta vào hành lang trong của nhà Ðức Giê-hô-va; nầy, nơi lối
vào đền thờ Ðức Giê-hô-va, giữa hiên cửa và bàn thờ, ta thấy có ước chừng
hai mươi lăm người sấp lưng về phía đền thờ Ðức Giê-hô-va và xây mặt về
phía đông, hướng về phương đông mà thờ lạy mặt trời.
17. Ngài bèn phán
cùng ta rằng: Hỡi con người, thấy chưa? Nhà Giu-đa phạm những sự gớm ghiếc
mà nó phạm ở đây, há là sự nhỏ mọn sao? vì nó làm cho tội ác mình đầy dẫy
trong đất; và còn xây lại chọc giận ta. Nầy, chúng nó lấy nhánh cây để gần
mũi mình!
18. Vậy nên ta cũng sẽ làm y theo cơn giận; mắt ta chẳng đoái
tiếc chúng nó, và ta không thương xót đâu. Dầu chúng nó kêu la om sòm vang
đến tai ta, ta chẳng thèm nghe chúng nó.
Ê-xê-chi-ên 9 chọn
đoạn khác
1.
Ngài kêu lớn tiếng trong lỗ tai ta rằng: Khá khiến những kẻ cai trị thành
nầy hãy đến gần, ai nấy khá cầm khí giới hủy diệt trong tay mình.
2. Và
nầy, có sáu người từ cửa trên về phía bắc mà đến, mỗi người cầm khí giới
giết lát trong tay. Giữa bọn họ có một người mặc vải gai, lưng đeo sừng
mực. Sáu người bước vào, đứng bên bàn thờ bằng đồng.
3. Sự vinh hiển
của Ðức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên bèn dấy lên khỏi chê-ru-bin, là nơi thường
ngự, mà đến ngạch cửa nhà; Ðức Giê-hô-va gọi người mặc vải gai, lưng đeo
sừng mực
4. mà phán rằng: Hãy trải qua giữa thành tức giữa
Giê-ru-sa-lem, ghi dấu trên trán những người nào than thở khóc lóc về mọi
sự gớm ghiếc đã phạm giữa thành nầy.
5. Rồi Ngài phán cùng những người
kia cách như cho tôi nghe rằng: Hãy qua trong thành đằng sau nó, và đánh;
mắt ngươi chớ đoái tiếc, và đừng thương xót.
6. Nào già cả, nào trai
trẻ, nào gái đồng trinh, nào con nít, đờn bà, hãy giết hết; nhưng chớ lại
gần một kẻ nào là kẻ đã có ghi dấu; và khá bắt đầu từ các người già cả ở
trước mặt nhà.
7. Ngài lại phán cùng họ rằng: Hãy làm ô uế nhà, làm cho
xác chết đầy dẫy các hành lang! Hãy ra! Họ bèn ra và đánh trong
thành.
8. Trong khi họ đánh, thì ta ở lại một mình. Ta bèn ngã sấp mặt
xuống và kêu lên rằng: ôi! hãy Chúa Giê-hô-va, Chúa hầu đổ cơn giận trên
thành Giê-ru-sa-lem mà diệt hết thảy dân sót của Y-sơ-ra-ên, hay
sao?
9. Ngài phán rằng: Sự gian ác của nhà Y-sơ-ra-ên và của Giu-đa lớn
quá lắm thay; đất đầy những máu, trong thành đầy sự trái phép; vì chúng nó
nói rằng: Ðức Giê-hô-va đã lìa bỏ đất nầy, Ðức Giê-hô-va chẳng thấy chi
hết.
10. Về phần ta, mắt ta cũng chẳng đoái tiếc chúng nó, và ta không
thương xót; ta sẽ làm cho đường lối chúng nó đổ lại trên đầu chúng
nó.
11. Nầy, người mặc vải gai, lưng đeo sừng mực, đến trình việc rằng:
Tôi đã làm y như lời Ngài truyền.
Ê-xê-chi-ên 10 chọn
đoạn khác
1. Ta nhìn xem,
nầy, trên vòng khung giang ra trên đầu các chê-ru-bin có vật gì như là đá
bích ngọc, hình trạng như hình cái ngai.
2. Ngài bèn phán cùng người
mặc vải gai rằng: Hãy vào trong các khoảng bánh xe quay chóng ở dưới
chê-ru-bin; khá từ giữa các chê-ru-bin lấy những than lửa đó bỏ đầy cả hay
tay ngươi, rồi rải ra trên thành nầy. Người ấy vào nơi đó trước mặt
ta.
3. Khi người vào, thì các chê-ru-bin đứng bên hữu nhà; mây đầy hành
lang trong.
4. Sự vinh hiển của Ðức Giê-hô-va bèn dấy lên từ
chê-ru-bin, đứng nơi ngạch cửa nhà; nhà đầy mây, và hành lang đầy sự chói
sáng của vinh quang Ðức Giê-hô-va.
5. Tiếng của những cánh chê-ru-bin
vang ra đến hành lang ngoài, giống như tiếng của Ðức Chúa Trời Toàn năng,
khi Ngài phán.
6. Khi Ðức Giê-hô-va đã truyền lịnh cho người mặc vải
gai rằng: Hãy lấy lửa từ giữa khoảng các bánh xe quay chóng, giữa các
chê-ru-bin, thì người vào và đứng bên một bánh xe.
7. Rồi một
chê-ru-bin từ giữa các chê-ru-bin giơ tay ra đến lửa giữa các chê-ru-bin,
và lấy lửa đem đặt vào tay người mặc vải gai; người nầy tiếp lấy rồi thì
ra.
8. Vả, nơi dưới cánh các chê-ru-bin có tỏ ra hình một cái tay
người.
9. Ta còn nhìn xem, nầy, có bốn bánh xe kề bên các chê-ru-bin,
và một bánh xe khác kề một chê-ru-bin khác; hình trạng những bánh xe ấy
giống như bích ngọc.
10. Theo như hình trạng các bánh xe ấy, bốn cái có
đồng một hình như một bánh xe ở trong bánh xe.
11. Khi chúng nó đi tới,
đều đi bốn phía mình, khi đi chẳng xây lại; tùy theo cái đầu hướng về bên
nào, thì chúng nó đi theo; khi đi chẳng xây lại.
12. Cả mình các
chê-ru-bin, lưng, tay, cánh, bánh xe, khắp chung quanh đều đầy những mắt,
tức các bánh xe mà bốn chê-ru-bin ấy có.
13. Bấy giờ ta nghe gọi bánh
xe ấy là bánh xe quay chóng.
14. Mỗi chê-ru-bin có bốn mặt: thứ nhứt là
mặt chê-ru-bin; thứ nhì, mặt người; thứ ba, mặt sư tử; thứ tư, mặt chim
ưng.
15. Ðoạn, các chê-ru-bin dấy lên: ấy là vật sống mà ta thấy trên
bờ sông Kê-ba.
16. Khi các chê-ru-bin đi, thì các bánh xe đi kề chúng
nó; khi các chê-ru-bin sè cánh để dấy lên khỏi đất, thì các bánh xe không
quay khỏi bên chúng nó.
17. Khi các chê-ru-bin dừng lại, các bánh xe
cùng dừng lại; khi dấy lên, cùng dấy lên; vì thần của vật sống ấy ở trong
các bánh xe vậy.
18. Sự vinh hiển Ðức Giê-hô-va ra khỏi ngạch cửa nhà,
và đứng trên các chê-ru-bin.
19. Các chê-ru-bin sè cánh dấy lên khỏi
đất, mà ra trước mắt ta, và các bánh xe ở kề nó; chúng nó dừng nơi lối vào
cửa đông nhà Ðức Giê-hô-va, và sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên ở
trên chúng nó.
20. Ấy đó là vật sống mà ta thấy dưới Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, trên bờ sông Kê-ba, và ta biết nó là chê-ru-bin.
21. Mỗi
chê-ru-bin có bốn mặt và bốn cánh; dưới cánh có hình như tay người.
22.
Về phần hình trạng của các mặt nó, ấy là những mặt mà ta thấy trên bờ sông
Kê-ba, cả hình trạng và chính mình chúng nó; và chúng nó đều đi thẳng tới
trước.
Ê-xê-chi-ên 11
chọn
đoạn khác
1. Vả lại, Thần cất ta lên và đem đến cửa
đông nhà Ðức Giê-hô-va, là cửa ở về phía đông. Nầy, nơi lối vào cửa có hai
mươi lăm người; giữa bọn đó, ta thấy có Gia-a-xa-nia con trai A-xua, và
Phê-la-tia con trai Bê-na-gia, đều là quan trưởng của dân.
2. Ngài phán
cùng ta rằng: hãy con người, đó là những người toan tính sự gian ác, bày
đặt mưu gian trong thành nầy.
3. Chúng nó nói rằng: Hiện nay chưa gần
kỳ xây nhà! Thành nầy là nồi, chúng ta là thịt.
4. Vậy nên, hãy nói
tiên tri nghịch cùng chúng nó, hỡi con người hãy nói tiên tri đi!
5.
Thần của Ðức Giê-hô-va bèn đổ trên ta, và phán rằng: Hãy nói đi! Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! các ngươi đã nói làm vậy; vì
ta biết những sự nghĩ trong trí các ngươi.
6. Các ngươi đã giết rất
nhiều người trong thành nầy, và làm đầy xác chết trong các đường phố
nó.
7. Cho nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Những kẻ bị giết mà các
ngươi đã để ở giữa thành, ấy là thịt, mà thành là nồi; còn các ngươi sẽ bị
đem ra khỏi giữa nó.
8. Các ngươi sợ gươm dao; ta sẽ khiến gươm dao đến
trên các ngươi, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
9. Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi
giữa thành nầy, sẽ phó các ngươi trong tay dân ngoại, và làm sự đoán phạt
giữa các ngươi.
10. Các ngươi sẽ ngã bởi gươm; ta sẽ đoán xét các ngươi
trong bờ cõi Y-sơ-ra-ên, các ngươi sẽ biết rằng ta là Ðức
Giê-hô-va.
11. Thành nầy sẽ chẳng làm nồi cho các ngươi, các ngươi sẽ
chẳng làm thịt giữa nó; ta sẽ đoán xét các ngươi trong bờ cõi
Y-sơ-ra-ên.
12. Bấy giờ các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, vì các
ngươi đã không bước theo lề luật ta, không giữ theo mạng lịnh ta; nhưng đã
làm theo mạng lịnh các nước chung quanh mình.
13. Vả, trong khi ta nói
tiên tri, thì Phê-la-tia, con trai Bê-na-gia, chết. Ta bèn ngã sấp mặt
xuống và kêu lớn tiếng rằng: Ôi! Hỡi Chúa Giê-hô-va, Ngài hầu diệt hết dân
sót của Y-sơ-ra-ên hay sao?
14. Có lời Ðức Giê-hô-va phán cho ta
rằng:
15. Hỡi con người, dân cư thành Giê-ru-sa-lem đã nói cùng anh em
ngươi, chính anh em ngươi, là những kẻ bà con ngươi, và cả nhà Y-sơ-ra-ên,
hết cả mọi người, rằng: Hỡi lìa xa Ðức Giê-hô-va; đất nầy đã được ban cho
chúng ta làm cơ nghiệp.
16. Vậy nên, khá nói cùng chúng nó: Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Phải, ta đã dời chúng nó nơi xa trong các dân tộc,
đã làm tan tác chúng nó trong nhiều nước, ta còn sẽ tạm là nơi thánh cho
chúng nó trong các nước chúng nó đi đến.
17. Vậy nên, hãy nói rằng:
Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ nhóm các ngươi lại từ giữa các dân, sẽ
thâu các ngươi đã bị tan tác, và ta sẽ ban đất Y-sơ-ra-ên cho các
ngươi.
18. Chúng nó sẽ đến đó, và sẽ trừ bỏ mọi vật đáng ghét và mọi sự
gớm ghiếc của nó khỏi đó.
19. Ta sẽ ban cho chúng nó một lòng đồng
nhau, phú thần mới trong các ngươi; bỏ lòng đá khỏi xác thịt chúng nó, và
sẽ cho chúng nó lòng thịt;
20. để chúng nó noi theo lề luật ta, giữ và
làm theo mạng lịnh ta. Chúng nó sẽ làm dân ta, và ta làm Ðức Chúa Trời
chúng nó.
21. Nhưng, những kẻ để lòng bước theo sự ham mê của vật đáng
ghét và những sự gớm ghiếc, thì ta sẽ làm cho đường lối chúng nó đổ lại
trên đầu chúng nó, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
22. Bấy giờ, các chê-ru-bin
sè cánh lên, và có các bánh xe ở bên nó; sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời
Y-sơ-ra-ên cũng ở trên chúng nó.
23. Sự vinh hiển của Ðức Giê-hô-va dấy
lên từ giữa thành, và đứng trên núi phía đông thành.
24. Thần cất ta
lên, và trong sự hiện thấy ta bị Thần của Ðức Chúa Trời đem đi trong
Canh-đê, đến nơi những kẻ phu tù; sự hiện thấy đã hiện ra cho ta bèn lên
khỏi ta.
25. Bấy giờ ta thuật lại cho những kẻ phu tù mọi sự mà Ðức
Giê-hô-va đã tỏ cho ta biết.
Ê-xê-chi-ên 12 chọn
đoạn khác
1. Có lời Ðức
Giê-hô-va lại phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con người, ngươi ở giữa nhà bạn
nghịch, chúng nó có mắt để thấy mà không thấy, có tai để nghe mà không
nghe; vì ấy là nhà bạn nghịch.
3. Vậy, hỡi con người, ngươi khá sửa
soạn đồ vật dời đi, và dời đi giữa ban ngày cho chúng nó xem. Trước mắt
chúng nó hãy từ nơi ngươi ở mà dời đi chỗ khác; chúng nó dầu là nhà bạn
nghịch có lẽ sẽ nghĩ lại chăng.
4. Ngươi khá đem đồ vật mình như đồ vật
của kẻ dời đi, giữa ban ngày, trước mắt chúng nó; chính mình ngươi đi về
buổi chiều, trước mắt chúng nó, như kẻ đi đày.
5. Cũng ở trước mắt
chúng nó, ngươi khá xoi một cái lỗ qua tường, rồi từ lỗ đó đem đồ vật
ra.
6. Trước mắt chúng nó, ngươi để đồ vật lên vai, và đem đi lúc trời
tối. Ngươi khá che mặt, đặng không thấy đất nầy; vì ta đã đặt ngươi làm
một dấu cho nhà Y-sơ-ra-ên.
7. Ta làm theo lời Chúa đã phán dặn: mang
đồ vật đi giữa ban ngày như đồ vật kẻ dời đi, đến chiều ta lấy chính tay
mình mà xoi tường. Ta đem đồ vật đi trong lúc tối, và vác trên vai ta
trước mắt chúng nó.
8. Sớm mai có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta
rằng:
9. Hỡi con người, nhà Y-sơ-ra-ên, là nhà bạn nghịch ấy, há chẳng
từng hỏi ngươi rằng: Ngươi làm gì?
10. Hãy trả lời cho chúng rằng: Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Gánh nặng nầy chỉ về vua trong Giê-ru-sa-lem, cùng
cả nhà Y-sơ-ra-ên ở trong đó.
11. Ngươi khá nói rằng: Ta là điềm cho
các ngươi. Chúng nó sẽ gặp điều như ta đã làm; sẽ đi đày, sẽ đi làm phu
tù.
12. Vua giữa chúng nó sẽ vác trên vai mình mà đi ra trong lúc tối.
Chúng nó sẽ đục lỗ qua tường để mang đồ ra; người sẽ che mặt, vì mắt người
sẽ không thấy đất nầy.
13. Ta cũng sẽ giăng lưới ta trên người, người
sẽ mắc vào bẫy ta; và ta sẽ đem người qua Ba-by-lôn, là đất của người
Canh-đê. Nhưng người sẽ thấy đất ấy, dầu chết tại đó.
14. Những kẻ ở
xung quanh người để giúp người, và các đạo binh người, thì ta sẽ làm cho
tan ra mọi gió, và ta sẽ tuốt gươm mà đuổi theo.
15. Khi ta làm tan tác
chúng nó trong các dân tộc và rải ra trong các nước, chúng nó sẽ biết ta
là Ðức Giê-hô-va.
16. Dầu vậy, ta sẽ chừa lại một số ít trong chúng nó
thoát khỏi gươm dao, đói kém, ôn dịch; đặng chúng nó có thể thuật lại mọi
sự gớm ghiếc của mình trong các dân mà chúng nó sẽ đến ở; và chúng nó sẽ
biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
17. Ðoạn, có lời Ðức Giê-hô-va phán cho
ta như vầy:
18. Hỡi con người, ngươi khá ăn bánh trong sự kinh khủng,
uống nước với sự run rẩy và sợ hãi.
19. Ngươi khá nói cùng dân trong
đất rằng: Nầy là điều mà Chúa Giê-hô-va phán về dân cư Giê-ru-sa-lem, về
đất của Y-sơ-ra-ên: Chúng nó sẽ ăn bánh trong sự sợ hãi, và uống nước
trong sự kinh khủng, đặng đất nầy bị hoang vu, mất hết của cải, bởi cớ sự
cường bạo của cả dân cư đó.
20. Các thành đông dân sẽ trở nên gò đống,
đất sẽ bị hoang vu; và các ngươi sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
21.
Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cho ta rằng:
22. Hỡi con người, các ngươi
có một lời tục ngữ trong đất của Y-sơ-ra-ên, rằng: Những ngày kéo dài, mọi
sự hiện thấy chẳng ứng nghiệm! lời ấy nghĩa là gì?
23. Ấy vậy, hãy nói
cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ làm cho lời tục ngữ
ấy dứt đi, không ai dùng nó làm tục ngữ nữa trong Y-sơ-ra-ên. Song khá nói
cùng chúng nó rằng: Những ngày gần đến, mọi sự hiện thấy hầu ứng
nghiệm.
24. Thật, sẽ chẳng còn có một sự hiện thấy nào là giả dối, hoặc
một sự bói khoa nào là a dua trong nhà Y-sơ-ra-ên.
25. Vì ta là Ðức
Giê-hô-va, ta sẽ nói, và lời ta nói sẽ làm thành, không hoãn lại nữa. Hỡi
nhà bạn nghịch! Ấy là đương ngày các ngươi mà ta sẽ rao lời tiên tri và sẽ
làm thành, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
26. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán
cho ta như vầy:
27. Hỡi con người, nầy, nhà Y-sơ-ra-ên có kẻ nói rằng:
Sự hiện thấy của người nầy thấy là chỉ về lâu ngày về sau, và người nói
tiên tri về thời còn xa.
28. Vậy nên, hãy nói cùng chúng nó: Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Chẳng có lời nào của ta sẽ hoãn lại nữa, song lời
ta nói sẽ làm thành, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 13 chọn
đoạn khác
1.
Có lời Ðức Giê-hô-va phán cho ta như vầy:
2. Hỡi con người, hãy nói
tiên tri nghịch cùng các tiên tri của Y-sơ-ra-ên, là những kẻ đương nói
tiên tri, và hãy bảo cho những kẻ nói tiên tri bởi lòng riêng mình rằng:
Hãy nghe lời của Ðức Giê-hô-va.
3. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khốn
cho những tiên tri dại dột, theo thần riêng minh, mà chưa từng thấy gì
cả.
4. Hỡi Y-sơ-ra-ên, các tiên tri ngươi cũng như những con cáo trong
chốn hoang vu!
5. Các ngươi chưa lên nơi phá tan, và không xây tường
cho nhà Y-sơ-ra-ên, đặng đứng vững trong cơn chiến trận nơi ngày Ðức
Giê-hô-va.
6. Chúng nó đã thấy sự phỉnh phờ, và sự bói khoa giả dối.
Chúng nó nói rằng: Ðức Giê-hô-va phán, (song Ðức Giê-hô-va đã không sai
chúng nó), và chúng nó khiến người ta mong cho lời mình được ứng
nghiệm.
7. Khi ta chưa từng phán, mà các ngươi nói rằng: Ðức Giê-hô-va
có phán, vậy các ngươi há chẳng thấy sự hiện thấy phỉnh phờ và nói sự bói
khoa giả dối, hay sao?
8. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va có phán như vầy: Vì
các ngươi nói những lời giả dối, thấy những sự phỉnh phờ, nầy, ta nghịch
cùng các ngươi, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
9. Tay ta sẽ nghịch cùng những
tiên tri thấy sự hiện thấy phỉnh phờ, bói những sự giả dối. Chúng nó sẽ
không dự vào hội bàn dân ta nữa, không được ghi vào sổ nhà Y-sơ-ra-ên nữa,
và không vào trong đất của Y-sơ-ra-ên; các ngươi sẽ biết ta là Chúa
Giê-hô-va.
10. Thật vậy, bởi chúng nó lừa dối dân ta mà rằng: Bình an;
mà chẳng có bình an chi hết. Khi có ai xây tường, nầy, chúng nó trét vôi
chưa sùi bọt lên!
11. Hãy nói cùng những kẻ trét vôi chưa sùi bọt rằng
tường ấy sẽ xiêu đổ. Mưa to sẽ xảy đến. Hỡi mưa đá lớn, bay sẽ sa xuống;
và gió bão sẽ xé rách nó.
12. Nầy, khi tường sụp xuống, người ta há
chẳng nói cùng các ngươi rằng: Chớ nào vội mà các ngươi đã trét trên tường
ở đâu?
13. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ nhơn giận khiến
gió bão xé rách nó; ta sẽ nhơn cơn thạnh nộ sai mưa dầm đến, và nhơn sự
tức giận sai mưa đá lớn phá diệt nó.
14. Cũng vậy, ta sẽ dỡ cái tường
mà các ngươi đã trét vôi chưa sùi bọt, xô nó suốt đất, đến nỗi chơn nền
bày ra. Tường sẽ đổ, các ngươi sẽ bị diệt giữa nó, và biết rằng ta là Ðức
Giê-hô-va.
15. Ta sẽ làm trọn cơn giận nghịch cùng tường và kẻ trét vôi
chưa sùi bọt như vầy: và ta sẽ nói cùng các ngươi rằng: Tường chẳng còn
nữa, kẻ trét vôi cũng vậy;
16. tức là các tiên tri của Y-sơ-ra-ên nói
tiên tri về Giê-ru-sa-lem, xem sự hiện thấy bình an cho thành ấy, mà không
có bình an, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
17. Hỡi con người, ngươi khá xây
mặt nghịch cùng các con gái của dân ngươi, là những kẻ nói tiên tri bởi
lòng riêng mình; và ngươi khá nói tiên tri nghịch cùng chúng nó.
18.
Bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khốn cho những đờn bà vì
mọi cùi tay may gối, và y theo tầm thước mà làm khăn cho đầu, để săn linh
hồn. Ủa, kìa! các ngươi muốn săn linh hồn dân ta, và giữ linh hồn nó để
làm lợi cho mình hay sao?
19. Các ngươi vì mấy nhắm mạch nha, mấy miếng
bánh mà làm nhục ta giữa dân ta, các ngươi nói dối dân ta, là kẻ nghe lời
dối trá các ngươi, để mà giết những kẻ không đáng chết, cho sống những kẻ
không đáng sống.
20. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta ghét
những cái gối của các ngươi, vì bởi đó các ngươi săn linh hồn như đánh bẫy
chim; ta sẽ xé ra khỏi cánh tay các ngươi, và thả linh hồn mà các ngươi đã
săn, như chim bay đi.
21. Ta cũng sẽ xé khăn các ngươi, cứu dân ta ra
khỏi tay các ngươi, chúng nó sẽ không ở trong tay các ngươi để bị săn nữa;
bấy giờ các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
22. Vì các ngươi lấy sự
dối trá làm buồn lòng kẻ công bình mà ta chưa từng làm cho lo phiền, và
các ngươi làm mạnh tay kẻ dữ đặng nó không xây bỏ đường xấu mình để được
sống,
23. vì cớ đó, các ngươi sẽ không thấy sự hiện thấy thỉnh phờ, và
không bói khoa nữa. Ta sẽ cứu dân ta thoát khỏi tay các ngươi, và các
ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 14 chọn
đoạn khác
1. Một vài
trưởng lão kia của Y-sơ-ra-ên đến cùng ta, ngồi trước mặt ta.
2. Bấy
giờ có lời Ðức Giê-hô-va phán cho ta như vầy:
3. Hỡi con người, những
kẻ nầy mang thần tượng mình vào trong lòng, và đặt rồi mặt mình sự gian ác
mình làm cho vấp phạm; vậy ta há để cho chúng nó cầu hỏi ta một chút nào
sao?
4. Cho nên, hãy nói cùng chúng nó mà bảo rằng: Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Hễ người nào trong nhà Y-sơ-ra-ên mang thần tượng mình vào lòng,
và đặt trước mặt mình sự gian ác mình làm cho vấp phạm, nầy người ấy đến
cùng kẻ tiên tri, thì ta, Ðức Giê-hô-va, chính ta sẽ trả lời cho nó y như
thần tượng đông nhiều của nó,
5. hầu cho ta bắt được nhà Y-sơ-ra-ên
trong chính lòng nó, vì chúng nó nhơn thần tượng mình mà xa lạ ta.
6.
Vậy nên, hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy:
Hãy trở lại, xây bỏ thần tượng các ngươi, xây mặt khỏi mọi sự gớm ghiếc
của các ngươi.
7. Thật vậy, hết thảy những người nhà Y-sơ-ra-ên, hết
thảy khách lạ trú ngụ trong Y-sơ-ra-ên, hệ ai lìa xa ta, mà mang thần
tượng mình vào lòng, và đặt trước mặt mình sự gian ác mình làm cho vấp
phạm, đến cùng kẻ tiên tri để vì chính mình cầu hỏi ta, thì chính ta, Ðức
Giê-hô-va, sẽ trả lời cho nó.
8. Ta sẽ sấp mặt lại nghịch cùng người
ấy, khiến nó nên gở lạ, dấu, và tục ngữ, và dứt nó khỏi giữa dân ta. Bấy
giờ các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
9. Nếu kẻ tiên tri bị dỗ mà
nói lời nào, ấy chính ta, Ðức Giê-hô-va, đã để tiên tri đó bị dỗ, và ta sẽ
giá tay trên nó, diệt nó khỏi giữa dân Y-sơ-ra-ên của ta.
10. Cả hai sẽ
đều chịu tội mình: tội của kẻ tiên tri sẽ giống như tội của kẻ cầu
hỏi,
11. để cho nhà Y-sơ-ra-ên chẳng còn lầm lạc xa ta nữa, và chẳng
làm ô uế mình nữa bởi mọi sự phạm phép của nó; nhưng đặng chúng nó được
làm dân ta, và ta làm Ðức Chúa Trời chúng nó, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
12. Ðoạn, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
13. Hỡi con
người, nếu đất nào làm sự trái phép mà phạm tội nghịch cùng ta, và nếu ta
giá tay trên nó, bẻ gậy bánh của nó, giáng cho sự đói kém, và diệt hết
người và vật trong nó,
14. thì dẫu trong đất đó có ba người nầy, là
Nô-ê, Ða-ni-ên, và Gióp, cũng chỉ cứu được linh hồn mình bởi sự công bình
mình, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15. Nếu ta khiến các thú dữ trải qua
trong đất, làm cho hủy hoại, trở nên hoang vu, đến nỗi chẳng ai đi qua nữa
vì cớ các thú ấy,
16. thì dẫu trong đất có ba người đó, Chúa Giê-hô-va
phán, thật như ta hằng sống, họ cũng chẳng cứu được con trai con gái; chỉ
một mình họ được cứu, nhưng đất sẽ hoang vu.
17. Hay là, nếu ta sai
gươm dao đến trên đất đó, mà rằng: Gươm dao hãy trải qua đất, đến nỗi ta
diệt người và vật nó,
18. thì dẫu trong đất có ba người đó, Chúa
Giê-hô-va phán, thật như ta hằng sống, họ cũng chẳng cứu được con trai con
gái, nhưng chỉ một mình họ được cứu.
19. Hay là, nếu ta sai ôn dịch đến
trong đất đó, nếu ta đổ cơn giận mà làm chảy máu nó đặng diệt hết người và
vật khỏi nó,
20. thì dẫu có Nô-ê, Ða-ni-ên và Gióp ở đó, Chúa Giê-hô-va
phán, thật như ta hằng sống, họ cũng chẳng cứu được nào con trai nào con
gái, chỉ một mình họ cứu được linh hồn mình bởi sự công bình mình
thôi.
21. Vậy, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta lấy bốn sự đoán phạt
nặng nề, tức là gươm dao, đói kém, thú dự, và ôn dịch mà giáng cho
Giê-ru-sa-lem, đặng hủy diệt khỏi nó người và thú vật, sự đó quá hơn là
dường nào!
22. Dầu vậy, nầy, trong đó còn có kẻ sót lại, cả con trai
con gái sẽ bị đem ra: nầy, chúng nó sẽ đi ra đến cùng các ngươi; các ngươi
sẽ thấy đường lối và việc làm của chúng nó, thì sẽ tự yên ủi mình về tai
vạ ta đã giáng trên Giê-ru-sa-lem, tức về mọi sự ta đã giáng trên
nó.
23. Phải, khi các ngươi thấy đường lối và việc làm chúng nó, thì
chúng nó sẽ yên ủi các ngươi; và các ngươi sẽ biết mọi sự ta đã làm trong
nó, thì ta chẳng làm vô cớ, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 15
chọn
đoạn khác
1. Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con
người, cây nho ở trong các cây khác, và nhánh nho ở trong cây rừng, thì có
gì hơn không?
3. Người ta có thể lấy gỗ bởi nó để làm việc gì? Có dùng
làm đinh để treo vật gì được chăng?
4. Nầy, nó bị ném vào lửa để làm
củi, khi lửa đã thiêu hai đầu, và khúc giữa cũng cháy, thì còn dùng được
việc gì?
5. Nầy, khi nó còn nguyên, chẳng dùng làm gì được; huống nữa
là, khi lửa đã thiêu nuốt và nó đã bị đốt cháy, thì còn dùng làm trò chi
được ư!
6. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán Việt Nam: Như cây nho trong các
cây rừng mà ta lấy làm củi, ném vào trong lửa, thì ta cũng sẽ phó dân cư
Giê-ru-sa-lem như vầy.
7. Ta sẽ để mặt ta nghịch cùng chúng nó. Chúng
nó sẽ ra khỏi lửa, nhưng lửa sẽ thiêu đốt chúng nó đi; và khi ta để mặt
nghịch cùng chúng nó, các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
8. Ta sẽ
làm đất nầy ra hoang vu, vì chúng nó đã phạm tội, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
Ê-xê-chi-ên 16
chọn
đoạn khác
1. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta
như vầy:
2. Hỡi con người, hãy làm cho Giê-ru-sa-lem biết những sự gớm
ghiếc của nó.
3. Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán cùng
Giê-ru-sa-lem như vầy: Bởi cội rễ và sự sanh ra của mầy ở đất Ca-na-an;
cha mầy là người A-mô-rít, mẹ là người Hê-tít.
4. Về sự mầy sanh ra,
trong ngày mầy mới đẻ, rún mầy chưa cắt, chưa rửa mầy trong nước cho được
thanh sạch, chưa xát bằng muối, chưa bọc bằng khăn.
5. Chẳng có mắt nào
thương mầy, đặng làm một việc trong những việc đó cho mầy vì lòng thương
xót mầy; song mầy đã bị quăng giữa đồng trống trong ngày mầy sanh ra, vì
người ta gớm mầy.
6. Khi ta qua gần mầy, thấy mầy tắm trong máu mình,
ta phán cùng mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống! Thật, ta phán cùng
mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống!
7. Ta đã làm cho mầy thêm nhiều
ra, như vật đồng ruộng mọc lên. Mầy đã nẩy nở, lớn lên, và trở nên đẹp đẽ
lắm. Vú mầy dậy lên, tóc mầy dài ra, nhưng hãi còn ở lỗ và trần
truồng.
8. Khi ta qua gần mầy, và nhìn mầy, nầy, tuổi mầy nầy, mầy đã
đến tuổi yêu mến. Ta lấy áo ngoài ta trùm trên mầy, che sự trần truồng
mầy. Phải, ta thề cùng mầy và kết giao ước với mầy, thì mầy trở nên của
ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
9. Ta rửa mầy trong nước, làm cho sạch máu
vấy mình mầy, và xức dầu cho.
10. Ta mặc áo thêu cho mầy, cho mầy mang
giày sắc lam, thắt lưng mầy bằng vải gai mịn, đắp cho mầy bằng hàng
lụa.
11. Ta lấy đồ trang sức giồi cho mầy, xỏ vòng vào tay, mang kiềng
vào cỡ,
12. tra khoen nơi mũi, đeo hoa vào tai, và đội mão đẹp trên đầu
mầy.
13. Như vầy, mầy được trang sức bằng vàng bằng bạc; áo xống của
mầy bằng vải gai mịn, bằng hàng lụa, bằng đồ thêu; mầy nuôi mình bằng bột
mì lọc, bằng mật ong và bằng dầu. Mầy đã trở nên cực đẹp, và thạnh vượng
đến nỗi được ngôi hoàng hậu.
14. Danh tiếng mầy lừng lẫy trong các nước
bởi sắc đẹp mầy; vì sự đẹp là toàn vẹn bởi oai nghi của ta mà ta đã đặt
trên mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15. Nhưng mầy cậy sắc đẹp mình; cậy
danh tiếng mình mà buông sự dâm dục, hành dâm cùng mọi kẻ trải qua, phó
mình mầy cho nó.
16. Mầy dùng áo xống mình, trang sức nhiều mùi, và làm
sự dâm loạn tại đó; đều ấy sẽ chẳng đến, cũng sẽ chẳng có bao giờ.
17.
Mầy cũng đã lấy những đồ trang sức trọng thể, làm bằng vàng và bạc mà ta
đã ban cho mầy; mầy dùng làm hình người nam, rồi hành dâm với nó.
18.
Mầy lấy áo xống thêu của minh mà đắp cho chúng nó, lấy dầu và hương của ta
bày ra trước mặt chúng nó.
19. Bánh mà ta đã ban cho mầy, bột mì lọc,
dầu, và mật ong mà ta cho mầy ăn, thì mầy đem mà bày ra hết trước mặt
chúng nó, để làm mùi thơm tho. Thật, có sự ấy, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
20. Mầy đã bắt những con trai con gái mà mầy đã sanh ra cho ta,
đem dâng cho chúng nó đặng nuốt đi. Những sự dâm ô đó há phải là nhỏ mọn
sao?
21. Mầy đã giết con cái ta, và đã đưa qua trên lửa mà nộp cho
chúng nó.
22. Giữa mọi sự gớm ghiếc và sự tà dâm mầy, mầy không nhớ lúc
còn thơ trẻ, khi mầy hãi còn ở lỗ, truồng trần hết cả, tắm trong máu
mình.
23. Chúa Giê-hô-va phán: Khốn nạn, khốn nạn cho mầy! sau khi mầy
làm mọi sự dự ấy,
24. lại xây vòng khung cho mình, dựng nơi cao cho
mình trên mọi đường phố.
25. Nơi lối vào các đường phố, mầy xây nơi cao
mình, và đã làm cho sự đẹp đẽ mầy nên gớm ghiếc, mầy đã nộp mình cho mọi
người đi qua, và thêm nhiều sự tà dâm mầy.
26. Mầy đã hành dâm với
những người Ê-díp-tô, là người lân cận mầy có thân thể mạnh mẽ, mầy đã
thêm nhiều sự tà dâm đặng chọc giận ta.
27. Vậy, ta đã giang tay ta
trên mầy; bớt phần đã chỉ định cho mầy, và phó mầy cho ý muốn của kẻ ghét
mầy, tức các con gái Phi-li-tin, chúng nó đã mắc cỡ về sự hành dâm của
mầy.
28. Mầy cũng đã hành dâm cùng những người A-si-ri, vì mầy không no
chán. Sau khi đã phạm tội tà dâm với chúng nó, mầy còn chưa no
chán.
29. Vả, mầy đã thêm nhiều sự dâm dục với đất Ca-na-an cho đến
Canh-đê, thế mà mầy cũng chưa no chán!
30. Chúa Giê-hô-va phán: Ôi!
lòng mầy luốt lát là dường nào, mầy phạm mọi việc đó, là việc của đờn bà
tà dâm không biết xấu.
31. Khi mầy xây vòng khung mình nơi lối vào mỗi
đường, dựng nơi cao trên mỗi đường phố, mầy không giống như đứa điếm đĩ,
bởi mầy khinh tiền công;
32. mầy là đờn bà ngoại tình, tiếp người lạ
thay vì chồng mình.
33. Hễ là đứa điếm đĩ thì được tiền công; nhưng mầy
thì dâng lễ vật cho hết thảy tình nhơn mầy; mầy đã hối lộ cho chúng, để
chúng đến tư bề mà hành dâm với mầy.
34. Mầy đã làm trái với đờn bà
khác trong sự tà dâm mầy, vì người ta không tìm mầy; và mầy trả tiền công,
còn người ta không cho mầy chi hết. Ấy là mầy trái với những kẻ
khác!
35. Vậy nên, hỡi kẻ điếm đĩ, hãy nghe lời của Ðức
Giê-hô-va.
36. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì cớ mầy đã đổ ra sự ô uế,
tỏ ra sự trần truồng bởi sự hành dâm với tình nhơn mầy; và vì cớ mọi thần
tượng gớm ghiếc của mầy, cũng vì cớ máu con cái mầy đã dâng cho chúng
nó,
37. cho nên, nầy, ta sẽ nhóm hết thảy tình nhơn mầy, tức những kẻ
mầy ưa thích, mọi kẻ mầy yêu, mọi kẻ mầy ghét; ta sẽ nhóm chúng nó từ mọi
bề đến nghịch cùng mầy; ta sẽ lột truồng mầy cho chúng nó, chúng nó sẽ
thấy hết.
38. Ta sẽ đoán phạt mầy như đoán phạt đờn bà bội chồng và làm
đổ máu; ta sẽ lấy máu của sự giận dữ và ghen tương mà đổ trên mầy.
39.
Ta cũng sẽ phó mầy vào tay chúng nó: chúng nó sẽ phá vòng khung và đổ các
nơi cao của mầy; lột áo xống mầy, để mầy ở lỗ và truồng trần.
40. Chúng
nó sẽ khiến một lũ người lên nghịch cùng mầy, ném đá mầy và đâm mầy bằng
gươm.
41. Chúng nó sẽ lấy lửa đốt nhà mầy, đoán xét mầy trước mắt nhiều
đờn bà; ta sẽ làm cho mầy hết hành dâm và mầy cũng không cho tiền công
nữa.
42. Vậy thì cơn giận ta sẽ dứt, sự ghen tương ta lìa khỏi mầy, và
ta yên lặng, không giận nữa.
43. Vì mầy không nhớ lúc mình còn thơ bé,
và đã nóng giận nghịch cùng ta trong mọi việc; cho nên, nầy, ta cũng sẽ
làm cho đường lối mầy lại đổ trên đầu mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy; mầy sẽ
không thêm sự hành dâm nầy vào mọi sự gớm ghiếc mầy nữa.
44. Phàm người
hay dùng tục ngữ, sẽ lấy câu tục ngữ nầy mà nói về mầy: Mẹ thế nào, con
gái thế ấy!
45. Mầy là con gái của mẹ mầy, mẹ mầy đã chán bỏ chồng con
mình; mầy là em các chị mầy, các chị mầy đã chán bỏ chồng con mình; mẹ mầy
là người Hê-tít, và cha mầy là người A-mô-rít.
46. Chị mầy là Sa-ma-ri
cũng các con gái nó, ở bên tả mầy; em mầy là Sô-đôm cùng các con gái nó, ở
bên hữu mầy.
47. Còn mầy không bước đi trong đường chúng nó, và không
phạm những sự gớm ghiếc giống nhau; mầy cho điều đó là nhỏ mọn, nhưng mầy
đã tự làm ra xấu hơn chúng nó trong mọi đường lối mầy nữa.
48. Chúa
Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, Sô-đôm, em mầy, chính mình nó và
con gái nó chưa từng làm sự mầy và con gái mầy đã làm.
49. Nầy, đây là
sự gian ác của em gái mầy là Sô-đôm và các con gái nó: ở kiêu ngạo, ăn
bánh no nê, và ở nể cách sung sướng; nó lại không bổ sức cho tay kẻ nghèo
nàn và thiếu thốn.
50. Chúng nó đã trở nên cao ngạo, phạm những sự gớm
ghiếc trước mặt ta; nên ta đã trừ chúng nó đi, vừa khi ta thấy mọi điều
đó.
51. Sa-ma-ri chưa phạm đến phân nửa tội mà mầy đã phạm; mầy đã thêm
nhiều sự gớm ghiếc hơn nó, và bởi những sự gớm ghiếc mầy đã phạm, thì chị
em mầy con được kể là công bình.
52. Mầy xét đoán chị em mầy, ấy là mầy
chuốc lấy sự xấu hổ mình. Vì cớ tội lỗi mầy còn là đáng gớm hơn chúng nó,
thì chúng nó là công bình hơn mầy. Vậy, mầy cũng hãy mang nhơ chịu hổ, vì
mầy đã làm cho chị em mầy được kể là công bình!
53. Ta sẽ đem những phu
tù của Sô-đôm và các con gái nó trở về, đem những phu tù của Sa-ma-ri và
các con gái nó trở về, cũng đem các phu tù của mầy ở giữa chúng nó trở về
nữa;
54. để mầy mang nhuốc mình, và chịu hổ về mọi điều mầy đã làm, vì
đã làm cho chúng nó được yên ủi.
55. Chị em mầy, Sô-đôm và con gái nó,
sẽ trở lại như khi xưa. Sa-ma-ri cùng con gái nó cũng trở lại như khi xưa.
Mầy cùng con gái mầy cũng sẽ trở lại như khi xưa.
56. Trong ngày mầy
kiêu ngạo, miệng mầy chẳng nhắc đến tên Sô-đôm, em mầy;
57. lúc đó sự
dự của mầy chưa lộ ra, mầy còn chưa bị những lời nhiếc móc của con gái
Sy-ri và hết thảy các xứ lân cận, của các con gái Phi-li-tin nó khinh dể
mầy tư bề.
58. Mầy đã mang lấy sự hành dâm và sự gớm ghiếc của mầy, Ðức
Giê-hô-va phán vậy.
59. Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Mầy đã khinh dể
lời thề mà dứt bỏ giao ước ta, ta sẽ đối đãi mầy như mầy đã làm.
60.
Dầu vậy, ta sẽ nhớ lại giao ước ta đã lập với mầy đương ngày mầy thơ bé,
ta vì mầy sẽ lập một giao ước đời đời.
61. Khi mầy sẽ nhận lấy những
chị em mầy, mầy sẽ nhớ lại đường lối mình mà hổ thẹn; bấy giờ ta sẽ trao
chúng nó cho mầy làm con gái, nhưng không cứ theo giao ước mầy.
62. Ta
sẽ lập giao ước ta với mầy, mầy sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va;
63. hầu
cho mầy được nhớ lại và hổ ngươi; vì chớ sự xấu hổ mầy, mầy chẳng còn mở
miệng nữa, khi ta đã tha thứ mọi điều mầy đã làm, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
Ê-xê-chi-ên 17
chọn
đoạn khác
1. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta
như vầy:
2. Hỡi con người, khá ra câu đố, kể lời ví dụ cho nhà
Y-sơ-ra-ên.
3. Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Có một
chim ưng lớn, cánh lớn lông dài, đầy lông và có nhiều sắc, đến Li-ban và
lấy ngọn cây hương bách đi.
4. Nó bẻ nhành non rất cao, đem đến trong
một đất thương mãi, và để trong một thành của người buôn bán.
5. Sau
rồi nó lấy giống của đất ấy đem trồng nơi đất tốt; đặt gần nơi nhiều nước,
và trồng như cây liễu.
6. Cây nứt lên, trở nên một gốc nho diềm dà,
nhưng không cao mấy: những nhánh nó hướng về phía chim ưng, rễ nó càng ra
ở dưới; vậy nó trở nên một gốc nho, sanh ra những tược và nứt chồi.
7.
Nhưng có một chim ưng lớn khác, cánh lớn, lông nhiều; nầy, gốc nho từ chỗ
đất mình đã được trồng, căng rễ ra và ngả nhành hướng về nó, hầu cho chim
ưng ấy đến tưới mình.
8. Gốc nho đã được trồng nơi đất tốt, gần nơi
nhiều nước, hầu cho nứt tược, ra trái, trở nên cây nho tốt.
9. Ngươi
khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Cây nho há được thạnh tốt sao?
Chim ưng kia há chẳng nhổ rễ nó, cắt trái nó, cho đến nỗi làm khô héo hết
những lá non nó đã nứt ra sao? Không cần có cánh tay mạnh, cũng không cần
nhiều người để làm trốc rễ nó.
10. Kìa, đã trồng nó, nó có được thạnh
tốt chăng? Vừa khi gió đông đụng đến nó, nó há chẳng khô héo cả sao? Phải,
nó sẽ khô nơi cùng một luống đất mà nó đã được trồng.
11. Vả, có lời
Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
12. Hãy nói cùng nhà bạn nghịch ấy
rằng: Các ngươi không biết điều đó có ý nghĩa thế nào sao? Lại khá nói
rằng: Nầy, vua Ba-by-lôn đã di đến Giê-ru-sa-lem; đã bắt vua và các quan
trưởng đem đi với mình về Ba-by-lôn.
13. Vua ấy đã chọn một con vua,
lập giao ước với, khiến phát lời thề, và đã điệu những người mạnh trong
đất đi,
14. đặng cho nước phải sa sút, không tự dấy lên được; song bởi
giữ giao ước, thì nước còn lại.
15. Nhưng vua đã dấy loạn nghịch cùng
vua Ba-by-lôn, mà sai sứ thần đến Ê-díp-tô, đặng người ta giúp cho những
ngựa và nhiều dân. Người há được thạnh vượng sao? Người đã làm những việc
như vầy, há thoát nạn được sao? Ðã dứt bỏ lời giao ước, còn mong thoát
nạn!
16. Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ấy là tại nơi ở
của vua đã tôn nó lên ngôi, mà nó đã khinh dể lời thề và dứt bỏ giao ước,
thì nó cũng sẽ chết với vua ấy tại giữa Ba-by-lôn.
17. Pha-ra-ôn sẽ
không đi với một đạo binh lớn và những toán lính đông đến cứu viện trong
sự giao chiến, hi người ta đắp lũy dựng đồn để hủy diệt nhiều
người.
18. Thật vậy, Sê-đê-kia đã khinh dể lời thề, phạm đến giao ước;
nầy, đã trao tay ra rồi, thế mà nó còn làm những sự ấy. Nó chắc không
thoát khỏi!
19. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật như ta hằng
sống, nó đã khinh dể lời thề ta, dứt bỏ giao ước ta, ta sẽ khiến điều đó
đổ lại trên đầu nó.
20. Ta sẽ giăng lưới ta trên nó, nó sẽ mắc vào lưới
ta; ta sẽ đem nó qua Ba-by-lôn, tại đó ta sẽ đoán xét nó về tội nghịch
cùng ta.
21. Phàm những quân lính nó đi trốn sẽ ngã dưới lưỡi gươm;
những kẻ còn sót lại sẽ bị tan lạc hướng về mọi gió. Bấy giờ các ngươi sẽ
biết ấy chính ta, Ðức Giê-hô-va, là Ðấng đã phán vậy.
22. Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Chính ta cũng sẽ lấy ngọn cây hương bách cao, và
ta sẽ trồng. Ở nơi cuối cùng những nhánh nó, ta sẽ bẻ một chồi non, và
chính ta sẽ trồng nó trên hòn núi cao chót vót.
23. Thật, ta sẽ trồng
nó trên núi cao của Y-sơ-ra-ên; nó sẽ nứt nhành, và ra trái; sẽ trở nên
cây hương bách tốt, cả loài chim sẽ đến núp dưới nó; hết thảy những giống
có cánh sẽ ở dưới bóng của nhánh cây.
24. Mọi cây ngoài đồng sẽ biết
rằng ta, Ðức Giê-hô-va, đã hạ cây cao xuống và cất cây thấp lên, ta đã làm
khô cây xanh, và làm cho cây khô tốt lên. Ta, Ðức Giê-hô-va, đã phán và
làm thành sự đó.
Ê-xê-chi-ên 18 chọn
đoạn khác
1. Lại có lời
Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
2. Các ngươi dùng câu tục ngữ nầy
về đất Y-sơ-ra-ên, rằng: Cha ăn trái nho chua, mà con ghê răng, câu đó có
nghĩa gì?
3. Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, các ngươi sẽ
không cần dùng câu tục ngữ ấy trong Y-sơ-ra-ên nữa.
4. Nầy, mọi linh
hồn đều thuộc về ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con, đều thuộc
về ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết.
5. Nếu người nào là công
bình, làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật,
6. không ăn trên núi,
không ngước mắt trông các thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên, không làm nhục vợ
kẻ lân cận mình, không lại gần đờn bà đương có kinh nguyệt;
7. người mà
không làm hại ai, trả của cầm lại cho kẻ mắc nợ, không cướp vật gì của ai,
ban bánh cho kẻ đói, mặc áo cho kẻ trần truồng,
8. không cho vay mà ăn
lời, không lấy thêm, rút tay lại khỏi sự gian ác, theo lẽ thật mà xét đoán
trong người nầy với người khác;
9. noi theo luật lệ ta và vâng giữ mạng
lịnh ta, ăn ở cách thật thà, thì người ấy là người công bình; chắc thật
người sẽ sống, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
10. Nếu người đã sanh con là
trộm cướp, làm đổ máu, làm điều nào trong những điều ác đã nói trên
kia,
11. chẳng làm điều nào trong những điều thiện đã nói trên kia,
nhưng đã ăn trên núi, làm nhục vợ kẻ lân cận mình,
12. làm hại kẻ nghèo
nàn thiếu thốn, cướp vật gì của ai, và không trả của cầm, ngước mắt trông
các thần tượng và phạm sự gớm ghiếc,
13. cho vay ăn lời và lấy thêm,
thì đứa con đó sẽ sống không? Không nó sẽ không sống! Vì nó đã phạm mọi sự
gớm ghiếc ấy, chắc thật nó sẽ chết, và máu nó sẽ ở trên nó.
14. Nhưng,
nếu người ấy sanh con trai, con thấy mọi sự tội cha mình đã phạm, thì lo
sợ, không làm điều chi giống như vậy hết;
15. nếu con ấy không ăn trên
núi, nếu nó không ngước mắt trông thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên, nếu nó
không làm nhục vợ kẻ lân cận mình,
16. nếu nó không làm hại ai, nếu nó
không lấy của cầm và không cướp vật gì của ai, nhưng nó ban bánh cho kẻ
đói, và mặc áo cho kẻ trần truồng;
17. rút tay lại khỏi hại kẻ nghèo,
không đòi lời lãi và lấy thêm, vâng giữ mạng lịnh ta và noi theo luật lệ
ta, thì đứa con ấy sẽ không chết vì sự gian ác cha nó, mà chắc nó sẽ
sống.
18. Còn như cha nó đã dùng sự hung bạo ức hiếp, và phạm sự trộm
cướp đối với anh em mình, đã làm điều không lành giữa dân sự mình, nầy,
chính nó sẽ chết trong sự gian ác mình.
19. Các ngươi còn nói rằng: Làm
sao đứa con không mang sự gian ác của cha nó? Ấy là đứa con đã làm theo
luật pháp và hiệp với lẽ thật; ấy là nó đã giữ hết thảy luật lệ ta và làm
theo; chắc thật nó sẽ sống.
20. Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con
sẽ không mang sự gian ác của cha và cha không mang sự gian ác của con. Sự
công bình của người công bình sẽ được kể cho mình, sự dữ của kẻ dữ sẽ chất
trên mình.
21. Song nếu kẻ dữ xây bỏ hết thảy tội mình đã phạm, nếu nó
giữ mọi luật lệ ta, và nếu nó làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, chắc
thật nó sẽ sống và không chết đâu.
22. Không có một tội nào nó đã phạm
sẽ bị nhớ lại nghịch cùng nó; nó sẽ sống vì cớ sự công bình nó đã
làm.
23. Chúa Giê-hô-va phán rằng: Ta há có vui chút nào về sự chết của
kẻ dữ sao? há chẳng thà vui về sự nó xây bỏ đường lối mình và nó sống
sao?
24. Nhưng nếu kẻ công bình xây bỏ sự công bình của mình, nếu nó
phạm sự gian ác, nếu nó bắt chước mọi sự gớm ghiếc mà kẻ dữ tự làm, thì nó
sẽ sống không? Không có một việc công bình nào nó đã làm sẽ được nhớ lại;
vì cớ sự phạm pháp mà nó đã làm, và tội lỗi nó đã phạm, nên nó sẽ chết
trong đó.
25. Các ngươi lại nói rằng: Ðường lối của Chúa là không bằng
phẳng! Vậy, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Ðường lối của ta há không bằng
phẳng sao? Há chẳng phải đường lối của các ngươi là không bằng phẳng
sao?
26. Nếu kẻ công bình xây bỏ sự công bình mình, nếu nó phạm sự gian
ác, và nếu nó vì cớ ấy mà chết; ấy là vì tội ác nó đã phạm mà nó
chết.
27. Nếu kẻ dữ xây bỏ sự dữ mình đã phạm, nếu nó làm theo luật
pháp và hiệp với lẽ thật, thì nó sẽ cứu linh hồn mình cho được
sống.
28. Vì nó suy xét và xây bỏ mọi sự phạm pháp mình đã làm, chắc
thật nó sẽ sống và không chết đâu.
29. Nhưng mà nhà Y-sơ-ra-ên nói
rằng: Ðường lối của Chúa là không bằng phẳng. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên có phải
là đường lối của ta không bằng phẳng sao? Há chẳng phải đường lối của các
ngươi là không bằng phẳng sao?
30. Vậy nên Chúa Giê-hô-va phán rằng:
Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ta sẽ đoán xét các ngươi, mỗi người theo việc làm của
nó. Hãy trở lại và xây bỏ mọi sự phạm pháp của các ngươi; vậy thì sự gian
ác không trở nên cớ hư nát cho các ngươi.
31. Hãy liệng xa các ngươi
mọi sự phạm pháp mà tự mình đã làm. Hãy làm cho mình lòng mới và thần mới;
vì, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, làm sao mà các ngươi muốn chết?
32. Chúa
Giê-hô-va phán rằng: Thật vậy, ta không vui đâu về sự chết của kẻ phải
chết, vậy các ngươi hãy xây lại, mà được sống!
Ê-xê-chi-ên 19 chọn
đoạn khác
1.
Vậy ngươi hãy đọc bài ca thương về các quan trưởng Y-sơ-ra-ên,
2. mà
rằng: Mẹ ngươi xưa kia là thế nào? Là sư tử cái nằm giữa những sư tử đực;
nuôi nấng con nó giữa những sư tử con.
3. Nuôi nấng một con trong các
con nó, trở nên một sư tử tơ; tập bắt mồi, và nuốt người ta.
4. Các dân
nghe tiếng về nó; nó bị bắt trong hầm; sau khi đã đặt móc nơi hàm, các
nước điệu nó sang đất Ê-díp-tô.
5. Khi sư tử cái đợi chờ đã lâu, và sự
trông cậy mình đã mất, bèn lấy một con khác và nuôi nên một sư tử
tơ.
6. Nó đi lại giữa những sư tử, trở nên một sư tử tơ; tập bắt mồi,
và nuốt người ta.
7. Nó biết cung đền chúng nó, và hủy phá các thành;
đất nầy cùng mọi vật trong nó đều bị hoang vu, vì tiếng gầm của nó.
8.
Các nước ở mọi miền chung quanh bày hàng ra nghịch cùng nó, bủa lưới trên
nó; bó bị bắt trong hầm.
9. Lấy móc móc hàm và nhốt nó vào cũi, rồi
điệu đến nơi vua nước Ba-by-lôn; dắt nó vào nơi đồn lũy, hầu cho tiếng nó
không vang ra nữa trên núi Y-sơ-ra-ên.
10. Mẹ ngươi như một cây nho,
trong máu ngươi, trồng nơi mé nước. Trịu những trái và nhành, nhờ có nhiều
nước.
11. Nó mang những nhành mạnh mẽ, trở nên gậy của kẻ cai trị. Thân
nó cao quá các nhánh.
12. Nhưng nó đã bị nhổ bởi cơn giận, và bị quăng
nơi đất. Gió đông đã làm khô trái nó; những nhánh mạnh mẽ của nó đã bị bẻ
ra và khô; lửa đã nuốt nó đi!
13. Bây giờ nó bị trồng nơi đồng vắng,
trong đất khô và khát.
14. Lửa đã ra từ các nhành của nó, và đã nuốt
trái nó, đến nỗi không còn có nhành mạnh mẽ nữa, để làm gậy mà cai trị. Ấy
là bài ca thương, về sau sẽ lấy làm bài ca thương.
Ê-xê-chi-ên 20
chọn
đoạn khác
1. Năm thứ bảy, ngày mồng mười tháng năm, có một vài trưởng
lão Y-sơ-ra-ên đến đặng cầu hỏi Ðức Giê-hô-va, họ ngồi trước mặt ta.
2.
Bấy giờ, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
3. Hỡi con người, hãy
nói cùng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Có phải các ngươi đến đặng cầu hỏi ta chăng? Chúa Giê-hô-va phán:
Thật như ta hằng sống, ta không để cho các ngươi cầu hỏi.
4. Hỡi con
người, ngươi muốn xét đoán chúng nó, ngươi muốn xét đoán chúng nó chăng?
Hãy làm cho chúng nó biết những sự gớm ghiếc của tổ phụ mình.
5. Vậy
ngươi khá nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ðương ngày
mà ta chọn Y-sơ-ra-ên, mà ta thề cùng dòng dõi nhà Gia-cốp, mà ta tỏ mình
cho chúng nó biết ta trong đất Ê-díp-tô, khi ta thề cùng chúng nó, và
rằng: Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi;
6. ngày đó ta thề hứa
cùng chúng nó rằng ta sẽ đem chúng nó ra khỏi đất Ê-díp-tô đặng vào đất mà
ta đã tìm sẵn cho chúng nó, tức là đất đượm sữa và mật ong, vinh hiển nhứt
trong các đất.
7. Ta nói cùng chúng nó rằng: Các ngươi ai nấy khá quăng
xa mình những sự gớm ghiếc của mắt các ngươi, và chớ làm ô uế minh với các
thần tượng của Ê-díp-tô! Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi.
8.
Nhưng mà chúng nó dấy loạn nghịch cùng ta, và không muốn nghe ta; ai nấy
không ném bỏ những sự gớm ghiếc của mắt mình, và không lìa bỏ các thần
tượng của Ê-díp-tô. Bấy giờ ta nói rằng ta sẽ đổ cơn giận ta trên chúng
nó, làm trọn sự giận ta nghịch cùng chúng nó giữa đất Ê-díp-tô.
9.
Nhưng ta đã vì cớ danh ta mà làm, hầu cho danh ấy khỏi bị nói phạm trước
mắt các dân ngoại mà chúng nó ở giữa, trước mắt các dân ấy ta đã tỏ mình
cho chúng nó biết, khi đem chúng nó ra khỏi đất Ê-díp-tô.
10. Vậy ta đã
làm cho chúng nó ra khỏi đất Ê-díp-tô, và đem chúng nó đến nơi đồng
vắng.
11. ta ban cho chúng nó lề luật ta, và làm cho chúng nó biết mạng
lịnh ta, là điều nếu người ta làm theo thì được sống bởi nó.
12. Ta
cũng cho chúng nó những ngày sa bát ta làm một dấu giữa ta và chúng nó,
đặng chúng nó biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va biệt chúng nó ra thánh.
13.
Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên nổi loạn nghịch cùng ta trong đồng vắng. Chúng nó
không noi theo lệ luật ta, khinh bỏ mạng lịnh ta, là điều nếu người ta làm
theo thì được sống bởi nó, và phạm các ngày sa-bát ta nặng lắm. Bấy giờ ta
nói ta sẽ đổ cơn giận ta trên chúng nó trong đồng vắng, đặng diệt hết
đi.
14. Nhưng ta đã vì cớ danh ta mà làm hầu cho danh ấy không bị nói
phạm trước mắt các dân ngoại, trước mắt các dân ấy ta đã đem chúng nó ra
khỏi.
15. Vả, ta cũng đã thề cùng chúng nó trong đồng vắng rằng ta sẽ
không đem chúng nó vào đất mà ta đã định cho chúng nó, là đất đượm sữa và
mật ong, vinh hiển nhứt trong mọi đất;
16. vì chúng nó đã bỏ mạng lịnh
ta, không noi theo lệ luật ta, và phạm những ngày sa-bát ta; bởi lòng
chúng nó đã hướng về thần tượng mình.
17. Dầu vậy, mắt ta đã thương
tiếc chúng nó, ta không hủy diệt chúng nó, ta không làm tận tuyệt chúng nó
trong đồng vắng.
18. Ta phán cùng con cái chúng nó trong đồng vắng
rằng: Ðừng noi theo luật lệ của ông cha các ngươi, đừng giữ mạng lịnh họ,
và tự làm ô uế với những thần tượng của họ.
19. Ta là Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời các ngươi, hãy noi theo luật lệ ta, vâng giữ mạng lịnh ta và làm
theo.
20. Hãy biệt những ngày sa-bát ta ra thánh, nó sẽ làm dấu giữa ta
và các ngươi, hầu cho chúng nó biết rằng ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các
ngươi.
21. Nhưng con cái dấy loạn nghịch cùng ta; không noi theo luật
lệ ta, không vâng giữ và không làm theo mạng lịnh ta, là điều người ta nếu
làm theo thì được sống bởi nó; và chúng nó phạm những ngày sa-bát ta nữa.
Bấy giờ, ta nói rằng ta sẽ đổ cơn giận ta trên chúng nó, và làm trọn sự
giận của ta nghịch cùng chúng nó trong đồng vắng.
22. Song le ta đã kéo
tay ta lại, và đã vì danh ta mà làm, hầu cho danh ấy không bị nói phạm
trước mắt các dân ngoại, trước mắt các dân ấy ta đã đem chúng nó ra
khỏi.
23. Vả, ta đã thề cùng chúng nó nơi đồng vắng rằng ta sẽ làm cho
chúng nó tan lạc giữa các người và rải ra trong nhiều nước;
24. vì
chúng nó không vâng làm mạng lịnh ta, nhưng đã bỏ lệ luật ta, đã phạm
những ngày sa-bát ta, và mắt chúng nó đã hướng về các thần tượng của tổ
phụ mình.
25. Ta cũng đã ban cho chúng nó những luật lệ chẳng lành, và
mạng lịnh mà bởi đó chúng nó không được sống.
26. Ta làm ô uế chúng nó
bởi của cúng chúng nó, khi chúng nó khiến mọi con đầu lòng qua trên lửa,
hầu ta làm cho chúng nó ra hoang vu, đến nỗi chúng nó biết rằng ta là Ðức
Giê-hô-va.
27. Vậy nên, hỡi con người, hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên, bảo
nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Tổ phụ các ngươi đã nói phạm ta, bởi
chúng nó đã phạm pháp nghịch cùng ta.
28. Khi ta đã đem chúng nó vào
đất mà ta đã thề ban cho chúng nó, bấy giờ chúng nó đã tìm thấy các gò cao
và các cây rậm, mà dâng của lễ mình tại đó; chúng nó đã bày ra tại đó
những của cúng chọc giận ta, cũng đã đặt tại đó những hương có mùi thơm,
và đã làm lễ quán.
29. Bấy giờ ta nói cùng chúng nó rằng: Nơi cao mà
các ngươi đi đó là gì? Cho nên nơi cao ấy còn gọi là Ba-ma cho đến ngày
nay.
30. Vậy nên, hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Các ngươi tự làm ô uế mình theo cách tổ phụ các ngươi, và các
ngươi hành dâm theo những sự gớm ghiếc của họ sao?
31. Khi các ngươi
dâng lễ vật, khi các ngươi còn tự làm ô uế với những thần tượng mình cho
đến ngày nay sao? Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ta há để cho các ngươi cầu hỏi sao?
Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta không để cho các ngươi cầu
hỏi!
32. Chẳng có sự gì sẽ xảy ra như điều các ngươi tưởng, khi các
ngươi nói rằng: Chúng ta muốn nên như các dân tộc và các họ hàng ở các
nước, thờ gỗ và đá.
33. Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ấy
là dùng tay mạnh mẽ và cánh tay giang ra, lấy thạnh nộ đổ ra mà ta sẽ làm
vua trên các ngươi!
34. Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi giữa các dân; ta sẽ
dùng tay mạnh mẽ và cánh tay giang ra và sự thạnh nộ đổ ra để nhóm các
ngươi lại từ các nước mà các ngươi đã bị tan tác trong đó.
35. Ta sẽ
đem các ngươi vào nơi đồng vắng của các dân, tại đó ta sẽ đối mặt xét đoán
các ngươi.
36. Như ta đã xét đoán tổ phụ các ngươi trong đồng vắng đến
Ê-díp-tô thể nào, thì ta cũng xét đoán các ngươi thể ấy, Chúa Giê-hô-va
phán vậy.
37. Ta sẽ làm cho các ngươi qua dưới gậy, và sẽ đem các ngươi
vào trong dây giao ước.
38. Ta sẽ tẩy sạch khỏi các ngươi những kẻ bạn
nghịch, và những kẻ phạm pháp nghịch cùng ta; ta sẽ đem chúng nó ra khỏi
đất mình trú ngụ, nhưng chúng nó sẽ không vào đất Y-sơ-ra-ên. Như vầy các
ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
39. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, về các
ngươi, thì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đi, mỗi người trong các ngươi
khá thờ thần tượng mình! Sau sự đó, các ngươi chắc sẽ nghe ta và sẽ không
nói phạm danh thánh của ta nữa bởi của cúng và bởi thần tượng các
ngươi.
40. Chúa Giê-hô-va phán rằng: Vì trên núi thánh ta, trên núi cao
của Y-sơ-ra-ên, tại đó cả nhà Y-sơ-ra-ên, hết thảy chúng nó, sẽ hầu việc
ta ở trong đất. Tại đó ta sẽ nhận lấy chúng nó; và tại đó ta sẽ đòi của lễ
các ngươi, và những trái đầu mùa của của lễ các ngươi, cùng mọi vật
thánh.
41. Ta sẽ nhận lấy các ngươi như mùi thơm tho, khi ta đem các
ngươi ra khỏi giữa các dân, và nhóm các ngươi từ những người mà các ngươi
đã bị tan tác; và ta sẽ được tỏ ra thánh trong các ngươi ở trước mắt dân
ngoại.
42. Các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi ta sẽ đem các
ngươi vào đất của Y-sơ-ra-ên, trong nước mà ta đã dùng lời thề hứa ban cho
tổ phụ các ngươi.
43. Tại đó các ngươi sẽ nhớ lại đường lối mình và mọi
việc tự mình làm nên ô uế; các ngươi sẽ tự chán ngán trước mắt mình, vì cớ
mọi sự dữ mình đã phạm.
44. Các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi
ta sẽ vì danh ta mà đãi các ngươi, chớ không theo đường lối xấu xa và việc
làm hư nát của các ngươi, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
45. (21:1) Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
46.
(21:2) Hỡi con người, hãy xây mặt về phía nam, đối với phương nam mà nói:
đối với rừng của đồng nội phương nam mà nói tiên tri.
47. (21:3) Khá
nói cùng rừng phương nam rằng: Hãy nghe lời của Ðức Giê-hô-va! Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ nhen lửa trong ngươi, lửa sẽ thiêu nuốt
hết cả cây xanh và cả cây khô nơi ngươi. Ngọn lửa hừng sẽ không tắt, mọi
mặt sẽ bị cháy bởi nó từ phương nam chí phương bắc.
48. (21:4) Mọi xác
thịt sẽ thấy rằng ấy là ta, Ðức Giê-hô-va, đã nhen lửa; lửa sẽ không hề
tắt.
49. (21:5) Bấy giờ ta nói rằng: Ôi! Hỡi Chúa Giê-hô-va, họ nói về
tôi rằng: Nó chẳng phải là kẻ nói thí dụ sao?
Ê-xê-chi-ên 21 chọn
đoạn khác
1.
(21:6) Ðoạn có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
2. (21:7) Hỡi
con người, hãy xây mặt về phía Giê-ru-sa-lem; đối với các nơi thánh mà
buông lời; đối với đất Y-sơ-ra-ên mà nói tiên tri.
3. (21:8) Khá nói
cùng đất Y-sơ-ra-ên rằng: Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta nghịch cùng
ngươi. Ta sẽ rút gươm ta ra khỏi vỏ nó, đặng dứt kẻ công bình và kẻ dữ
khỏi giữa ngươi.
4. (21:9) Vì ta sẽ dứt kẻ công bình và kẻ dữ khỏi giữa
ngươi, thì gươm ta sẽ ra khỏi vỏ nó nghịch cùng mọi xác thịt từ phương nam
đến phương bắc,
5. (21:10) và mọi xác thịt sẽ biết ta, Ðức Giê-hô-va,
đã rút gươm ra khỏi vỏ nó, nó sẽ không trở vào nữa!
6. (21:11) Hỡi con
người, còn như ngươi, hãy than thở, như gãy lưng; phải, hãy than thở trước
mắt chúng nó cách cay đắng.
7. (21:12) Nếu chúng nó nói cùng ngươi
rằng: Làm sao ngươi than thở? thì ngươi trả lời rằng: Ấy là bởi cớ tin
tức, vì nó đến, làm cho mọi lòng đều tan chảy, mọi tay đều yếu đuối, mọi
trí đều yếu như nước. Nầy, nó hầu đến, lời ấy sẽ làm thành, Chúa Giê-hô-va
phán vậy!
8. (21:13) Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
9.
(21:14) Hỡi con người, hãy nói tiên tri, và rằng: Ðức Giê-hô-va phán như
vầy: Hãy nói rằng: cái gươm, cái gươm nhọn và sáng!
10. (21:15) Nó nhọn
cho sự chém giết; nó sáng đặng văng ra như chớp. Chúng ta có nên vui mừng
chăng? Cái gậy của con trai ta, nó khinh dể mọi cây khác.
11. (21:16)
Người ta đã cho cái gươm nầy được sáng, đặng cầm nơi tay; ấy là cái gươm
nhọn và sáng để cho vào tay kẻ giết.
12. (21:17) Hỡi con người, khá kêu
la và than van; vì gươm ở trên dân ta, ở trên mọi quan trưởng Y-sơ-ra-ên,
là những kẻ đã bị nộp cho gươm với dân ta. Vậy nên, hãy vỗ vế!
13.
(21:18) Phải, có sự thử thách; cây gậy khinh dể sẽ thành ra hư không, thì
làm thế nào? Chúa Giê-hô-va phán vậy.
14. (21:19) Hỡi con người, vậy
ngươi khá nói tiên tri đi; khá đập tay, hãy đánh gươm gấp lên đôi ba lần;
ấy là gươm của người lớn bị thương đến chết, vào trong buồng kín.
15.
(21:20) Ấy là để làm cho lòng chúng nó tan chảy, cho thêm nhiều sự vấp
ngã, mà ta đã đặt gươm ngăm đe nghịch cùng mọi cửa chúng nó. Ôi! gươm đã
như chớp nhoáng; đã bén nhọn để giết!
16. (21:21) Ngươi hãy nhóm lại về
bên hữu, và dàn trận về bên tả, tùy nơi mặt ngươi hướng về.
17. (21:22)
Ta cũng đập hai tay, và khiến cơn giận ta yên lặng. Ấy chính ta, Ðức
Giê-hô-va, phán vậy.
18. (21:23) Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta
như vầy:
19. (21:24) Hỡi con người, ngươi cũng hãy chỉ định cho mình
hai con đường đặng dùng làm lối đi qua cho cái gươm của vua nước
Ba-by-lôn. Hai con đường ấy khá đi ra cả hai từ một đất; lại vạch một dấu,
vạch ở đấy đường đi đến thành kia.
20. (21:25) Ngươi khá chỉ định đường
lối cho gươm đi qua, một đường thì hướng về Ráp-ba, thành của con cái
Am-môn, và một đường hướng về Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem, là thành bền
vững.
21. (21:26) Vì vua Ba-by-lôn đứng lại nơi cháng ba, là nơi vào
hai con đường ấy, đặng bói khoa. Vua ấy lắc những cái tên; hỏi các thần
tượng, và xem xét gan.
22. (21:27) Trong tay hữu người có điềm chỉ về
thành Giê-ru-sa-lem, đặng dùng máy để phá thành, đặng mở miệng giết lát,
đặng cất tiếng kêu la, đặng dùng những máy phá thành nghịch cùng cửa
thành, đặng đắp lũy và lập đồn tại đó.
23. (21:28) Những kẻ đã thề lời
thề, đều thấy trong những lời đó chỉ là một điềm dối, nhưng vua thì sẽ
nhắc lại cho chúng nó nhớ sự gian ác mình, mà bắt đi làm phu tù.
24.
(21:29) Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì các ngươi đã nhắc cho nhớ
lại sự gian ác mình, làm cho sự phạm tội bày ra, tỏ ra tội lỗi mình trong
mọi việc làm; vì các ngươi nhắc lại cho nhớ, thì các ngươi sẽ bị tay
bắt.
25. (21:30) Về phần ngươi, vua chúa Y-sơ-ra-ên, người gian ác bị
thương đến chết kia, ngày của ngươi đã đến, trong kỳ gian ác về cuối
cùng.
26. (21:31) Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy cất mũ nầy, lột mão
triều thiên nầy; sự nầy chẳng giống như trước nữa! Cái gì thấp hãy lại cất
lên, cái gì cao hãy hạ xuống.
27. (21:32) Ta sẽ úp đổ, úp đổ, úp đổ nó;
sự nầy cũng sẽ không còn nữa, cho đến chừng nào Ðấng đáng được sẽ đến, thì
ta sẽ giao cho.
28. (21:33) Hỡi con người, hãy nói tiên tri mà ra: Về
con cái Am-môn và sự khinh lờn của chúng nó, thì Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Hãy nói: Thanh gươm, thanh gươm đã tuốt ra cho sự giết lát; đã mài
sáng đặng nuốt đi, đặng nên như chớp!
29. (21:34) Ðang khi chúng nó vì
ngươi thấy sự hiện thấy giả dối, bói khoa sự dối cho ngươi, hầu cho đặt
ngươi trên cổ kẻ gian ác bị thương hầu chết, ngày chúng nó đã đến trong kỳ
gian ác về cuối cùng.
30. (21:35) Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ! Ấy là ở
trong nơi mà ngươi đã được dựng nên, trong đất ngươi sanh ra, mà ta sẽ xét
đoán ngươi.
31. (21:36) Ta sẽ đổ cơn giận ta trên ngươi; lấy lửa của sự
thạnh nộ ta mà thổi trên ngươi, và ta sẽ phó ngươi trong tay người tàn
bạo, giỏi sự hủy diệt.
32. (21:37) Ngươi sẽ làm củi cho lửa; máu ngươi
sẽ ở giữa đất; và người ta sẽ không còn nhớ ngươi nữa; vì ta, Ðức
Giê-hô-va, đã phán.
Ê-xê-chi-ên 22 chọn
đoạn khác
1. Có lời Ðức
Giê-hô-va được phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con người, có phải ngươi sẽ
đoán xét, có phải ngươi sẽ đoán xét thành huyết nầy chăng? thì hãy làm cho
nó biết mọi sự gớm ghiếc của nó.
3. Hãy nói cùng nó rằng: Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Một thành đổ máu ở giữa nó, hầu cho kỳ nó đến, và
làm ra thần tượng nghịch cùng mình để làm ô uế mình!
4. Bởi máu nầy đã
đổ ra, mầy tự chuốc lấy tội, và bởi các thần tượng mà mầy đã làm thì mầy
tự làm ô uế. Như vậy mầy đã làm cho những ngày mầy gần và những năm nầy
đến. Vậy nên, ta đã lấy mầy làm sự hổ nhuốc cho các dân tộc, làm trò cười
nhạo cho hết thảy các nước.
5. Những người ở gầy và ở xa sẽ nhạo cười
mầy, là thành nhơ danh và đầy loạn.
6. Hãy xem: các quan trưởng
Y-sơ-ra-ên ở trong mầy, ai nấy đều theo sức mình để làm đổ máu.
7. Nơi
mầy, người ta khinh cha mẹ; nơi mầy, người ta dùng sự bạo ngược đối với
khách lạ; nơi mầy, người ta hiếp đáp kẻ mồ côi cùng người góa bụa.
8.
Mầy khinh dể các vật thánh ta, và phạm các ngày sa-bát ta!
9. Nơi mầy,
có những kẻ gièm chê gây nên sự đổ máu; nơi mầy, có kẻ làm tiệc trên các
núi; giữa mầy, có kẻ phạm tội tà dâm.
10. Nơi mầy, có kẻ bày tỏ sự lõa
lồ của cha ra; nơi mầy, có kẻ làm nhục đờn bà đương có kinh nguyệt.
11.
Nơi mầy, kẻ nầy phạm sự gớm ghiếc với vợ người lân cận mình; kẻ khác làm ô
uế dâu mình; kẻ khác nữa thì hãm chị em mình, là con gái của cha
mình.
12. Nơi mầy, người ta nhận của hối lộ đặng làm đổ máu; mầy đã lấy
lời lãi và lấy thêm; mầy ức hiếp kẻ lân cận, lấy của không biết chán, và
đã quên ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
13. Vả, ta đập tay vì sự trộm cướp
mầy đã phạm, và vì máu đã bị đổ ra giữa mầy.
14. Khi những ngày ta xử
mầy sẽ đến, lòng mầy có chịu được, và tay mầy có sức chăng? Ta, Ðức
Giê-hô-va, đã nói ra thì sẽ làm trọn.
15. Ta sẽ làm cho mầy tan tác
giữa các dân tộc, chia rẽ ra trong các nước, và ta sẽ làm tiêu diệt sự ô
uế khỏi giữa mầy.
16. Bấy giờ chính mình mầy sẽ bị khinh dể trước mắt
các dân tộc, và mầy sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
17. Có lời Ðức
Giê-hô-va được phán cùng ta rằng:
18. Hỡi con người, nhà Y-sơ-ra-ên đã
trở nên cho ta như là cáu cặn; hết thảy chúng nó chỉ là đồng, thiếc, sắt,
chì trong lò, ấy là cáu cặn của bạc.
19. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Vì các ngươi hết thảy đã trở nên cáu cặn, cho nên, nầy, ta sẽ
nhóm các ngươi lại giữa Giê-ru-sa-lem.
20. Như người ta hiệp bạc, đồng
sắt, chì thiếc lại trong lò, và thổi lửa ở trên cho tan chảy ra thể nào,
thì trong cơn giận và sự thạnh nộ của ta, ta sẽ nhóm các ngươi lại và đặt
vào lò mà làm cho tan chảy ra cũng thể ấy.
21. Thật, ta sẽ nhóm các
ngươi lại và thổi lửa của cơn giận ta trên các ngươi, thì các ngươi sẽ tan
chảy ra giữa nó.
22. Như bạc tan chảy ra trong lò, thì các ngươi cũng
sẽ tan chảy ra giữa thành ấy, và các ngươi sẽ biết rằng ta, Ðức Giê-hô-va
đã đổ cơn thạnh nộ ta trên các ngươi.
23. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán
cùng ta rằng:
24. Hỡi con người, hãy nói cùng nó rằng: Mầy là đất chẳng
được tẩy sạch, nơi ngày thạnh nộ chẳng được mưa dào.
25. Những tiên tri
của nó lập mưu giữa nó; như sư tử hay gầm cắn xé mồi của nó, chúng nó nuốt
các linh hồn, cướp lấy của cải và những vật quí, làm cho kẻ góa bụa thêm
nhiều ra giữa thành.
26. Các thầy tế lễ nó phạm luật pháp ta, và làm dơ
vật thánh ta; chẳng phân biệt cái gì là thánh, cái gì là tục; chẳng khiến
người ta phân biệt cái gì là ô uế, cái gì là tinh sạch; nhắm mắt chẳng xem
các ngày sa-bát ta, và ta bị nói phạm giữa chúng nó.
27. Các quan
trưởng ở giữa nó giống như muông sói xé mồi, chỉ lo làm đổ máu, làm mất
linh hồn, để được lợi bất nghĩa.
28. Các tiên tri nó dùng bùn không pha
rơm trét cho chúng nó; thấy sự hiện thấy giả dối, và bói khoa sự dối cho
chúng nó, mà rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy, song Ðức Giê-hô-va chưa hề
phán.
29. Dân trong đất làm sự bạo ngược, phạm sự trộm cướp, khuấy rối
kẻ nghèo nàn thiếu thốn, và ức hiếp người trú ngụ cách trái phép.
30.
Ta đã tìm một người trong vòng chúng nó, đặng xây lại tường thành, vì đất
mà đứng chỗ sứt mẻ trước mặt ta, hầu cho ta không hủy diệt nó; song ta
chẳng tìm được một ai.
31. Vậy nên ta đổ cơn thạnh nộ trên chúng nó, và
lấy lửa giận của ta đốt chúng nó; ta đã làm cho đường lối của chúng nó lại
đổ về trên đầu chúng nó, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 23
chọn
đoạn khác
1. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con
người, có hai người đờn bà, là con gái của một mẹ.
3. Chúng nó hành dâm
trong Ê-díp-tô, chúng nó hành dâm từ khi còn trẻ; tại đó vú chúng nó bị
bóp, tại đó chúng nó mất hoa con gái.
4. Ðứa chị tên là Ô-hô-la, và đứa
em trên là Ô-hô-li-ba. Chúng nó trở nên thuộc về ta, và đẻ con trai con
gái. Ô-hô-la, tức là Sa-ma-ri; còn Ô-hô-li-ba, tức là Giê-ru-sa-lem.
5.
Ô-hô-la hành dâm khi nó đã thuộc về ta, theo tình nhơn nó, là dân A-si-ri,
kẻ lân cận nó,
6. Mặc áo tím, làm tổng đốc và quan cai trị, thảy đều là
trai tráng đẹp đẽ, hay cỡi ngựa.
7. Nó hành dâm với những người con
trai tốt nhứt của A-si-ri; nó tự làm ô uế với những kẻ mà nó yêu thương,
cùng mọi thần tượng của chúng nó.
8. Nó không chừa sự hành dâm mà nó đã
đem đến từ Ê-díp-tô, là nơi người ta đã làm nhục nó lúc còn trẻ, đã làm
cho nó mất hoa con gái, và đổ sự hành dâm của chúng nó trên nó.
9. Vậy
nên, ta đã phó nó trong tay tình nhơn nó, tức là trong tay những người
A-si-ri, mà nó đã thương yêu.
10. Chúng nó lột truồng nó, đã bắt lấy
con trai con gái nó, và làm cho chính mình nó phải chết vì gươm. Nó đã trở
nên một câu chuyện trong đám đờn bà; vì chúng nó đã làm thành sự phán xét
trên nó.
11. Em gái nó là Ô-hô-li-ba đã xem thấy mọi việc đó; dầu vậy,
nó buông mình theo tình dục hơn chị nó; và sự hành dâm của nó lại còn
nhiều hơn.
12. Nó phải lòng những người A-si-ri, tổng đốc, và quan cai
trị, tức là kẻ lân cận nó, ăn mặc sang trọng, hay cỡi ngựa, thảy đều là
trai tráng đẹp đẽ.
13. Ta thấy nó cũng đã tự làm ô uế, và cả hai chị em
cùng theo một đàng.
14. Khi nó thấy những người được vẽ trên vách
thành, những hình tượng của người Canh-đê sơn son, thì nó lại cùng thêm sự
hành dâm nó.
15. Chúng nó thắt dây lưng và bịt khăn trên đầy thả lòng
xuống, thảy đều có dáng các quan trưởng. Chúng nó làm ra như người
Ba-by-lôn trong Canh-đê, là quê hương mình.
16. Nó phải lòng chúng, mới
thấy lần đầu, thì sai sứ giả đến cùng chúng nó trong Canh-đê.
17. Những
người Ba-by-lôn đến cùng nó lên giường âu yếm, và chúng nó làm ô uế nó bởi
sự hành dâm mình. Nó cũng tự làm ô uế với chúng; rồi thì lòng nó sinh
chán.
18. Nó đã tỏ bày sự dâm ô mình, đã lột truồng mình ra, thì lòng
ta cũng chán nó, như đã chán chị nó.
19. Nhưng nó thêm nhiều sự hành
dâm, nhớ lại những ngày nó còn trẻ và thuở nó hành dâm trong đất
Ê-díp-tô.
20. Nó phải lòng những kẻ yêu mình, những kẻ ấy thịt như thịt
lừa, dâm quá như ngựa.
21. Ấy vậy, mầy đã nhắc lại sự dâm dục hồi còn
trẻ, lúc mà những người Ê-díp-tô bóp vú mầy, và làm mất hoa con gái
mầy.
22. Vậy nên, hỡi Ô-hô-li-ba, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta
sẽ giục những tình nhơn mầy mà lòng mầy đã chán, dấy nghịch cùng mầy, và
ta đem chúng nó đến từ mọi bề nghịch cùng mầy:
23. tức là những người
Ba-by-lôn, hết thảy người Canh-đê, Phê-cốt, Soa, và Coa, và hết thảy người
A-si-ri với chúng nó, là trai tráng đẹp đẽ, mọi tổng đốc và quan cai trị,
quan trưởng và người có danh tiếng, hết thảy đều cỡi ngựa.
24. Chúng nó
đem những khí giới, những xe đánh giặc, xe chở đồ, và một đoàn dân đông
đến nghịch cùng mầy; chúng nó dùng những thuẫn, những mộc, và đội mão trụ
mà vây chung quanh mầy. Ta sẽ giao sự phán xét cho chúng nó, và chúng nó
sẽ xét đoán mầy theo luật pháp mình.
25. Ta sẽ thả sự ghen của ta ra
nghịch cùng mầy, và chúng nó đãi mầy bằng sự giận dữ. Chúng nó sẽ cắt mũi
và tay mầy; kẻ còn sót lại trong mầy sẽ ngã bởi gươm. Chúng nó sẽ bắt con
trai con gái mầy; kẻ còn sót lại trong mầy sẽ bị nuốt bởi lửa.
26.
Chúng nó bóc lột áo xống mầy, và cướp lấy đồ châu báu mầy.
27. Vậy ta
sẽ dứt sự hành dâm mầy và thói xấu hổ mầy đã đem đến từ đất Ê-díp-tô, đến
nỗi mầy sẽ không ngước mắt ngó chúng nó, và không nhớ đến Ê-díp-tô
nữa.
28. Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ phó mầy trong tay
những kẻ mà mầy ghét, trong tay những kẻ mà lòng mầy đã chán.
29. Chúng
nó sẽ lấy sự hờn ghét đãi mầy, cướp lấy công lao mầy, để mầy trần truồng,
bị bóc lột hết cả; như vậy sẽ tỏ điều xấu hổ về sự hành dâm, tội ác và dâm
đãng của mầy ra.
30. Mầy sẽ bị đãi như vậy, vì mầy đã hành dâm cùng các
dân, đã tự làm ô uế với thần tượng chúng nó.
31. Mầy đã đi theo đường
của chị mầy; vậy nên ta sẽ để chén của nó vào trong tay mầy.
32. Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Mầy sẽ uống chén của chị mầy, là chén sâu và rộng,
chứa được rất nhiều; mầy sẽ bị chê cười nhạo báng.
33. Mầy sẽ phải đầy
sự say sưa và buồn rầu; vì chén của chị Sa-ma-ri mầy, là chén gở lạ và
hoang vu.
34. Mầy sẽ uống chén ấy, sẽ uống cạn, sẽ lấy răng gặm các
mảnh nó, và mầy tự xé vú mầy. Vì ta đã phán, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
35. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì mầy đã quên ta, bỏ ta
ra sau lưng mầy, vậy mầy cũng hãy chịu hình phạt về sự tà dục hành dâm của
mầy!
36. Vả, Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hỡi con người, ngươi há
không xét đoán Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba hay sao? Hãy tỏ cho chúng nó biết
những sự gớm ghiếc của mình.
37. Chúng nó đã phạm tội tà dâm, và có máu
nơi tay; chúng nó đã phạm tội tà dâm với những thần tượng mình; rất đổi
những con cái chúng nó đã sanh cho ta, chúng nó cũng khiến qua trên lửa
đặng cho thiêu nuốt hết!
38. Chúng nó lại còn làm sự nầy nghịch cùng
ta: cùng trong một ngày chúng nó đã làm ô uế nơi thánh ta, và phạm các
ngày sa-bát ta;
39. sau khi đã giết con cái mình dâng cho thần tượng,
trong ngày ấy chúng nó vào trong nơi thánh ta đặng làm ô uế! Ấy đó là điều
chúng nó đã làm giữa nhà ta!
40. Vả lại, các ngươi đã sai sứ giả gọi
những người từ phương xa đến cùng mình, nầy, chúng nó đã đến; mầy đã tắm
rửa vì chúng nó, vẽ con mắt và giồi đồ trang sức.
41. Mầy ngồi trên
giường sang trọng, trước giường dựng một các bàn, nơi bàn đó mầy đã đặt
hương ta và dầu ta.
42. Nơi nó có tiếng ồn ào của đám đông ở rỗi; và có
người hèn hạ cùng người say sưa từ nơi đồng vắng được đem đến; chúng nó
đeo vòng nơi tay hai chị em, và đội mũ rực rỡ trên đầu.
43. Ta bèn phán
về kẻ đã già trong sự tà dâm rằng: Bây giờ chúng sẽ gian dâm với nó, và nó
với chúng.
44. Chúng đến cùng nó như đến cùng điếm đĩ; thì chúng đến
cùng Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba, là những đờn bà tà dâm, cũng vậy.
45. Vả,
ấy là những người công bình sẽ đoán xét chúng nó, như người ta đoán xét
đờn bà ngoại tình và đờn bà làm đổ máu; vì chúng nó là ngoại tình, và có
máu trong tay chúng nó.
46. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ
đem một đám đông lên nghịch cùng chúng nó, và sẽ phó chúng nó bị ném đi
ném lại và bị cướp bóc.
47. Ðám đông ấy sẽ lấy đá đánh đập chúng nó, và
lấy gươm đâm chúng nó; giết con trai con gái chúng nó, và lấy lửa đốt nhà
chúng nó.
48. Như vậy ta sẽ làm cho hết sự tà dâm trong đất, hầu cho
mọi đờn bà được học biết không làm theo sự dâm dục của các ngươi.
49.
Người ta sẽ đổ lại sự dâm dục các ngươi trên chính mình các ngươi; các
ngươi sẽ mang tội lỗi về thần tượng mình, và các ngươi sẽ biết rằng ta là
Chúa Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 24 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ chín,
ngày mồng mười, có lời Ðức Giê-hô-va phán cho ta rằng:
2. Hỡi con
người, nước ghi chép tên ngày nầy, chính ngày nầy; cũng chính ngày nầy vua
Ba-by-lôn đến gần thành Giê-ru-sa-lem.
3. Hãy nói một lời thí dụ cho
nhà bạn nghịch ấy, và rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đặt nồi, hãy
đặt, và đổ nước vào.
4. Hãy để những tấm thịt vào, là hết thảy những
tấm thịt tốt, những đùi và vai, và làm cho đầy xương rất tốt.
5. Hãy
chọn con rất tốt trong bầy, và vì xương chất củi dưới nồi. Hãy làm cho sôi
sục sục lên, để nấu xương trong nồi.
6. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Khốn cho thành hay đổ máu, khốn cho nồi bị ten rét mà ten rét
chưa trừ hết! Hãy lấy từ tấm từ tấm ra cho hết, không có bắt thăm.
7.
Vì máu mà nó đã đổ ra còn ở giữa nó; nó đã đổ máu ấy trên vầng đá láng
bóng; chớ không đổ trên đất đặng cho bụi che lấp đi.
8. Ấy là để là cho
cơn giận nổi lên và báo thù, mà ta đổ máu nó trên vầng đá láng bóng; đến
nỗi nó không có thể che đậy được.
9. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Khốn cho thành hay đổ máu! Ta cũng sẽ chất một đống củi lớn.
10.
Hãy chất củi, làm cho lửa hực lên, làm cho rục thịt, cho đặc nước, và cho
cháy đi.
11. Ðoạn, hãy đặt nồi không trên những than lửa đỏ, hầu cho
đồng nó cháy lên, cho sự ô uế nó tan ra ở bề trong, và cho ten rét của nó
sạch hết.
12. Nó làm việc mệt nhọc; nhưng ten rét quá lắm của nó còn
chưa ra khỏi; dầu bỏ ten rét nó vào lửa cũng không ra!
13. Sự ô uế mầy
là tà dâm: vì ta đã tẩy sạch mầy và mầy không trở nên sạch, thì mầy sẽ
không được chùi sự dơ bẩn của mình nữa, cho đến chừng nào ta đã làm cho
cơn giận của ta được yên nghỉ đối với mầy.
14. Ta là Ðức Giê-hô-va, ta
đã phán; sự đó sẽ xảy đến, và ta sẽ làm thành. Ta sẽ không lui đi, không
tiếc, không ăn năn. Người ta sẽ xét đoán mầy theo đường lối mầy và theo
việc làm mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15. Có lời Ðức Giê-hô-va phán
cùng ta rằng:
16. Hỡi con người, nầy, thình lình ta sẽ cất khỏi ngươi
sự con mắt ngươi ưa thích; nhưng ngươi sẽ chẳng than thở, chẳng khóc lóc,
và nước mắt ngươi chẳng chảy ra.
17. Hãy than thầm; chớ phát tang cho
những kẻ chết; khá vấn cái khăn trên đầu ngươi. Chớ che môi lại, và đừng
ăn bánh của kẻ khác.
18. Sớm mai ta nói cùng dân sự; đến chiều thì vợ
ta chết. Sáng bữa sau ta làm theo như lời đã phán cho ta.
19. Bấy giờ
dân sự nói cùng ta rằng: Ngươi không tỏ cho chúng ta về cách ngươi làm như
vậy là nghĩa gì sao?
20. Ta trả lời rằng: Có lời Ðức Giê-hô-va phán
cùng ta rằng:
21. Hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên: Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Nầy, ta sẽ làm ô uế nơi thánh ta, là nơi các ngươi lấy làm khoe
khoang về quyền năng mình, mắt các ngươi ưa thích, lòng các ngươi thương
xót; và những con trai con gái các ngươi mà các ngươi đã để lại, sẽ ngã
bởi gươm.
22. Bấy giờ các ngươi sẽ làm như ta đã làm; các ngươi không
che môi, không ăn bánh của kẻ khác.
23. Khăn các ngươi sẽ để yên trên
đầu, giày các ngươi sẽ mang luôn dưới chơn; các ngươi không kêu thương,
không khóc lóc; song sẽ bị hao mòn vì cớ tội ác mình, và các ngươi cùng
nhau than thở.
24. Ê-xê-chi-ên sẽ là một dấu hiệu cho các ngươi, phàm
sự nó đã làm, thì các ngươi cũng sẽ làm. Khi mọi sự đó xảy đến, các ngươi
sẽ biết ta là Chúa Giê-hô-va.
25. Hỡi các ngươi, về ngươi thì, ngày nào
ta sẽ cất khỏi chúng nó sức mạnh, sự vui mừng, sự vinh hiển, sự ưa thích
của mắt chúng nó, sự lòng chúng nó yêu mến, con trai và con gái chúng
nó,
26. trong ngày đó sẽ có kẻ trốn đến báo tin cho tai ngươi
nghe.
27. Trong ngày đó, miệng ngươi sẽ mở ra cùng một lúc với miệng
của kẻ trốn. Ngươi sẽ nói, và không bị câm nữa: ngươi sẽ là một dấu hiệu
cho chúng nó, và chúng nó sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 25
chọn
đoạn khác
1. Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con
người, hãy xây mặt về con cái Am-môn, và nói tiên tri nghịch cùng chúng
nó.
3. Hãy nói cùng con cái Am-môn rằng: Hãy nghe lời của Chúa
Giê-hô-va. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì ngươi có nói rằng: Hay! hay! về
nơi thánh ta, khi nó bị ô uế, về đất Y-sơ-ra-ên, khi nó bị làm nên hoang
vu, cùng về nhà Giu-đa, khi nó bị bắt làm phu tù,
4. bởi cớ đó, nầy, ta
sẽ phó ngươi cho các con cái phương đông làm cơ nghiệp. Chúng nó sẽ đóng
trại giữa ngươi, và cất nhà mình ở đó; chúng nó sẽ ăn trái ngươi và uống
sữa ngươi.
5. Ta sẽ khiến Ra-ba làm chuồng lạc đà, và con cái Am-môn
làm chỗ bầy vật nằm, thì các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
6. Vì
Chúa Giê-hô-va phán như vầy: bởi ngươi đã vỗ tay, đập chơn, đầy lòng khinh
dể và vui vẻ về đất Y-sơ-ra-ên,
7. bởi cớ đó, mầy, ta đã giá tay ta
trên ngươi. Ta sẽ phó ngươi làm mồi cho các nước; ta sẽ trừ ngươi ra khỏi
các dân; ta sẽ diệt ngươi khỏi các nước; ta sẽ hủy hoại ngươi, và ngươi sẽ
biết ta là Ðức Giê-hô-va.
8. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì Mô-áp và
Sê-i-rơ có nói rằng: Nầy, nhà Giu-đa cũng như các nước khác,
9. bởi cớ
đó, nầy, ta sẽ phá các thành của bờ cõi người Mô-áp, tức là hết thảy các
thành trong đất chúng nó làm vinh hiển cho xứ ấy, là thành Bết-Giê-si-mốt,
thành Ba-anh-Mê-ôn, và thành Ki-ri-a-ta-im.
10. Ta sẽ phó xứ nầy và xứ
của người Am-môn cho các con trai phương đông. Ta sẽ ban những xứ nầy cho
chúng nó làm sản nghiệp, hầu cho con cái Am-môn không được ghi nhớ giữa
các nước nữa.
11. Ta cũng sẽ làm sự phán xét trên Mô-áp; và chúng nó sẽ
biết ta là Ðức Giê-hô-va.
12. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì dân Ê-đôm
đã làm sự báo thù nghịch cùng nhà Giu-đa, và nhơn báo thù nhà ấy mà phạm
tội nặng, nên Chúa Giê-hô-va phán như vầy:
13. Ta sẽ giá tay nghịch
cùng Ê-đôm, sẽ dứt người và vật ở đó; ta sẽ làm thành ấy nên hoang vu; từ
Thê-man đến Ðê-đan, chúng nó sẽ ngã bởi gươm.
14. Ta sẽ làm sự báo thù
ta trên Ê-đôm, bởi tay của dân Y-sơ-ra-ên ta; dân ấy sẽ đãi dân Ê-đôm theo
như sự thạnh nộ và tức giận của ta. Bấy giờ chúng nó sẽ biết sự báo thù
của ta là thế, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15. Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Vì dân Phi-li-tin làm sự báo thù, làm sự báo thù theo lòng ghen ghét
vô cùng mà muốn hủy diệt,
16. bởi đó, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy,
ta sẽ giá tay trên các người Phi-li-tin; sẽ dứt những người Cơ-rết; và ta
sẽ làm cho chết hết những kẻ còn sót lại ở trên mé biển.
17. Ta sẽ làm
sự báo thù lớn nghịch cùng chúng nó, mà dùng cơn giận quở trách chúng nó;
chúng nó sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi ta sẽ làm sự báo thù nghịch cùng
chúng nó.
Ê-xê-chi-ên
26 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ mười một, ngày mồng một đầu
tháng, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con người, Ty-rơ
đã nói về Giê-ru-sa-lem rằng: Hay! hay! thành làm cửa của các dân, đã vỡ
nát rồi! Nó đã trở về cùng ta; rày nó đã trở nên hoang vu, thì ta sẽ được
đầy dẫy.
3. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán rằng: Hỡi Ty-rơ! Nầy, ta địch
cùng mầy. Ta sẽ khiến nhiều nước dấy nghịch cùng mầy, như sóng biển dấy
lên vậy.
4. Chúng nó sẽ hủy phá những vách thành Ty-rơ, và Xô-đổ tháp
của nó; ta sẽ cào bụi, khiến nó làm một vầng đá sạch láng.
5. Nó sẽ làm
một chỗ người ta phơi lưới ở giữa biển; vì Chúa Giê-hô-va phán rằng: Ta đã
phán. Nó sẽ làm mồi của các nước.
6. Các con gái nó ở đồng ruộng nó sẽ
bị giết bằng gươm; và chúng nó sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
7. Vì
Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ đem Nê-bu-cát-nết-sa, vua
Ba-by-lôn, là vua của các vua, với những ngựa, những xe, những lính kỵ,
cùng đạo quân, và dân đông từ phương bắc đến nghịch cùng thành
Ty-rơ.
8. Người sẽ dùng gươm giết các con gái của mầy ngoài đồng ruộng,
sẽ lập đồn đắp lũy, và dấy cái thuẫn lên nghịch cùng mầy.
9. Người sẽ
đặt máy phá vách thành, và dùng búa phá các tháp mầy.
10. Ngựa của
người nhiều lắm đến nỗi bụi đất che mầy đi. Các vách thành mầy rúng động
vì tiếng của lính kỵ, của xe chở đồ, và của xe binh, khi kẻ nghịch vào bởi
các cửa mầy, như vào trong một thành đã bị thua.
11. Người sẽ dẵm vó
ngựa trên các đường phố mầy; người sẽ giết dân mầy bằng gươm, và những trụ
của sức mạnh mầy sẽ bị ném xuống đất.
12. Ðoạn, quân nghịch mầy sẽ lấy
của báu mầy, cướp hàng hóa mầy, phá đổ vách thành mầy; chúng nó sẽ phá đền
đài mầy, và quăng những đá, gỗ, và bụi đất của mầy dưới nước.
13. Ta sẽ
làm cho dứt tiếng hát của mầy, và người ta sẽ không còn nghe tiếng đờn cầm
của mầy nữa.
14. Ta sẽ khiến mầy nên vầng đá sạch láng; mầy sẽ nên một
chỗ người ta phơi lưới, và không được cất dựng lại nữa; vì ta là Ðức
Giê-hô-va đã phán, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15. Chúa Giê-hô-va phán
cùng thành Ty-rơ rằng: Nghe tiếng mầy đổ xuống, kẻ bị thương rên siếc, sự
giết lát làm ra giữa mầy, các cù lao nghe vậy, há chẳng rúng động
sao?
16. Hết thảy các quan trưởng miền biển điều xuống khỏi ngai mình;
cổi áo chầu ra, và lột bỏ những áo thêu. Họ như là mang lấy sự run rẩy và
ngồi xuống đất. Họ sẽ sợ sệt luôn, và lấy làm lạ vì cớ mầy.
17. Họ sẽ
vì mầy hát bài ca thương, mà nói cùng mầy rằng: Hỡi thành có tiếng, vững
bền ở giữa biển, là chỗ người đi biển ở; nó với dân cư nó làm cho hết thảy
người ở đó khiếp sợ, mầy bị hủy phá là dường nào!
18. Bây giờ các cù
lao sẽ run rẩy nơi ngày mầy đổ nát, và các cù lao trong biển sẽ kinh khiếp
về sự diệt mất của mầy!
19. Thật thế, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khi
ta sẽ làm cho mầy ra thành hoang vu, như những thành không có dân ở; khi
ta sẽ khiến sóng của vực sâu phủ lên trên mầy, và các dòng nước lớn che
lấp mầy,
20. bấy giờ ta sẽ khiến mầy với những kẻ đã xuống hố đến cùng
dân đời xưa. Ta sẽ khiến mầy ở trong những nơi rất thấp của đất, trong
những chỗ hoang vu từ đời xưa, với những kẻ đã xuống hố, hầu cho mầy không
có dân ở nữa; song ta sẽ đặt vinh hiển trong đất người sống.
21. Ta sẽ
dùng mầy làm một sự kinh khiếp. Mầy sẽ không còn nữa; và dầu người ta tìm
mầy, sẽ không hề thấy mầy nữa, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 27
chọn
đoạn khác
1. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con
người, hãy làm một bài ca thương về thành Ty-rơ.
3. Hãy nói cùng thành
Ty-rơ rằng: Hỡi mầy là thành nơi cửa biển, buôn bán với các dân của nhiều
cù lao, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Ty-rơ, mầy có nói: Ta là sự tốt
đẹp trọn vẹn.
4. Bờ cõi mầy ở trong lòng biển; những kẻ xây dựng mầy đã
làm cho mầy nên một thành tốt đẹp trọn vẹn.
5. Họ đã ghép ván của mầy
bằng cây tùng của Sê-nia; lấy cây bách của Li-ban đặng làm cột buồm cho
mầy;
6. làm chèo của mầy bằng cây dẽ của Ba-san; lấy cây hoàng dương
của đảo Kít-tim làm ván lợp, và cẩn bằng ngà voi.
7. Vải gai mịn có
thêu của Ê-díp-tô dùng mà buồm, để làm cờ xí cho mầy; vải sắc tía sắc xanh
của các cù lao Ê-li-sa dùng làm màn cháng.
8. Dân cư Si-đôn và A-vát là
bạn chèo của mầy; hỡi Ty-rơ, những người khôn ngoan trong mầy làm kẻ cầm
lái của mầy.
9. Các trưởng lão ở Ghê-banh và người thông thái xứ ấy,
thì mầy dùng để tu bổ chỗ hư hỏng của tàu mầy. Hết thảy những tàu biển
cùng thủy thủ nó đều ở trong mầy, đặng đổi lấy hàng hóa của mầy.
10.
Người Phe-rơ-sơ, người Lút, người Phút, làm lính chiến trong đạo binh mầy.
Chúng nó treo thuẫn và mão trụ trong mầy, và làm nên sự đẹp đẽ của
mầy.
11. Những người A-vát cùng quân lính riêng của mầy đầy vách thành
mầy, những người mạnh mẽ thì ở trên các tháp; chúng nó treo thuẫn chung
quanh vách thành mầy, và làm sự đẹp đẽ trọn vẹn của mầy.
12. Những dân
ở thành Ta-rê-si buôn bán với mầy đủ mọi thứ của cải, lấy bạc, sắt, thiếc,
chì mà đổi đồ hàng hóa của mầy.
13. Các dân ở Gia-van, ở Tu-banh và ở
Mê-siếc buôn bán với mầy, đổi lấy hàng hóa mầy thì cho mầy những tôi mọi
và đồ bằng đồng.
14. Những người của nhà Tô-ga-ma đem ngựa, ngựa chiến,
la, mà đổi lấy đồ hàng của mầy.
15. Những người Ðê-đan là bạn hàng mầy;
sự buôn bán của nhiều cù lao ở trong tay mầy, đem cho mầy những ngà voi,
gỗ mun, mà đổi lấy hàng hóa.
16. Vì tay mầy chế tạo rất nhiều, nên
Sy-ri buôn bán với mầy, và lấy bích ngọc, vải điều, đồ thêu, vải gai mịn,
san hô, hồng ngọc mà đổi hàng của mầy.
17. Giu-đa và đất Y-sơ-ra-ên
cũng buôn bán với mầy, thì đem cho mầy những lúa mì ở Min-nít, bánh ngọt,
mật ong, dầu, va nhũ hương.
18. Bởi tay mầy chế ra nhiều đồ, của cải
đầy dẫy, nên Ða-mách lấy rượu nho ở Hên bôn và lông chiên trắng của nó mà
đổi chác cùng mầy.
19. Vê-đan và Gia-van đem chỉ đổi lấy hàng hóa mầy;
trong hàng hóa đó có sắt sáng, nhục quế, và xương bồ.
20. Những người ở
Ðê-đan buôn với mầy bằng thứ vải hoa để phủ trên ngựa.
21. Người A-rạp
vào mọi quan trưởng ở Kê-đa buôn bán với mầy, và đem đến cho mầy những
chiên con, chiên đực, và dê đực.
22. Những con buôn ở Sê-ba và Ra-a-ma
buôn bán với mầy, lấy mọi thứ hương tốt nhứt, mọi thứ đá quí và vàng mà
đổi lấy hàng hóa mầy.
23. Ha-ran, Can nê, và Ê-đen, những con buôn ở
Sê-ba, A-si-ri và Kin-mát đều là bạn hàng của mầy;
24. chúng nó buôn
bán với mầy những làng trọng thể: áo màu tía và thêu, vải quí báu xếp
trong hòm, dây bện, ván bằng gỗ hương bách.
25. Các thuyền Ta-rê-si vì
sự buôn mầy mà chở chạy, và mầy được đầy dẫy cùng được vinh hiển cả thể
trong lòng biển.
26. Nhưng mà những tay chèo của mầy đã dẫn mầy trên
nước lớn, và gió đông đã đập nát mầy trong lòng biển.
27. Ðến ngày hủy
phá của mầy, thì của cải, hàng hóa, việc buôn bán của mầy, thủy thủ và kẻ
coi hoa tiêu của mầy, những kẻ tu bổ chỗ hư hỏng của tàu bè mầy, những kẻ
buôn bán hàng hóa với mầy, hết thảy lính chiến của mầy ở trong mầy, cả
đoàn dân đông đầy giữa mầy, đều sẽ ngã xuống trong lòng biển.
28. Bởi
tiếng kêu của những kẻ coi hoa tiêu, các xóm chung quanh mầy đều run
rẩy;
29. hết thảy những kẻ cầm chèo, hết thảy những thủy thủ, hết thảy
những kẻ coi hoa tiêu ngoài biển đều xuống hỏi tàu mình và đứng vững trên
đất.
30. Chúng nó sẽ làm vang tiếng than khóc mầy, và trổi tiếng kêu la
cay đắng vì mầy; chúng nó ném bụi trên đầu mình, và lăn lóc trong
tro.
31. Chúng nó sẽ cạo đầu vì chớ mầy, và thắt lưng bằng bao gai,
trong lòng đau đớn, vì mầy khóc lóc cay đắng.
32. Nhơn lòng chúng nó
đau thương, thì làm một bài ca thương về mầy, và than rằng: Ai sánh với
thành Ty-rơ, là thành bây giờ đã vắng lặng giữa biển?
33. Thuở hàng hóa
mầy ra khỏi các biển, mầy làm cho no đủ nhiều dân. Bởi sự giàu có và sự
buôn bán của mầy thạnh vượng lên, thì làm giàu cho các vua trên
đất.
34. Bây giờ, kìa mầy đã tan nát vì các biển, chìm dưới nước sâu;
sự buôn bán và dân chúng của mầy đều cùng mầy chìm đắm.
35. Hết thảy
những dân ở các cù lao đều vì cớ mầy mà sững sờ, các vua chúng nó đều
khiếp sợ, sắc mặt lo buồn.
36. Những con buôn lập nghiệp trong các dân
xỉ báng mầy. Mầy đã trở nên cớ kinh khiếp, đời đời mầy sẽ không còn
nữa!
Ê-xê-chi-ên 28
chọn
đoạn khác
1. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta
rằng:
2. Hỡi con người, hãy nói cùng vua Ty-rơ rằng: Chúa Giê-hô-va
phán như vầy: Vì lòng ngươi đã tự cao, và ngươi nói rằng: Ta là một vì
thần, ta ngồi trên ngai Ðức Chúa Trời, ở giữa các biển; dầu lòng ngươi tự
cao lên bằng lòng Ðức Chúa Trời, ngươi còn là loài người, không phán là
Ðức Chúa Trời.
3. Nầy, ngươi khôn hơn Ða-ni-ên; chẳng có sự mầu nhiệm
nào giấu kín khỏi ngươi!
4. Ngươi đã được giàu có bởi sự khôn ngoan và
thông sáng của mình; đã thâu chứa vàng bạc trong kho tàng ngươi;
5. bởi
sự thông thạo và sự buôn bán mình, thì ngươi đã làm cho sự giàu có mình
tấn tới. Vậy lòng ngươi đã đem lên vì cớ sự giàu có của ngươi.
6. Vậy
nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì lòng ngươi tự cao lên lười biếng lòng
Ðức Chúa Trời,
7. cho nên, nầy, ta sẽ khiến những người ngoại quốc hung
bạo hơn hết trong các dân, nổi dậy nghịch cùng ngươi; chúng nó sẽ rút gươm
nghịch cùng sự khôn sáng hoa mĩ ngươi, và làm ô uế sự vinh hiển
ngươi.
8. Chúng nó sẽ xô ngươi xuống hầm hố và ngươi sẽ chết trong lòng
biển, như người bị giết.
9. Trước mặt kẻ giết ngươi, ngươi còn dám nói
rằng: Ta là Ðức Chúa Trời chăng? Khi ấy ngươi ở trong tay của kẻ làm ngươi
bị thương, thì ngươi là loài người, chẳng phải là Ðức Chúa Trời.
10.
Ngươi sẽ chết bởi tay người ngoại quốc như những kẻ chưa chịu cắt bì. Chúa
Giê-hô-va phán rằng: Ấy chính ta đã nói như vậy.
11. Lại có lời Ðức
Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
12. Hỡi con người, hãy làm một bài ca
thương về vua Ty-rơ và nói cùng người rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy:
Ngươi gồm đủ tất cả, đầy sự khôn ngoan, tốt đẹp trọn vẹn.
13. Ngươi vốn
ở trong Ê-đen, là vườn của Ðức Chúa Trời. Ngươi đã có đầy mình mọi thứ
ngọc báu, là ngọc mã não, ngọc vàng lợt, ngọc kim cương, ngọc thủy thương,
ngọc sắc biếc, ngọc bích, ngọc sắc chàm, ngọc sắc xanh, ngọc thông hành,
cùng vàng nữa. Nghề làm ra trống cơm ống sáo thuộc về ngươi; từ ngày ngươi
mới được dựng nên đã sắm sẵn rồi.
14. Ngươi là một chê-ru-bin được xức
dầu đương che phủ; ta đã lập ngươi lên trên hòn núi thánh của Ðức Chúa
Trời; ngươi đã đi dạo giữa các hòn ngọc sáng như lửa.
15. Ðường lối
ngươi trọn vẹn từ ngày ngươi được dựng nên, cho đến lúc thấy sự gian ác
trong ngươi.
16. Nhơn ngươi buôn bán thạnh lợi, lòng ngươi đầy sự hung
dữ, và ngươi đã phạm tội; vậy ta đã xô ngươi như là vật ô uế xuống khỏi
núi Ðức Chúa Trời; hỡi chê-ru-bin che phủ kia, ta diệt ngươi giữa các hòn
ngọc sáng như lửa!
17. Lòng ngươi đã kiêu ngạo vì sự đẹp ngươi, và sự
vinh hiển của ngươi làm cho ngươi làm hư khôn ngoan mình. Ta đã xô ngươi
xuống đất, đặt ngươi trước mặt các vua, cho họ xem thấy.
18. Ngươi đã
làm ô uế nơi thánh ngươi bởi tội ác ngươi nhiều quá và bởi sự buôn bán
ngươi không công bình; ta đã khiến lửa ra từ giữa ngươi; nó đã thiêu nuốt
ngươi, và ta đã làm cho ngươi trở nên tro trên đất, trước mặt mọi kẻ xem
thấy.
19. Hết thảy những kẻ biết ngươi trong các dân sẽ sững sờ về
ngươi. Kìa, ngươi đã trở nên một cớ kinh khiếp, đời đời ngươi sẽ không còn
nữa.
20. Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
21. Hỡi con người,
hãy xây mặt về phía Si-đôn, và nói tiên tri nghịch cùng nó.
22. Ngươi
khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Si-đôn, nầy, ta nghịch cùng
mầy; ta muốn làm sáng danh ta ở giữa mầy. Chúng nó sẽ biết ta là Ðức
Giê-hô-va, khi ta sẽ làm sự phán xét và tỏ mình ra thánh trong nó.
23.
Ta sẽ sai ôn dịch đến giữa nó, và sẽ có máu trong các đường phố nó. Những
kẻ bị thương sẽ ngã xuống giữa nó, vì gươm sẽ đổ trên nó tư bề; và chúng
nó sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
24. Vừa lúc ấy, sẽ không có chà
chuôm hay châm chích, gai gốc hay đau đớn cho nhà Y-sơ-ra-ên, trong những
kẻ ở chung quanh dân ấy, và đãi dân ấy cách khinh dể. Bấy giờ chúng nó sẽ
biết ta là Chúa Giê-hô-va.
25. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khi ta đã
nhóm nhà Y-sơ-ra-ên lại từ giữa các dân mà chúng nó đã bị tan tác trong
đó, và ta đã tỏ mình ra thánh giữa chúng nó trước mắt các dân, thì chúng
nó sẽ ở trong đất mình mà ta đã ban cho tôi tớ ta là Gia-cốp.
26. Chúng
nó sẽ ở đó yên ổn, sẽ cất nhà và trồng vườn nho. Chúng nó sẽ ở đó yên ổn,
khi ta đã làm sự phán xét ta nghịch cùng những kẻ ở chung quanh chúng nó,
là kẻ đãi chúng nó cách khinh dể; và chúng nó sẽ biết rằng ta là Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời mình.
Ê-xê-chi-ên 29 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ mười,
tháng mười, ngày mười hai, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như
vầy:
2. Hỡi con người, hãy xây mặt nghịch cùng Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô,
mà nói tiên tri nghịch cùng người và cùng cả Ê-díp-tô nữa.
3. Hãy nói
mà rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, nầy, ta
nghịch cùng ngươi, ngươi là con vật quái gở nằm giữa các sông mình, mà
rằng: Sông của ta thuộc về ta, ấy là ta đã làm nên cho ta.
4. Ừ, ta sẽ
đặt những móc trong hai hàm ngươi, và khiến những có trong các sông ngươi
đầu dính nơi vảy ngươi. Ta sẽ kéo ngươi lên khỏi giữa các sông ngươi,
ngươi và những cá trong các sông ngươi đã dính nơi vảy ngươi nữa.
5. Ta
sẽ quăng ngươi vào đồng vắng, ngươi và những cá của các sông ngươi. Ngươi
sẽ ngã xuống trên mặt đồng ruộng; sẽ chẳng được lượm lại, cũng chẳng được
thâu lại. Ta đã phó ngươi làm đồ ăn cho loài thú dưới đất và loài chim
trên trời.
6. Bấy giờ hết thảy dân cư Ê-díp-tô sẽ biết ta là Ðức
Giê-hô-va, vì chúng nó đã nên cây gậy bằng sậy cho nhà Y-sơ-ra-ên.
7.
Khi chúng nó cầm lấy ngươi bởi tay, thì ngươi tự gãy, và làm xây xác chúng
nó cả vai; khi chúng nó nương dựa trên ngươi, thì ngươi tự giập ra, và làm
cho lưng chúng nó xiêu tó.
8. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy:
Nầy, ta sẽ đem gươm đến trên ngươi, và sẽ dứt khỏi ngươi cả người và loài
thú.
9. Ðất Ê-díp-tô sẽ trở nên nơi hoang vu vắng vẻ; và chúng nó sẽ
biết ta là Ðức Giê-hô-va. Vì Pha-ra-ôn có nói rằng: Sông thuộc về ta, ấy
là ta đã làm nên;
10. cho nên, nầy, ta nghịch cùng ngươi và các sông
ngươi, và sẽ khiến đất Ê-díp-tô thành ra đồng vắng hoang vu, từ tháp
Sy-e-nê cho đến bờ cõi Ê-thi-ô-bi.
11. Chẳng có bàn chơn người sẽ đi
qua đó, cũng chẳng có bàn chơn thú vật đi qua nó, cũng chẳng có dân cư ở
đó nữa trong bốn mươi năm.
12. Ta sẽ khiến Ê-díp-tô làm một đất hoang
vu ở giữa các nước nào hoang vu, và các thành nó ở giữa các thành tàn phá
sẽ hoang vu trong bốn mươi năm. Ta sẽ làm tan tác dân Ê-díp-tô trong các
dân, và rải chúng nó ra trong các nước.
13. Vì Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Mãn bốn mươi năm, ta sẽ nhóm dân Ê-díp-tô lại từ giữa các dân mà
trong đó chúng nó đã bị tan tác.
14. Ta sẽ làm cho những phu tù
Ê-díp-tô trở về, và đem chúng nó về trong đất Pha-trốt, là đất quê quán
của chúng nó, nhưng chúng nó chỉ lập nên một nước yếu hèn.
15. Nước
Ê-díp-tô sẽ là một nước yếu hèn hơn hết các nước, và sẽ không dấy lên trên
các nước nữa; ta sẽ khiến chúng nó kém đi, hầu cho chúng nó không cai trị
các nước nữa.
16. Nước ấy sẽ không còn làm sự nhờ cậy cho nhà
Y-sơ-ra-ên; khi nhà Y-sơ-ra-ên trông xem chúng nó thì sẽ nhắc lại sự gian
ác; và chúng nó sẽ biết rằng ta là Chúa Giê-hô-va.
17. Năm thứ hai mươi
bảy, ngày mồng một tháng giêng, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta
rằng:
18. Hỡi con người, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã gán cho
đạo binh minh những việc rất nặng nhọc nghịch cùng Ty-rơ; mọi đầu đầu đã
trở nên trọc, mọi vai đều đã bị mòn; mà vua ấy chưa được tiền công nào của
thành Ty-rơ, hãy cho mình, hoặc cho đạo binh mình, để bù lại công khó mình
đã đánh thành ấy.
19. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ
phó đất Ê-díp-tô cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn; người sẽ bắt lấy dân
chúng, cất lấy của cướp và mồi nó; đó sẽ là tiền công của đạo binh
người.
20. Ta đã phó đất Ê-díp-tô cho người để thưởng sự khó nhọc người
đã chịu, vì chúng nó đã làm việc cho ta. Chúa Giê-hô-va phán vậy.
21.
Trong ngày đó, ta sẽ khiến nhà Y-sơ-ra-ên nứt ra một cái sừng, và ta sẽ
cho ngươi mở miệng giữa chúng nó; và chúng nó sẽ biết ta là Ðức
Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên
30 chọn
đoạn khác
1. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng
ta rằng:
2. Hỡi con người, hãy nói tiên tri và rằng: Chúa Giê-hô-va
phán như vầy: Hãy khóc than! Ngày khốn nạn dường nào!
3. Thật vậy, ngày
ấy gần rồi, phán, là ngày của Ðức Giê-hô-va; ngày có mây, kỳ của các dân
tộc.
4. Gươm sẽ đánh trên Ê-díp-tô; sự buồn rầu ở trong Ê-thi-ô-bi, khi
những kẻ bị giết sẽ ngã xuống trong Ê-díp-tô; chúng nó sẽ cất lấy đoàn dân
nó, và những nền nó bị đổ.
5. Ê-thi-ô-bi, Phút, Lút, mọi người lộn
giống, Cúp, và con cái của đất đồng minh, sẽ cùng chúng nó ngã xuống bởi
gươm.
6. Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Những cái nâng đỡ Ê-díp-tô sẽ ngã;
sức mạnh kiêu ngạo của nó sẽ hạ xuống. Chúng nó sẽ ngã trong nó bởi gươm,
từ tháp Sy-e-nê, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
7. Chúng nó sẽ hoang vu ở
giữa các nước hoang vu, và các thành của nó sẽ ở giữa các thành tàn
phá.
8. Thật, chúng nó sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi ta đã đặt lửa
trong Ê-díp-tô, và khi mọi kẻ giúp nó bị tan nát.
9. Trong ngày đó, sẽ
có sứ giả từ trước mặt ta đi trong tàu đặng làm cho người Ê-thi-ô-bi đương
ở yên phải sợ hãi. Dân sự nó sẽ buồn rầu như trong ngày của Ê-díp-tô; vì,
nầy nó đến gần rồi!
10. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ cậy tay
Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, để diệt đoàn dân của Ê-díp-tô.
11. Vua
ấy cùng dân mình, là dân đáng sợ trong các dân, sẽ được đem đến đặng phá
hại đất. Chúng nó sẽ rút gươm nghịch cùng Ê-díp-tô, và làm cho đất đầy
những thây bị giết.
12. Ta sẽ làm cho các sông khô đi, và bán đất ấy
trong tay những kẻ dữ. Ta sẽ cậy tay dân ngoại làm hoang vu đất ấy với mọi
sự trong nó. Ta là Ðức Giê-hô-va phán như vậy.
13. Chúa Giê-hô-va lại
phán rằng: Ta sẽ hủy diệt các thần tượng và dứt các hình tượng khỏi thành
Nốp. Trong đất Ê-díp-tô sẽ không có vua nữa, và ta sẽ rải sự kinh khiếp
trong đất Ê-díp-tô.
14. Ta sẽ làm cho Pha-trốt nên hoang vu; đặt lửa
tại Xô-an, và làm ra sẽ đoán phạt trên Nô.
15. Ta sẽ đổ cơn giận ta
trên Sin, là thành vững bền của Ê-díp-tô, và sẽ diệt dân chúng của
Nô.
16. Ta sẽ đặt lửa tại Ê-díp-tô, Sin sẽ bị đau đớn cả thể; Nô sẽ bị
phá tan, và đương giữa ban ngày Nốp sẽ bị giặc hại.
17. Những người
trai trẻ của A-ven và Phi-Bê-sốt sẽ ngã bởi gươm, và dân các thành ấy sẽ
đi làm phu tù.
18. Tại Tác-pha-nết, ban ngày sẽ tối tăm, khi ta sẽ gãy
các ách của Ê-díp-tô ở đó, và sức mạnh kiêu ngạo của nó sẽ hết. Về nó, sẽ
có đám mây che lấp đất ấy, những con gái nó sẽ đi làm phu tù.
19. Ta sẽ
làm sự đoán phạt ta trên Ê-díp-tô, và chúng nó sẽ biết ta là Ðức
Giê-hô-va.
20. Năm thứ mười một, ngày mồng bảy tháng giêng, có lời Ðức
Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
21. Hỡi con người, ta đã bẻ cách tay của
Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô. Nầy, không ai rịt thuốc để chữa lành; không ai
quấn chỗ thương để hàn miệng và để lấy sức lại, hầu cho nó có thể cầm
gươm.
22. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta nghịch cùng
Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, và sẽ bẻ hai cánh tay nó, cánh đương mạnh luôn
với cánh đã gãy, và làm cho gươm rốt xuống khỏi tay nó.
23. Ta sẽ làm
cho tan tác dân Ê-díp-tô trong các dân, và rải hết thảy chúng nó ra trong
các nước.
24. Ta sẽ làm cho cánh tay vua Ba-by-lôn thêm mạnh, để gươm
ta trong tay người; nhưng ta sẽ bẻ gãy cánh tay của Pha-ra-ôn, vua nầy rên
la trước mặt vua kia, như một người bị thương hầu chết rên la vậy.
25.
Ta sẽ nâng đỡ hai cánh tay của vua Ba-by-lôn, và hai cánh tay của
Pha-ra-ôn sẽ sa xuống. Chúng nó sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi ta sẽ
trao gươm ta trong tay vua Ba-by-lôn, và người sẽ giơ gươm ấy ra nghịch
cùng đất Ê-díp-tô.
26. Ta sẽ làm tan tác dân Ê-díp-tô trong các dân,
rải chúng nó ra trong các nước; và chúng nó sẽ biết ta là Ðức
Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên
31 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ mười một, ngày mồng một
tháng ba, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
2. Hỡi con người,
hãy nói cùng Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, và cùng cả đoàn dân người rằng: Sự
tôn đại của ngươi so sánh cùng ai?
3. Hãy xem A-si-ri: ngày trước nó
giống như cây hương bách của Li-ban, nhánh đẹp đẽ, bóng diềm dà, cây cao,
và ngọn nó lên đến mây.
4. Các dòng nước nuôi nó, có vực sâu chảy nước
chung quanh chỗ nó trồng mà làm cho nó lớn lên, và tưới các suối mình cho
mọi cây cối ở trong đồng.
5. Vậy nên cây hương bách ấy cao hơn hết thảy
các cây trong đồng; nhánh nó lớn lên, và tược nó nứt thêm ra, là nhờ có
nhiều nước làm cho nó nay nở.
6. Mọi giống chim trời làm ở trong những
nhánh nó; mọi giống thú đồng đẻ con dưới những tược nó, và hết thảy các
dân tộc lớn đều ở dưới bóng nó.
7. Nó là xinh tốt bởi thân nó cao, bởi
tược nó dài; vì rễ nó đâm trong chỗ nhiều nước.
8. Chẳng có cây hương
bách nào trong vườn Ðức Chúa Trời che khuất nó được; cây tùng không bằng
cái nhánh nó, cây bàng không bằng cái tược nó. Chẳng có cây nào của vườn
Ðức Chúa Trời xinh tốt bằng nó cả.
9. Ta đã làm cho nó xinh tốt bởi
muôn vàn nhánh nó, và hết thảy những cây của Ê-đen, là những cây trong
vườn Ðức Chúa Trời đều ganh gỗ nó.
10. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Vì ngươi cao lớn, và nó đã vượt ngọn nó đến tận mây, và lòng nó đã
kiêu ngạo vì mình cao lớn;
11. nên ta sẽ phó nó trong tay một đấng mạnh
của các nước, người chắc sẽ xử với nó; ta đã đuổi nó ra vì những tội ác
nó.
12. Một dân hung bạo trong hết thảy các dân ngoại đã chặt nó và bỏ
lại. Những nhánh nó rốt xuống trên các núi và trong mọi nơi trũng; những
tược nó bị gãy nơi bờ khe, và mọi dân trên đất tránh xa bóng nó và lìa bỏ
nó.
13. Mọi loài chim trời sẽ đậu trên sự đổ nát của nó, và mọi loài
thú đồng sẽ đến nghỉ trên những tược nó,
14. hầu cho chẳng có cây nào
trồng gần nước dám kiêu ngạo về sự cao mình, hay là vượt ngọn lên đến tận
mây, và cho không có những cây nào được các dòng nước tưới rộng cho mà
khoe mình cao lớn; vì chúng nó hết thảy bị phó cho sự chết, cho vực sâu
của đất, ở giữa con cái loài người, với những kẻ xuống trong hầm
hố!
15. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngày mà nó xuống nơi âm phủ, ta đã
khiến kẻ thương khóc vì cớ nó, ta lấp vực sâu; ngăn cấm các sông chảy
mạnh, và những dòng nước lớn bị tắt lại. Ta khiến Li-ban buồn rầu vì cớ
nó, và mọi cây ngoài đồng vì nó bị suy tàn.
16. Ta làm cho các dân tộc
nghe tiếng nó đổ xuống mà rúng động, khi ta quăng nó xuống đến âm phủ, với
hết thảy những kẻ xuống trong hầm hố! Bấy giờ mọi cây của Ê-đen, những cây
rất xinh, những cây rất tốt của Li-ban, hết thảy những cây ngày trước được
nhiều nước tưới, đều được yên ủi trong nơi vực sâu của đất.
17. Chúng
nó cũng đã xuống với nó trong nơi âm phủ, kề những kẻ đã bị gươm giết,
những kẻ ngày trước vốn là cánh tay của nó và ở dưới bóng nó giữa các
dân.
18. Trong những cây của vườn Ê-đen, thì ngươi là giống ai về sự
vinh hiển tôn trọng? Ngươi cũng sẽ bị xô xuống cùng với các cây của Ê-đen
trong nơi vực sâu của đất; ngươi sẽ nằm chính giữa những kẻ không chịu cắt
bì, với những kẻ đã bị gươm giết. Pha-ra-ôn và hết thảy dân chúng người sẽ
như vầy, Chúa Giê-hô-va phán.
Ê-xê-chi-ên 32 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ mười
hai, ngày mồng một tháng chạp, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như
vầy:
2. Hỡi con người, hãy làm một bài ca thương về Pha-ra-ôn, vua
Ê-díp-tô, và nói rằng: Ngươi giống như một con sư tử giữa các dân tộc;
khác nào một vật quái dưới biển, mà đã trướng lên các sông. Ngươi lấy chơn
vậy đục các dòng nước, và làm cho các sông đầy những bùn.
3. Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ giăng lưới ta trên ngươi, có một đoàn dân
đông vô số giùm giúp, chúng nó sẽ kéo ngươi lên trong lưới ta.
4. Ta sẽ
bỏ ngươi lại trên đất, và quăng ngươi trên mặt đồng ruộng. Ta sẽ khiến mọi
loài chim trời đậu trên ngươi, và các loài thú khắp đất ăn ngươi mà
no.
5. Ta sẽ đặt thịt ngươi trên các núi, và lấy tiền tệ ngươi lấp đầy
các nơi trũng.
6. Ta sẽ lấy huyết ngươi tưới nơi đất ngươi lội bơi, cho
đến các núi; và các khe nước sẽ đầy ngươi.
7. Khi ta giập tắt ngươi,
thì ta sẽ che các từng trời và làm tối các ngôi sao; dùng mây bao bọc mặt
trời, và mặt trăng sẽ không chiếu sáng nữa.
8. Ta sẽ làm cho tối tăm
trên ngươi mọi sự sáng láng trên trời, và ta sẽ bủa sự mờ mịt ra trên đất
ngươi, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
9. Ta sẽ làm bối rối lòng nhiều dân khi
ta sẽ sao sự hủy diệt của ngươi ra trong các dân tộc, trong các nước mà
ngươi chưa biết đến.
10. Ta sẽ làm cho nhiều dân kinh sợ về ngươi, và
các vua chúng nó sẽ vì cớ ngươi sợ hết hồn, khi ta huơ gươm trên mặt họ.
Nơi ngày ngươi bị ngã xuống, chúng nó mỗi người đều vì sự sống mình mà run
rẩy luôn luôn.
11. Thật vậy, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Gươm của vua
Ba-by-lôn sẽ xông vào trên ngươi.
12. Ta sẽ khiến cả thảy dân ngươi ngã
xuống dưới gươm của những người mạnh bạo, thảy đều là kẻ đáng sợ trong các
dân. Chúng nó sẽ hạ sự kiêu ngạo của Ê-díp-tô xuống, và cả đoàn dân nó đều
sẽ bị tiêu diệt.
13. Ta cũng sẽ làm cho cả súc vật nó chết hết nơi bờ
sông lớn, nước sẽ không bị vậy đục nước bởi chơn của người ta hoặc bởi vó
của thú vật.
14. Bấy giờ ta lại làm cho các dòng nước của chúng nó được
trong sạch, và làm cho các sông chúng nó chảy như dầu, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
15. Khi ta sẽ khiến đất Ê-díp-tô thành ra nơi hoang vu hủy phá, và
đất ấy vị vét sạch cả của mình trước đã đầy dẫy, khi ta sẽ đất hết thảy
dân sự nó, thì chúng nó sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
16. Kìa là
bài ca thương mà chúng nó sẽ than vãn. Những con gái các nước sẽ than vãn
bằng một giọng thảm thương. Chúng nó sẽ than vãn bài ấy để khóc Ê-díp-tô
cùng cả thày dân nó, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
17. Năm thứ mười hai,
ngày rằm, có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
18. Hỡi con người,
hãy than vãn về đoàn dân Ê-díp-tô. Hãy xô dân ấy cùng với những con gái
của các nước có danh tiếng xuống nơi vực sâu của đất, làm một với những kẻ
xuống trong hầm hố!
19. Ngươi há đẹp hơn ai sao? Vậy hãy xuống và nằm
chung với những kẻ không chịu cắt bì.
20. Phải, kìa những kẻ ấy sẽ ngã
xuống chính giữa những người đã bị gươm giết. Nó bị phó cho gươm; hãy kéo
nó ra với cả các đoàn dân nó!
21. Từ giữa âm phủ, những lính chiến rất
mạnh bạo, cùng những kẻ giúp đỡ nó, sẽ nói cùng nó mà rằng: Chúng nó đã
xuống đó, chúng nó đã nằm yên, là kẻ chưa chịu cắt bì mà đã bị gươm
giết!
22. Tại đó có A-si-ri với cả đoàn dân nó; chung quanh nó đều là
mồ mả. Hết thảy chúng nó đã bị giết, và đã ngã xuống bởi gươm.
23. Mồ
mả nó ở trong những nơi sâu thẳm của hầm hố, và dân nó sắp hàng chung
quanh mồ mả nó. Hết thảy đều đã bị giết; chúng nó vốn là những kẻ rải sự
khiếp sợ ra trên đất người sống, mà nay đã ngã xuống bởi gươm.
24. Tại
đó có Ê-lam với cả dân sự nó ở chung quanh mồ mả nó. Hết thảy đều đã bị
giết, và đã ngã xuống bởi gươm. Những kẻ chưa chịu cắt bì ấy đã xuống
trong vực sâu của đất, tức là những kẻ từng rải sự khiếp sợ ra trên đất
người sống; chúng nó chịu nhơ nhuốc trong vòng những kẻ xuống nơi hầm
hố.
25. Giường của nó và dân sự đã đặt ở giữa những kẻ bị giết, trong
những mồ mả ở chung quanh nó. Hết thảy những kẻ chưa chịu cắt bì ấy đã
chết bởi gươm, vì chúng nó từng rải sự khiếp sợ ra trên đất người sống.
Chúng nó chịu nhơ nhuốc trong vòng những kẻ xuống nơi hầm hố, và người ta
đã sắp hàng nó ở giữa mọi kẻ bị giết.
26. Tại đó có Mê-siếc và Tu-banh,
và cả dân chúng nó; mạnh mẽ chúng nó ở chung quanh chúng nó; hết thảy đều
là những kẻ chưa chịu cắt bì bị giết bởi gươm; vì chúng nó từng rải sự
khiếp sợ trên đất người sống.
27. Chúng nó không nằm chung với những
lính chiến mạnh bạo đã ngã xuống trong vòng những kẻ chưa chịu cắt bì,
những lính chiến ấy đã xuống nơi âm phủ với khí giới đánh giặc của mình,
và người ta đã đặt gươm dưới đầu chúng nó. Song những kẻ kia, tội ác đã
như giắt vào hài cốt mình; vì chúng nó rải sự sợ hãi cho những lính chiến
mạnh bạo trên đất người sống.
28. Nhưng ngươi sẽ bị gãy ở giữa những kẻ
chưa chịu cắt bì, và sẽ nằm chung với những kẻ bị giết bởi gươm.
29.
Tại đó có Ê-đôm, với các vua và cả các quan trưởng nó, những người nầy
mạnh bạo mặc dầu, đã bị sắp hàng với những kẻ bị giết bởi gươm, và nằm
chung với những kẻ chưa chịu cắt bì, và với những kẻ xuống trong hầm
hố.
30. Tại đó cũng có hết thảy quan trưởng ở phương bắc và hết thảy
dân Si-đôn đều xuống với những kẻ bị giết, dầu sự mạnh bạo của chúng nó đã
làm cho khiếp sợ mặt lòng. Chúng nó mang xấu hổ; chúng nó, là những kẻ
chưa chịu cắt bì ấy, đã nằm sóng sượt với những kẻ chịu nhơ nhuốc trong
vòng những kẻ đã xuống nơi hầm hố.
31. Pha-ra-ôn sẽ thấy vậy, thì được
yên ủi về cả đoàn dân mình, tức là Pha-ra-ôn và cả đạo binh mình bị giết
bởi gươm, Chúa Giê-hô-va phán vậy;
32. vì ta rải sự khiếp sợ người ra
trên đất người sống. Thật, Pha-ra-ôn và cả dân người sẽ nằm giữa những kẻ
chưa chịu cắt bì, với những kẻ đã bị giết bởi gươm, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
Ê-xê-chi-ên 33
chọn
đoạn khác
1. Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta
rằng:
2. Hỡi con người, hãy nói cùng con cái dân ngươi mà rằng: Khi ta
sai gươm đến trên một đất nào, và dân đất ấy chọn một người trong chúng nó
để đặt làm kẻ canh giữ,
3. nếu người nầy thấy gươm đến trong đất, thì
thổi kèn để răn bảo dân sự.
4. Bấy giờ, hễ ai nghe tiếng kèn mà không
chịu răn bảo, và nếu gươm đến bắt lấy nó, thì máu của người ấy sẽ đổ lại
trên nó;
5. vì nó có nghe tiếng kèn mà không chịu răn bảo, vậy máu nó
đổ lại trên nó; nhưng nếu nó chịu răn bảo thì cứu được mạng sống
mình.
6. Nhưng nếu kẻ canh giữ thấy gươm đến mà không thổi kèn, đến nỗi
dân sự chẳng được răn bảo, và gươm đến mà cất sự sống của người nầy hoặc
người kia đi, thì người đó sẽ chết trong sự gian ác mình; song ta sẽ đòi
lại máu nó nơi người canh giữ.
7. Nầy, hỡi con người, ta đã lập ngươi
được làm kẻ canh giữ cho nhà Y-sơ-ra-ên; nên hãy nghe lời từ miệng ta, và
thay ta răn bảo trước cho chúng nó.
8. Khi ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi
kẻ dữ, mầy chắc chết! nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường
lối xấu của nó, thì kẻ dự ấy sẽ chết trong sự gian ác mình; nhưng ta sẽ
đòi máu nó nơi tay ngươi.
9. Nếu, trái lại, ngươi đã răn bảo kẻ dữ đặng
xây bỏ đường lối xấu của nó mà nó không xây bỏ, thì nó sẽ chết trong sự
gian ác nó, còn ngươi đã giải cứu mạng sống mình.
10. Hỡi con người,
hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi nói như vầy mà rằng: Vì gian
ác và tội lỗi chúng tôi chất nặng trên chúng tôi, và chúng tôi hao mòn vì
cớ nó, thì thế nào chúng tôi còn sống được?
11. Hãy nói cùng chúng nó
rằng: Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ
chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các
ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết,
hỡi nhà Y-sơ-ra-ên?
12. Hỡi con người, khá nói cùng con cái của dân
ngươi rằng: Sự công bình của người công bình sẽ không cứu được nó trong
ngày nó phạm tội, và sự dữ của kẻ dữ sẽ không làm cho nó sa ngã nơi ngày
nó đã xây bỏ sự dữ ấy, cũng như người công bình sẽ không nhờ sự công bình
đã qua rồi mà sống được nơi ngày mình phạm tội.
13. Dầu mà ta có nói
với người công bình rằng nó chắc sẽ sống, nếu nó cậy sự công bình mình mà
phạm tội, thì sẽ không nhớ đến một việc công bình nào của nó nữa; nhưng nó
sẽ chết trong sự gian ác mình đã phạm.
14. Khi ta nói cùng kẻ dữ rằng:
Mầy chắc chết! nếu kẻ dữ ấy xây bỏ tội lỗi mình, theo luật pháp và hiệp
với lẽ thật;
15. nếu nó trả lại của cầm, đền bồi vật nó đã cướp lấy,
bước theo lệ luật của sự sống, và không phạm sự gian ác nữa, thì chắc nó
sẽ sống và không chết đâu.
16. Chẳng có một tội nào nó đã phạm sẽ được
nhớ lại nghịch cùng nó; nó đã làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, chắc
nó sẽ sống.
17. Nhưng con cái của dân ngươi nói rằng: Ðường của Chúa
không bằng phẳng. Ấy là được của chúng nó bằng phẳng cho chúng nó!
18.
Nếu người công bình xây bỏ sự công bình của mình mà phạm sự gian ác, thì
nó sẽ chết trong đó.
19. Nếu kẻ dữ xây bỏ sự dữ của mình mà làm theo
luật pháp và hiệp với lẽ thật, ấy là bởi cớ đó mà nó sẽ sống.
20. Nhưng
các ngươi nói rằng: Ðường của Chúa không bằng phẳng! Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên,
ta sẽ xét đoán các ngươi, mỗi người theo việc làm của nó.
21. Năm thứ
mười hai sau khi chúng ta bị bắt làm phu tù, ngày mồng năm tháng mười, một
người đã trốn khỏi Giê-ru-sa-lem đến nói cùng ta rằng: Thành hãm
rồi!
22. Vả! buổi chiều trước khi người đi trốn ấy chưa đến, thì tay
Ðức Giê-hô-va ở trên ta; và Ngài đã mở miệng ta cho đến khi sớm mai người
ấy đến cùng ta; thì miệng ta đã được mở, ta không câm nữa.
23. Có lời
Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
24. Hỡi con người, những kẻ ở trong
nơi đổ nát chất đống trên đất Y-sơ-ra-ên nói rằng: Áp-ra-ham chỉ có một
mình mà đã hưởng được đất nầy; chúng ta đông người, thì đất nầy sẽ được
ban cho chúng ta làm cơ nghiệp.
25. Vậy nên, khá bảo chúng nó rằng:
Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi ăn huyết của thú vật, nhướng mắt
hướng về thần tượng mình, và làm cho đổ máu; các ngươi há sẽ được đất nầy
sao?
26. Các ngươi cậy gươm mình, phạm những điều gớm ghiếc, mỗi người
trong các ngươi làm nhục vợ của kẻ lân cận mình; các ngươi há sẽ được đất
nầy sao?
27. Vậy ngươi khá nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Thật như ta hằng sống, những người ở nơi đổ nát chắc sẽ ngã bởi
gươm, và ta sẽ phó những kẻ ở ngoài đồng cho thú vật cắn nuốt; còn những
kẻ ở trong các đồn lũy hang hố thì sẽ chết dịch.
28. Ta sẽ làm đất nầy
ra hoang vu và gở lạ; quyền thế nó cậy mà kiêu ngạo sẽ dứt đi; các núi của
Y-sơ-ra-ên sẽ hoang vu đến nỗi chẳng có ai qua lại nữa.
29. Bấy giờ
chúng nó sẽ biết ta la Ðức Giê-hô-va, khi ta đã làm cho đất nầy ra hoang
vu và gở lạ, vì cớ mọi sự gớm ghiếc mà chúng nó đã phạm.
30. Hỡi con
người, những con cái của dân ngươi ở dọc tường thành và cửa các nhà mà nói
chuyện về ngươi; chúng nó nói với nhau, mỗi người cùng anh em mình rằng:
Xin hãy đến nghe lời ra từ Ðức Giê-hô-va là thể nào!
31. Ðoạn chúng nó
kéo cả đoàn cả lũ mà đến cùng ngươi; dân ta ngồi trước mặt ngươi, và nghe
lời ngươi; nhưng chúng nó không làm theo. Miệng chúng nó tỏ ra nhiều sự
yêu mến, mà lòng chúng nó chỉ tìm lợi.
32. Nầy, chúng nó coi ngươi như
là kẻ hát hay có tiếng vui và kẻ đờn giỏi; chúng nó nghe lời ngươi, nhưng
không làm theo.
33. Vì vậy, khi tai nạn nầy sẽ đến, và kìa, nó đến,
chúng nó sẽ biết đã có một tiên tri ở giữa mình.
Ê-xê-chi-ên 34 chọn
đoạn khác
1.
Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con người, hãy nói tiên
tri nghịch cùng những kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên; hãy nói tiên tri, và bảo
những kẻ chăn ấy rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khốn nạn cho kẻ chăn
của Y-sơ-ra-ên, là kẻ chỉ nuôi mình! Há chẳng phải những kẻ chăn nên cho
bầy chiên ăn sao?
3. Các ngươi ăn mỡ, mặc lông chiên, giết những con
chiên mập, mà các ngươi không cho bầy chiên ăn!
4. Các ngươi chẳng làm
cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau,
chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng
tìm những con bị lạc mất; song các ngươi lại lấy sự độc dữ gay gắt mà cai
trị chúng nó.
5. Vì không có kẻ chăn thì chúng nó tan lạc; đã tan lạc
thì chúng nó trở nên mồi cho hết thảy loài thú ngoài đồng.
6. Những
chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao; những chiên ta tan tác trên
cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.
7. Vậy nên, hỡi kẻ chăn,
hãy nghe lời Ðức Giê-hô-va:
8. Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật như ta
hằng sống, vì tại không có kẻ chăn, nên những chiên ta đã làm mồi, và đã
trở nên đồ ăn của mọi loài thú ngoài đồng, những kẻ chăn của ta cũng không
tìm kiếm chiên ta, nhưng chúng nó chỉ nuôi mình mà không chăn nuôi chiên
ta,
9. vì cớ đó, hỡi kẻ chăn, hãy nghe lời Ðức Giê-hô-va:
10. Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ chăn đó; ta sẽ đòi
lại chiên của ta nơi tay chúng nó; ta không để cho chúng nó chăn chiên của
ta nữa, và chúng nó cũng không thể tự chăn nuôi lấy mình nữa; nhưng ta sẽ
móc chiên ta ra khỏi miệng chúng nó, hầu cho chiên không làm đồ ăn cho
chúng nó.
11. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, chính ta, tức là ta, sẽ
kiếm chiên ta, ta sẽ tìm nó ra.
12. Ví như kẻ chăn tìm bầy mình ra,
trong ngày mà nó ở giữa những chiên mình bị tan lạc, thì ta cũng sẽ tìm
chiên ta ra như vậy: ta sẽ cứu chúng nó ra khỏi mọi nơi mà chúng nó đã bị
tan lạc trong ngày mây mù tăm tối.
13. Ta sẽ đem chúng nó ra khỏi giữa
các dân; ta sẽ nhóm chúng nó lại từ các nước, và đem chúng nó về trong đất
riêng chúng nó. Ta sẽ chăn chúng nó trên các núi của Y-sơ-ra-ên, kề khe
nước, và trong mọi nơi có dân cư trong nước.
14. Ta sẽ chăn chúng nó
trong những đồng cỏ tốt, và chuồng chúng nó sẽ ở trên các núi nơi đất cao
của Y-sơ-ra-ên; ở đó chúng nó sẽ nghỉ trong chuồng tử tế, và ăn cỏ trong
đồng cỏ màu mỡ, tức là trên các núi của Y-sơ-ra-ên.
15. Ấy chính ta sẽ
chăn chiên ta và cho chúng nó nằm nghỉ, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
16. Ta
sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị
gãy, và làm cho con nào đau được mạnh. Nhưng ta sẽ hủy diệt những con mập
và mạnh. Ta sẽ dùng sự công bình mà chăn chúng nó.
17. Chúa Giê-hô-va
phán như vầy: Còn như bay, hỡi bầy chiên ta, nầy, ta xét đoán giữa chiên
và chiên, giữa chiên đực và dê đực.
18. Bay ăn trong vườn cỏ xinh tốt,
mà lại lấy chơn giày đạp những cỏ còn lại; đã uống những nước trong, lại
lấy chơn vậy đục nước còn thừa; bay há chẳng coi sự đó là việc nhỏ mọn
sao?
19. Còn những chiên ta thì phải ăn cỏ chơn bay đã giày đạp, và
uống nước chơn bay đã vấy đục!
20. Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Nầy, ta, chính ta, sẽ xét đoán giữa những chiên mập và chiên
gầy.
21. Vì bay lấy hông lấy vai mà xốc, lấy sừng mà vích mọi chiên con
có bịnh, cho đến chừng bay đã làm tan lạc chúng nó ra ngoài,
22. nên ta
sẽ đến cứu bầy chiên ta, chúng nó sẽ không làm mồi nữa, và ta sẽ xét đoán
giữa chiên và chiên.
23. Ta sẽ lập trên chúng nó chỉ một kẻ chăn, người
sẽ chăn chúng nó, tức là Ða-vít, tôi tớ ta. Ấy là người sẽ chăn chúng nó,
người sẽ làm kẻ chăn chúng nó.
24. Ta, Ðức Giê-hô-va, sẽ làm Ðức Chúa
Trời chúng nó, còn Ða-vít, tôi tớ ta, sẽ làm vua giữa chúng nó. Ta, Ðức
Giê-hô-va, đã phán vậy.
25. Bấy giờ ta sẽ kết với chiên ta một giao ước
hòa bình. Ta sẽ làm cho những thú dữ trong đất dứt đi, đặng dân ta có thể
ở yên ổn trong đồng vắng và ngủ trong rừng.
26. Ta sẽ làm cho chúng nó
với các miền chung quanh đồi ta nên nguồn phước. Ta sẽ khiến mưa sa nơi
mùa thuận tiện, ấy sẽ là cơn mưa của phước lành.
27. Cây ngoài đồng sẽ
ra trái, và đất sẽ sanh hoa lợi. Chúng nó sẽ ở yên trong đất mình, và sẽ
biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi ta đã bẻ gãy những đòn của ách chúng nó, và
đã giải cứu chúng nó ra khỏi tay những kẻ bắt chúng nó phục dịch.
28.
Chúng nó sẽ chẳng làm mồi của các dân ngoại nữa; những loài thú của đất sẽ
chẳng nuốt chúng nó nữa; chúng nó sẽ ở yên ổn, chẳng ai làm cho sợ
hãi.
29. Ta sẽ sắm vườn có danh tiếng cho chúng nó, chúng nó sẽ không
chết đói trong đất mình nữa, và cũng không còn chịu sự hổ nhuốc của các
nước nữa.
30. Chúng nó sẽ biết ta, Ðức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời
chúng nó, ở cùng chúng nó, và biết nhà Y-sơ-ra-ên chúng nó là dân ta, Chúa
Giê-hô-va phán vậy.
31. Bay là chiên của ta, là chiên của đồng cỏ ta;
bay là loài người, và ta là Ðức Chúa Trời bay, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
Ê-xê-chi-ên 35
chọn
đoạn khác
1. Lời của Ðức Giê-hô-va được phán cùng ta
rằng:
2. Hỡi con người, hãy xây mặt hướng về núi Sê-i-rơ, và nói tiên
tri nghịch cùng nó.
3. Hãy nói cùng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như
vầy: Hỡi núi Sê-i-rơ, nầy, ta nghịch cùng mầy! Ta sẽ giá tay nghịch cùng
mầy, làm cho mầy ra hoang vu và gở lạ.
4. Ta sẽ làm cho các thành của
mầy ra đồng vắng, còn mầy sẽ trở nên hoang vu. Bấy giờ mầy sẽ biết ta là
Ðức Giê-hô-va.
5. Vì mầy cưu sự ghen ghét vô cùng, và đã phó con cái
Y-sơ-ra-ên cho quyền gươm dao nơi ngày tai vạ chúng nó, trong kỳ gian ác
về cuối cùng,
6. vì cớ đó, Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống,
ta sẽ sắm sẵn mầy cho phải huyết, và huyết sẽ đuổi theo mầy. Vì mầy đã
chẳng ghét huyết, nên huyết sẽ đuổi theo mầy!
7. Vậy ta sẽ làm cho núi
Sê-i-rơ gở lạ hoang vu, và hủy diệt cả người đi qua và người trở về.
8.
Ta sẽ làm cho các núi nó đầy những kẻ bị giết của nó; những người bị gươm
giết sẽ ngã xuống trên các đồi mầy, trong các trũng và giữa dòng mọi sông
suối mầy.
9. Ta sẽ làm cho mầy ra hoang vu đời đời; các thành mầy sẽ
không có dân ở nữa, và bay sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
10. Vì mầy có
nói rằng: Hai dân tộc ấy và hai nước ấy sẽ thuộc về ta, và chúng ta sẽ
được nó làm kỷ vật, dầu Ðức Giê-hô-va dương ở đó;
11. nên Chúa
Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta sẽ đãi mầy bằng cơn giận và sự
ghét mà mầy đã bởi lòng ghen tương tỏ ra nghịch cùng chúng nó, và khi ta
xét đoán mầy, ta sẽ tỏ mình ra giữa chúng nó.
12. Mầy sẽ biết ta, Ðức
Giê-hô-va, đã nghe những lời sỉ nhục mầy đã nói ra nghịch cùng các núi
Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Các núi ấy đã bị làm nên hoang vu; đã phó cho ta để
nuốt.
13. Bay đã lấy miệng khoe mình nghịch cùng ta, và đã thêm những
lời mình nghịch cùng ta. Thật, ta đã nghe điều đó!
14. Chúa Giê-hô-va
phán như vầy: Khi cả đất vui mừng, ta sẽ làm cho mầy nên hoang vu.
15.
Vì mầy đã lấy làm vui về sản nghiệp nhà Y-sơ-ra-ên bị hoang vu, nên ta đãi
mầy cũng vậy. Hỡi núi Sê-i-rơ, mầy với cả Ê-đôm, tức cả xứ ấy, sẽ bị hoang
vu, và chúng nó sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 36 chọn
đoạn khác
1.
Hỡi con người, hãy nói tiên tri về các núi của Y-sơ-ra-ên, và rằng: Hỡi
các núi của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Ðức Giê-hô-va!
2. Chúa Giê-hô-va
phán như vầy: Vì quân thù nghịch có nói về bay rằng: Ê! Những gò cao đời
xưa thuộc về chúng ta làm sản nghiệp!
3. Vì cớ đó, hãy nói tiên tri, và
rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật, vì chúng nó đã làm cho bay nên
hoang vu, và nuốt bay tư bề, đặng bay trở nên sản nghiệp của những kẻ sót
lại của các nước, và bay bị miệng kẻ hay nói bàn luận, và bị dân sự chê
bai,
4. vì cớ đó, hỡi các núi của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời của Chúa
Giê-hô-va: Chúa Giê-hô-va phán như vầy cho các núi và các gò, cho khe suối
và đồng trũng, cho nơi đổ nát hoang vu và các thành bị bỏ, đã phó cho
những kẻ sót lại của các nước chung quanh bay cướp bóc và nhạo báng,
5.
vì cớ đó, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật, trong cơn ghen tương nóng
nảy, ta rao lời án nghịch cùng kẻ sót lại của các nước ấy và cả Ê-đôm, là
những kẻ đầy lòng vui mừng và ý khinh dể, định đất của ta cho mình làm kỷ
vật, đặng phó nó cho sự cướp bóc.
6. Vậy nên, hãy nói tiên tri về đất
của Y-sơ-ra-ên; hãy nói với các núi và các gò, khe suối và đồng trũng
rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật ta phán trong cơn ghen và cơn giận
của ta, vì bay đã chịu sự hổ nhuốc của các nước.
7. Vậy nên, Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Ta đã thề rằng: Các nước chung quanh bay chắc sẽ
chịu hổ nhuốc!
8. Nhưng nay, các núi Y-sơ-ra-ên, sẽ sanh những nhánh và
ra trái cho dân Y-sơ-ra-ên ta; vì chúng nó sắp trở về.
9. Nầy, ta hướng
về bay, xây lại cùng bay, và bay sẽ bị cày cấy gieo vãi.
10. Trên đất
bay ta sẽ thêm số dân cư và số con cái cả nhà Y-sơ-ra-ên. Các thành sẽ có
người ở, các nơi đổ nát sẽ được dựng lại.
11. Ta sẽ thêm loài người và
loài vật trên đất bay, chúng nó sẽ thêm nhiều và nẩy nở; ta sẽ làm cho bay
đông dân như lúc trước, và ban ơn cho bay hơn thuở ban đầu. Bấy giờ bay sẽ
biết ta là Ðức Giê-hô-va.
12. Ta sẽ làm cho những dân cư bước đi trên
đất ngươi, tức là dân Y-sơ-ra-ên ta. Thật, chúng nó sẽ được mầy làm kỷ
vật; mầy sẽ làm sản nghiệp chúng nó, và không làm mất con cái chúng nó
nữa.
13. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì người ta nói cùng bay rằng:
Hỡi đất, mầy nuốt người ta, và làm mất con cái của dân mầy đi,
14. cũng
vì cớ đó, mầy chẳng nuốt người ta nữa, và không làm mất con cái của dân
mầy đi nữa, Ðức Giê-hô-va phán vậy.
15. Ta không để cho mầy nghe những
lời nhiếc móc của các nước nữa; mầy sẽ không còn chịu sự nhuốc nha của các
dân nữa, và mầy không khiến dân mình vấp phạm nữa, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
16. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
17. Hỡi con
người, khi nhà Y-sơ-ra-ên ở trong đất mình, đã làm ô uế đất ấy bởi đường
lối và việc làm của mình: đường lối chúng nó ở trước mặt ta như là sự ô uế
của một người đờn bà chẳng sạch.
18. Ta đã rải cơn thạnh nộ của ta trên
chúng nó, vì cớ huyết mà chúng nó đã làm đổ ra trên đất, và vì chúng nó đã
làm ô uế đất ấy bởi thần tượng mình.
19. Ta đã làm tan tác chúng nó
trong các dân, và chúng nó đã bị rải ra trong nhiều nước; ta đã xét đoán
chúng nó theo đường lối và việc làm.
20. Khi chúng nó đã tới trong các
nước mà chúng nó đã đi đến, thì chúng nó đã phạm danh thánh ta, đến nỗi
người ta nói về chúng nó rằng: Ấy là dân của Ðức Giê-hô-va; chúng nó đã ra
đi từ đất Ngài!
21. Nhưng ta tiếc danh thánh của ta mà nhà Y-sơ-ra-ên
đã phạm trong các dân tộc, là nơi nhà ấy đã đi đến.
22. Vậy nên hãy nói
cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên,
ấy chẳng phải vì cớ các ngươi mà ta làm cách ấy, nhưng vì cớ danh thánh ta
mà các ngươi đã phạm trong các dân, là nơi các ngươi đã đi đến.
23. Ta
sẽ làm nên thánh danh lớn của ta, là danh đã bị phạm trong các dân, giữa
các dân đó các ngươi đã phạm danh ấy. Chúa Giê-hô-va phán: Như vậy các dân
tộc sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi trước mắt chúng nó ta sẽ được tỏ ra
thánh bởi các ngươi.
24. Ta sẽ thâu lấy các ngươi khỏi giữa các dân; ta
sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi nước, và đem về trong đất riêng của các
ngươi.
25. Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở
nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các
ngươi.
26. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các
ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi
lòng bằng thịt.
27. Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các
ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm
theo.
28. Các ngươi sẽ ở trong đất mà ta đã ban cho tổ phụ các ngươi;
các ngươi sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Ðức Chúa Trời các ngươi.
29. Ta sẽ
giải cứu các ngươi khỏi mọi sự ô uế; ta sẽ gọi lúa mì tốt lên, khiến cho
nẩy nở thêm nhiều, và không giáng cho các ngươi sự đói kém.
30. Ta sẽ
thêm nhiều trái cây và hoa lợi của đồng ruộng, hầu cho các ngươi không vì
đói kém chịu sự xấu hổ ở giữa các nước.
31. Bấy giờ các ngươi sẽ nhớ
lại đường lối xấu xa của mình, và việc làm của mình là không tốt. Chính
các ngươi sẽ tự gớm ghét mình, vì cớ tội lỗi và những sự gớm ghiếc của các
ngươi.
32. Chúa Giê-hô-va phán: Chẳng phải vì cớ các ngươi mà ta làm
như vậy, các ngươi khá biết rõ. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, khá biết hổ và mắc cỡ
về đường lối mình.
33. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngày mà ta sẽ làm
sạch mọi tội lỗi các ngươi, ta sẽ lại làm cho thành các ngươi có dân ở, và
những chỗ đổ nát sẽ dựng lại.
34. Ðất hoang vu sẽ cầy cấy, dầu mà trước
đã hoang vu trước mắt mọi kẻ đi qua.
35. Chúng nó sẽ nói rằng: Ðất
hoang vu nầy đã trở nên như vườn Ê-đen; những thành đổ nát, hoang vu, tàn
phá kia, kìa đã có tường vách và dân ở!
36. Bấy giờ các dân tộc còn sót
lại xung quanh các ngươi sẽ biết rằng ta, Ðức Giê-hô-va, đã cất lại nơi bị
phá, trồng lại nơi bị hủy. Ta, Ðức Giê-hô-va, đã phán lời đó, và sẽ làm
thành.
37. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta còn muốn nhà Y-sơ-ra-ên cầu
hỏi ta để ta làm sự nầy cho: Ta sẽ thêm nhiều người nam nó như một bầy
chiên.
38. Các thành đổ nát sẽ đầy những bầy người, như bầy chiên để
làm của lễ, như bầy của Giê-ru-sa-lem trong ngày lễ trọng thể. Và chúng nó
sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 37 chọn
đoạn khác
1. Tay của Ðức
Giê-hô-va đặt trên ta; Ngài dắt ta ra trong Thần Ðức Giê-hô-va, và đặt ta
giữa trũng; nó đầy những hài cốt.
2. Ðoạn Ngài khiến ta đi vòng quanh
những hài cốt ấy; nầy, có nhiều lắm trên đồng trũng đó, và đều là khô
lắm.
3. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, những hài cốt nầy có thể
sống chăng? Ta thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, chính Chúa biết điều
đó!
4. Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hãy nói tiên tri về hài cốt ấy, và
bảo chúng nó rằng: Hỡi hài cốt khô, khá nghe lời Ðức Giê-hô-va.
5. Chúa
Giê-hô-va phán cùng những hài cốt ấy rằng: Nầy, ta sẽ phú hơi thở vào
trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống.
6. Ta sẽ đặt gân vào trong các
ngươi, sẽ khiến thịt mọc lên trên các ngươi, và che các ngươi bằng da. Ta
sẽ phú hơi thở trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống; rồi các ngươi sẽ
biết ta là Ðức Giê-hô-va.
7. Vậy ta nói tiên tri như Ngài đã phán dặn
ta; ta đương nói tiên tri, thì có tiếng, và nầy, có động đất: những xương
nhóm lại hiệp với nhau.
8. Ta nhìn xem, thấy những gân và thịt sanh ra
trên những xương ấy; có da bọc lấy, nhưng không có hơi thở ở trong.
9.
Bấy giờ Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy nói tiên tri cùng gió;
hãy nói tiên tri và bảo gió rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi hơi
thở, khá đến từ gió bốn phương, thở trên những người bị giết, hầu cho
chúng nó sống.
10. Vậy ta nói tiên tri như Ngài đã phán dặn ta, và hơi
thở vào trong chúng nó; chúng nó sống, và đứng dậy trên chơn mình, hiệp
lại thành một đội quân rất lớn.
11. Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con
người, những hài cốt nầy, ấy là cả nhà Y-sơ-ra-ên. Nầy, chúng nó nói rằng:
Xương chúng ta đã khô, lòng trông cậy chúng ta đã mất, chúng ta đã tuyệt
diệt cả!
12. Vậy, hãy nói tiên tri, và bảo chúng nó rằng: Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi dân ta, nầy, ta sẽ mở mồ mả các ngươi, làm cho
các ngươi lại lên khỏi mồ mả, và ta sẽ đem các ngươi về trong đất của
Y-sơ-ra-ên.
13. Hỡi dân ta, các ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va, khi
ta đã mở mồ mả các ngươi, và làm cho chúng nó lại lên khỏi mồ mả.
14.
Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. Ta sẽ lập các
ngươi trong đất riêng của các ngươi; rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, Ðức
Giê-hô-va, sau khi hứa lời ấy thì đã làm thành, Ðức Giê-hô-va phán
vậy.
15. Lại có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
16. Hỡi con
người, hãy lấy một cây gậy và viết ở trên rằng: Cho Giu-đa, và cho con cái
Y-sơ-ra-ên là bạn người. Hãy lấy một cây gậy khác và viết ở trên rằng: Cho
Giô-sép, ấy là cây gậy của Ép-ra-im, và của cả nhà Y-sơ-ra-ên là bạn
người.
17. Hãy để gậy nầy với gậy kia hiệp làm một, đặng làm thành một
cây trong tay ngươi.
18. Khi các con cái dân ngươi sẽ hỏi ngươi mà
rằng: Vậy xin cắt nghĩa cho chúng tôi điều đó là gì:
19. thì ngươi khá
trả lời rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ lấy gậy của Giô-sép
và của các chi phái Y-sơ-ra-ên là bạn người, là gậy ở trong tay Ép-ra-im.
Ta sẽ hiệp lại với gậy của Giu-đa đặng làm nên chỉ một gậy mà thôi, và hai
cái sẽ cùng hiệp làm một trong tay ta.
20. Ngươi khá cầm những gậy mà
ngươi đã viết chữ ở trên, hiệp lại trong tay ngươi cho chúng nó
thấy,
21. và nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy,
ta sẽ kéo con cái Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa các nước mà trong các nước ấy
chúng nó đã đi. Ta sẽ nhóm chúng nó lại từ bốn phương, và đem chúng nó về
trong đất riêng của chúng nó.
22. Ta sẽ hiệp chúng nó lại làm chỉ một
dân tộc trong đất ấy, ở trên núi của Y-sơ-ra-ên. Chỉ một vua sẽ cai trị
chúng nó hết thảy. Chúng nó sẽ không thành ra hai dân tộc, và không chia
ra hai nước nữa.
23. Chúng nó sẽ không tự làm ô uế nữa bởi thần tượng
chúng nó, hoặc bởi những vật đáng ghét, hoặc bởi mọi sự phạm tội của mình.
Ta sẽ giải cứu chúng nó khỏi mọi nơi ở mà chúng nó đã phạm tội. Ta sẽ làm
sạch chúng nó, vậy thì chúng nó sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Ðức Chúa Trời
chúng nó.
24. Tôi tớ ta là Ða-vít sẽ làm vua trên chúng nó. Hết thảy
chúng nó sẽ có chỉ một kẻ chăn; chúng nó sẽ bước theo các mạng lịnh của
ta; chúng nó sẽ gìn giữ các luật lệ của ta và làm theo.
25. Chúng nó sẽ
ở đất mà ta đã ban cho tôi tớ ta là Gia-cốp, và là đất tổ phụ con người đã
ở. Chúng nó, con cái chúng nó, và con cái của con cái chúng nó sẽ ở đó cho
đến đời đời; tôi tớ ta là Ða-vít sẽ làm vua chúng nó mãi mãi.
26. Vả,
ta sẽ lập với chúng nó một giao ước hòa bình; ấy sẽ là một giao ước đời
đời giữa chúng nó với ta. Ta sẽ lập chúng nó và làm cho đông đúc. Ta sẽ
đặt nơi thánh ta giữa chúng nó đời đời.
27. Ðền tạm ta sẽ ở giữa chúng
nó; ta sẽ làm Ðức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta.
28. Bấy
giờ các nước sẽ biết ta, là Ðức Giê-hô-va, biệt Y-sơ-ra-ên ra thánh, vì
nơi thánh ta sẽ ở giữa chúng nó đời đời.
Ê-xê-chi-ên 38 chọn
đoạn khác
1.
Có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2. Hỡi con người, hãy xây mặt
lại cùng Gót ở đất Ma-gốc là vua của Rô-sơ, Mê-siếc, và Tu-banh, mà nói
tiên tri nghịch cùng người.
3. Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Hỡi Gót, vua của Rô-sơ, Mê-siếc, và Tu-banh, nầy, ta nghịch cùng
ngươi.
4. Ta sẽ quay ngươi lại, đặt những móc trong hàm ngươi, khiến
ngươi ra khỏi bờ cõi mình, ngươi và cả đạo binh ngươi, ngựa cùng người cỡi
ngựa, hết thảy đều mặc áo chiến, hiệp làm cơ binh đông lắm, mang những
thuẫn lớn thuẫn nhỏ, và hết thảy đều cầm gươm.
5. Những lính chiến của
Phe-rơ-sơ, Cút, và Phút sẽ ở cùng chúng nó, hết thảy đều mang thuẫn và đội
mão trụ.
6. Gô-me và hết thảy quân đội nó, nhà Tô-ga-ma ở phía cực bắc
với hết thảy bè đảng nó, tức là nhiều dân sẽ phụ về ngươi.
7. Ngươi khá
sẵn sàng; ngươi cùng hết thảy dân chúng nhóm lại xung quanh ngươi khá sửa
soạn trước. Ngươi hãy làm tướng chúng nó.
8. Sau nhiều ngày, ngươi sẽ
lãnh mạng ra đi; trong những năm sau rốt ngươi sẽ đến trong một đất là đất
đã được giải cứu khỏi gươm và nhóm lại từ giữa nhiều dân tộc; ngươi sẽ đến
trên núi Y-sơ-ra-ên, là nơi đổ nát đã lâu, nhưng nó đã được đem về từ giữa
các đến, và chúng nó hết thảy sẽ ở yên.
9. Ngươi sẽ sấn tới, sẽ đến như
gió bão, như một đám mây trùng cả đất, ngươi, mọi đạo binh ngươi, và nhiều
dân tộc với ngươi.
10. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Trong những ngày
đó, có ý tưởng sẽ dấy lên trong trí ngươi, ngươi sẽ định mưu kế hung
dữ.
11. Ngươi sẽ nói rằng: Ta sẽ đi đến đất có làng không có thành
quách, ta sẽ đến cùng những dân yên lặng, an ổn, hết thảy ở trong những
nơi không có tường, không then và không cửa.
12. Ta sẽ ra trận đặng
cướp và lấy của, đặng giang tay trên những nơi đổ nát đó mà nay đã có dân
cư, và trên một dân đã được đem về từ giữa các nước, có những súc vật và
của cải, ăn ở giữa thế gian.
13. Sê-ba và Ðê-đan, những con buôn của
Ta-rê-si và hết thảy những sư tử tơ của nó, sẽ nói cùng ngươi rằng: Có
phải ngươi đến đặng bóc lột, ngươi nhóm quân đội mình lại đặng cướp của,
đặng đem bạc và vàng đi, đặng lấy những súc vật và của cải, đặng làm một
sự cướp giựt lớn sao?
14. Vậy nên, hỡi con người, hãy nói tiên tri và
bảo Gót rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Trong ngày đó, khi dân
Y-sơ-ra-ên của ta ở yên ổn, ngươi há chẳng phải sẽ biết sao?
15. Bấy
giờ ngươi sẽ đến từ nơi ngươi, từ phương cực bắc, ngươi và nhiều dân ở với
ngươi, hết thảy đều cỡi ngựa, người đông nhiều hiệp nên một đạo binh
mạnh.
16. Hỡi Gót! Ngươi sẽ đến đánh dân Y-sơ-ra-ên ta, như một đám mây
che phủ đất. Thật vậy, trong những ngày sau rốt, ta sẽ khiến ngươi đi đánh
đất ta, hầu cho các dân tộc học mà nhìn biết ta, khi ta sẽ được tỏ ra
thánh bởi ngươi trước mắt chúng nó.
17. Chúa Giê-hô-va phán như vầy:
Xưa kia ta đã cậy tôi tớ ta, là các tiên tri của Y-sơ-ra-ên, trong những
thời đó, trải nhiều năm, họ đã nói tiên tri rằng ta sẽ khiến ngươi đến
nghịch cùng dân ta, ấy há chẳng phải là ta đã phán về ngươi sao?
18.
Chúa Giê-hô-va phán: Sẽ xảy đến trong ngày đó, là ngày Gót sẽ đi đánh đất
Y-sơ-ra-ên, thì cơn giận của ta sẽ nổi trên lỗ mũi ta.
19. Ta đương
ghen tương, đương giận phừng phừng mà nói rằng: Thật, trong ngày đó sẽ có
sự rúng động lớn phát ra trong đất Y-sơ-ra-ên.
20. Trước mặt ta, những
cá biển, những chim trời, những loài thú đồng, hết thảy những côn trùng bò
trên đất, hết thảy những người ở trên mặt đất, sẽ đều run rẩy. Những núi
đều bị quăng xuống, những vách đá đều đổ xuống, hết thảy những tường đều
bị sụp xuống đất.
21. Chúa Giê-hô-va phán: Ta sẽ gọi gươm đến nghịch
cùng nó ở trên mọi núi của ta. Ai nấy sẽ xây gươm lại nghịch cùng anh em
mình.
22. Ta sẽ làm sự xét đoán nghịch cùng nó bởi dịch lệ và bởi máu.
Ta sẽ khiến những trận mưa dầm, mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống trên nó,
trên đạo binh nó, và dân đông đi với nó.
23. Ấy vậy, ta sẽ làm sáng
danh ta, sẽ tỏ mình ra thánh, và sẽ được nhận biết trước mắt nhiều dân
tộc. Chúng nó sẽ biết rằng ta là Ðức Giê-hô-va.
Ê-xê-chi-ên 39 chọn
đoạn khác
1.
Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng Gót và bảo nó rằng: Chúa
Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Gót, vua của Rô-rơ, Mê-siếc, và Tu-banh, nầy,
ta nghịch cùng ngươi.
2. Ta sẽ quay ngươi lại. Ta sẽ dẫn ngươi đi, và
khiến ngươi đến từ phía cực bắc, và đem ngươi lên trên các núi của
Y-sơ-ra-ên.
3. Ta sẽ đánh rơi cung của ngươi khỏi tay tả, và làm rớt
những tên của ngươi khỏi tay hữu.
4. Ngươi sẽ ngã xuống trên các núi
của Y-sơ-ra-ên, ngươi và mọi đạo binh ngươi, cả đến những dân theo ngươi
nữa. Ta sẽ phó ngươi cho mọi loài chim ăn thịt, và cho loài thú đồng nuốt
đi.
5. Ngươi sẽ ngã xuống trên đồng ruộng; vì ta đã phán, Chúa
Giê-hô-va phán vậy.
6. Bấy giờ ta sẽ sai lửa xuống trên Ma-gốc, và trên
những kẻ ở yên ổn nơi các cù lao; và chúng nó sẽ biết rằng ta là Ðức
Giê-hô-va.
7. Ta sẽ tỏ danh thánh ta ra giữa dân Y-sơ-ra-ên ta, và ta
không để cho nói phạm đến danh thánh ta nữa. Các dân tộc sẽ biết rằng ta
là Ðức Giê-hô-va, là Ðấng Thánh trong Y-sơ-ra-ên.
8. Nầy, sự ấy đến, và
sẽ làm thành, Chúa Giê-hô-va phán vậy; ấy là ngày mà ta đã rao!
9. Bấy
giờ những dân cư các thành của Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra, đặng đốt và phó cho
lửa những khí giới, những thuẫn lớn và nhỏ, những cung và tên, những giáo
và sào, chúng nó đem chụm lửa được bảy năm.
10. Chúng nó sẽ không tìm
củi trong đồng, không đốn củi trong rừng, vì lấy khí giới mà chụm lửa.
Chúng nó sẽ bóc lột những kẻ đã bóc lột mình, và cướp giựt những kẻ đã
cướp giựt mình, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
11. Sẽ xảy ra trong ngày đó,
ta sẽ cho Gót một chỗ chôn tại Y-sơ-ra-ên, trong đồng trũng của những
người qua lại, ở về phương đông biển; và chỗ chôn đó sẽ ngăn đường của
khác bộ hành. Ấy tại đó người ta sẽ chôn Gót và cả đoàn dân nó; và người
ta sẽ gọi đồng trũng ấy là đồng trũng của đảng Gót.
12. Nhà Y-sơ-ra-ên
sẽ phải mất bảy tháng để chôn chúng nó, hầu cho làm sạch trong đất.
13.
Hết thảy dân cư trong đất sẽ chôn chúng nó, và ấy sẽ là một ngày danh
tiếng cho dân, là ngày mà ta sẽ được vinh hiển, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
14. Chúng nó sẽ cắt những người hằng đi tuần trong đất, và với
những người đó sẽ có người chôn những thây còn lại trên mặt đất để làm cho
sạch; qua khỏi bảy tháng, họ sẽ đi tìm kiếm.
15. Vậy nếu nó đi tuần
trong đất, thấy những xương người ta, thì dựng tiêu chí một bên, cho đến
chừng nào những kẻ chôn đã chôn những xương ấy trong đồng trũng của đảng
Gót.
16. Cũng sẽ có một thành được gọi tên là Ðảng. Ấy người ta sẽ làm
sạch trong đất như vậy.
17. Hỡi con người, Chúa Giê-hô-va phán như vầy:
Hãy nói cùng cả loài chim và hết thảy các loài thú đồng rằng: Hãy nhóm
lại, hãy từ bốn phương đến vì một của lễ mà ta dọn cho bay, tức là một của
lễ lớn trên các núi Y-sơ-ra-ên, để bay được ăn thịt và uống huyết.
18.
Bay sẽ ăn thịt của người mạnh bạo, uống huyết của các quan trưởng trong
thiên hạ, những chiên đực, chiên con, dê đực, bò đực mập của
Ba-san.
19. Bay sẽ ăn mỡ cho no, uống huyết cho say, trong hi sinh mà
ta giết cho bay.
20. Nơi bàn ta, bay sẽ ăn no những ngựa và xe trân,
những người mạnh bạo, và mọi lính chiến, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
21.
Ta sẽ tỏ sự vinh hiển ta ra trong các nước; hết thảy các dân tộc sẽ thấy
sẽ đoán xét ta làm ra, và tay ta đặt trên chúng nó.
22. Từ ngày đó về
sau, nhà Y-sơ-ra-ên sẽ biết ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của mình.
23.
Bấy giờ các dân tộc sẽ biết rằng nhà Y-sơ-ra-ên đã bị đem đi làm phu tù vì
cớ tội lỗi nó, vì cớ nó đã phạm tội nghịch cùng ta. Ấy vì vậy mà ta giấu
mặt ta khỏi chúng nó, mà ta đã phó chúng nó trong tay những kẻ nghịch thù,
và chúng nó chết hết thảy bởi gươm.
24. Ta sẽ đãi chúng nó như vầy, vì
cớ sự ô uế và tội ác chúng nó, và ta đã che mặt khỏi chúng nó.
25. Vậy
nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nay ta sẽ đem những kẻ phu tù của
Gia-cốp trở về; ta sẽ thương xót cả nhà Y-sơ-ra-ên, và vì danh thánh ta mà
nổi ghen.
26. Chúng nó sẽ mang xấu hổ và mắc tội lỗi về mọi tội lỗi mà
chúng nó đã phạm nghịch cùng ta, khi chúng nó sẽ ở yên trong đất mình,
không lo sợ ai hết.
27. Là khi ta sẽ đem chúng nó về từ giữa các dân và
thâu lại khỏi các đất của kẻ thù chúng nó, thì ta sẽ được tỏ ra thánh bởi
chúng nó ở trước mắt nhiều nước.
28. Chúng nó sẽ biết rằng ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của mình, là khi ta đã đày chúng nó làm phu tù
giữa các nước rồi, và đã thâu chúng nó lại đến đất của mình, chẳng để sót
một kẻ nào ở đó.
29. Ta sẽ không che mặt khỏi chúng nó nữa, vì ta sẽ đổ
Thần ta trên nhà Y-sơ-ra-ên, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 40
chọn
đoạn khác
1. Năm thứ hai mươi lăm sau khi chúng ta bị làm phu tù, đầu
năm, ngày mồng mười trong tháng, tức là mười bốn năm sau khi Giê-ru-sa-lem
bị hãm, cũng trong ngày ấy, tay của Ðức Giê-hô-va đặt trên ta; và Ngài đem
ta vào trong thành ấy.
2. Trong các sự hiện thấy của Ðức Chúa Trời,
Ngài đem ta vào đất Y-sơ-ra-ên, và đặt ta trên một hòn núi rất cao, trên
núi đó, về phía nam, dường như có sự xây cất một thành.
3. Khi Ngài đã
dắt ta vào đó, ta thấy một người hình dáng như người bằng đồng. Người ấy
cầm trong tay một sợi dây gai và một cái cần để đo, đứng nơi hiên
cửa.
4. Người bảo ta rằng: Hỡi con người, hãy lấy mắt xem, lấy tai
nghe, và để lòng vào những việc mà ta sẽ tỏ ra cho ngươi; vì ấy là để cho
ngươi thấy cả, mà đem ngươi đến đây. Vậy mọi đều ngươi sẽ thấy, khá thuật
lại cho nhà Y-sơ-ra-ên biết.
5. Nầy, có một cái tường ngoài bao chung
quanh nhà. Người ấy cầm trong tay một cái cần để đo, dài sáu cu-đê, mỗi
cu-đê dài hơn cu-đê thường một gang tay. Người đo bề rộng của tường là một
cần, và bề cao là một cần.
6. Kế đó, người đi đến nơi hiên cửa phía
đông, bước lên những cấp, đặng đo ngạch hiên cửa, bề rộng một cần; ngạch
khác cũng rộng một cần.
7. Mỗi phòng dài một cần và rộng một cần. Giữa
các phòng, có một khoảng hở năm cu-đê; ngạch của hiên cửa trong, gần bên
nhà ngoài hiên cửa ấy, rộng một cần.
8. Người đo nhà ngoài của hiên
cửa, về phía trong, cũng một cần.
9. Người đo nhà ngoài của hiên cửa,
có tám cu-đê, và những cột nó hai cu-đê; ấy là nhà ngoài của hiên cửa về
phía trong.
10. Những phòng của hiên cửa phía đông mỗi bên ba cái, cả
ba lớn đồng nhau, và các cột mỗi bên đo bằng nhau.
11. Người đo bề rộng
của lỗ hiên cửa, có mười cu-đê, và bề dài mười ba cu-đê.
12. Trước các
phòng mỗi bên có một cái câu lơn một cu-đê; và mỗi phòng một bề có sáu
cu-đê, bề kia cũng sáu cu-đê.
13. Người đo hiên cửa, từ mái của phòng
nầy đến mái của phòng khác là hai mươi lăm cu-đê bề ngang, từ cửa nầy đến
cửa kia.
14. Ðoạn, người tính các cột là sáu mươi cu-đê, gần các cột ấy
có hàng lang bao lấy hiên cửa.
15. Khoảng hở giữa cửa vào và nhà ngoài
của cửa trong là năm mươi cu-đê
16. Nơi các phòng và những cột nó, nơi
phía trong hiên cửa, cả đến các nhà ngoài, thảy đều có những cửa sổ chấn
song. Nơi phía trong, cả chung quanh có những cửa sổ, và trên các cột có
những hình cây kè.
17. Rồi đó, người dẫn ta vào nơi hành lang ngoài;
nầy, tại đó có những phòng, và có nền lót đá chung quanh hành lang; trên
nền lót đá ấy có ba mươi cái phòng.
18. Nền lót đá ở bốn phía hiên cửa,
và bề dài bằng hiên cửa ấy là nền lót đá dưới.
19. Người đo bề ngang từ
phía trước hiên cửa dưới cho đến mép hành lang trong, là một trăm cu-đê,
phía đông và phía bắc cũng vậy.
20. Người lại đo bề dài và bề ngang của
hiên cửa phía bắc thuộc về hành lang ngoài.
21. Những phòng của nó mỗi
bên ba cái, các cột và nhà ngoài cũng đồng cỡ với của hiên cửa thứ nhứt:
năm mươi cu-đê bề dài và hai mươi lăm cu-đê bề ngang.
22. Những cửa sổ,
nhà ngoài và hình cây kè của nó cũng đồng cỡ với của hiên cửa phía đông;
có bảy cấp bước lên, cái nhà ngoài ở ngay trước các cấp ấy.
23. Ðối với
hiên cửa phía bắc và hiên cửa phía đông thì có hiên cửa hành lang trong.
Từ hiên cửa nầy đến hiên cửa khác độ một trăm cu-đê.
24. Rồi đó, người
dắt ta qua phòng nam, nầy, tại đó có hiên cửa hướng nam; người đo các cột
và các nhà ngoài, cũng đồng cỡ nhau.
25. Hiên cửa ấy có những cửa sổ
giống như những cửa sổ trước bao bọc lấy, các nhà ngoài cũng vậy; bề dài
của hiên cửa nầy là năm mươi cu-đê, và bề ngang hai mươi lăm cu-đê.
26.
Có bảy cấp bước lên, ngay trước các cấp ấy có một cái nhà ngoài; mỗi phía
có những hình cây kè trên các cột.
27. Hành lang trong có một cái hiên
cửa hướng nam, người ấy đo từ hiên cửa nầy đến hiên cửa khác, về phía nam,
một trăm cu-đê.
28. Ðoạn người đem ta vào hành lang trong do hiên cửa
phía nam; người đo hiên cửa phía nam, có đồng một cỡ.
29. Những phòng,
những cột, và những nhà ngoài của nó cũng đồng cỡ nhau. Hiên cửa nầy có
những cửa sổ bao bọc lấy, các nhà ngoài nó cũng vậy; bề dài nó là năm mươi
cu-đê, và bề ngang hai mươi lăm cu-đê.
30. Cả chung quanh có nhà ngoài,
bề dài hai mươi lăm cu-đê, bề ngang năm cu-đê.
31. Các nhà ngoài của
hiên cửa ở về phía hành lang ngoài; có những hình cây kè ở trên các cột
nó, và có tám cấp bước lên.
32. Kế đó, người ấy dắt ta vào hành lang
trong về phía đông; người đo hiên cửa đó cũng đồng một cỡ. Những phòng,
những cột, và nhà ngoài của nó cũng đồng một cỡ, và hiên cửa nầy có những
cửa sổ bao bọc lấy, các nhà ngoài cũng vậy.
33. Hành lang dài năm mươi
cu-đê, rộng hai mươi lăm cu-đê.
34. Các nhà ngoài của hiên cửa nầy ở về
phía hành lang ngoài; mỗi phía có hình cây kè trên các cột, và có tám cấp
bước lên.
35. Ðoạn người ấy đem ta vào trong hiên cửa phía bắc; người
đo hiên cửa, cũng đồng một cỡ,
36. những phòng, những cột, và những nhà
ngoài nó cũng vậy; lại có những cửa sổ khắp chung quanh. Hiên cửa nầy bề
dài năm mươi cu-đê, rộng hai mươi lăm cu-đê.
37. Những nhà ngoài của nó
ở về phía hành lang ngoài; mỗi phía có những hình cây kè trên các cột, và
có tám cấp bước lên.
38. Có một cái phòng mà cửa nó ở gần các cột của
hiên cửa, ấy người ta rửa các của lễ thiêu ở đó.
39. Trong nhà ngoài
của hiên cửa mỗi phía có hai cái bàn, trên đó người ta giết những con sinh
về của lễ thiêu, về của lễ chuộc sự mắc lỗi, và về của lễ chuộc
tội.
40. Về phía ngoài, tại chỗ cũng lên, hướng về hiên cửa phía bắc,
có hai cái bàn; bên kia, về phía nhà ngoài của hiên cửa, cũng có hai cái
bàn.
41. Như vậy, bốn cái bàn ở bên nầy hiên cửa, và bốn cái bàn ở bên
kia, cọng là tám cái; trên các bàn đó người ta giết những con sinh.
42.
Lại có bốn cái bàn bằng đá vuông để dùng về của lễ thiêu, dài một cu-đê
rưỡi, rộng một cu-đê rưỡi, cao một cu-đê. Người ta để trên đó những khí cụ
dùng mà giết con sinh về của lễ thiêu và các của lễ khác.
43. Có những
móc rộng bằng lòng bàn tay cắm cùng bốn phía tường; thịt tế phải để trên
các bàn.
44. Phía ngoài hiên cửa trong, có những phòng để cho kẻ hát
nơi hành lang trong, kề hiên cửa phía bắc, ngó về phía nam. Lại một cái
phòng nữa ở về phía hiên cửa đông, ngó về phía bắc.
45. Người ấy bảo ta
rằng: Cái phòng ngó qua phía nam là để cho các thầy tế lễ giữ nhà;
46.
cái phòng ngó qua phía bắc để cho các thầy tế lễ giữ bàn thờ. Ấy là các
con trai của Xa-đốc, tức là trong vòng các con trai Lê-vi, đến gần Ðức
Giê-hô-va đặng hầu việc Ngài.
47. Ðoạn người đo hành lang vuông, có một
trăm cu-đê bề dài và một trăm cu-đê bề ngang. Bàn thờ thì ở trước mặt
nhà.
48. Kế đó người đem ta vào nhà ngoài của nhà, và người đo các cột
ở đó, bên nầy năm cu-đê, bên kia năm cu-đê; bề ngang của hiên cửa bên nầy
ba cu-đê, bên kia ba cu-đê.
49. Nhà ngoài có hai mươi cu-đê bề dài, và
mười một cu-đê bề ngang; có những cấp bước lên, kề các cột lại có hai cây
trụ, bê nầy một cây, bên kia một cây.
Ê-xê-chi-ên 41 chọn
đoạn khác
1.
Ðoạn người đem ta vào trong đền thờ, và người đo các cột ở đó. Các cột có
sáu cu-đê bề ngang về bên nầy, và sáu cu-đê về bên kia: cũng bằng bề ngang
của đền tạm thuở xưa vậy.
2. Bề ngang của cửa vào là mười cu-đê: năm
cu-đê bê nầy, năm cu-đê bên kia. Người đo bề dài: bốn mươi cu-đê; và bề
ngang: hai mươi cu-đê.
3. Người vào bên trong, đo các cột chỗ cửa vào:
hai cu-đê; bề cao của cửa: sáu cu-đê; bề ngang của cửa: bảy cu-đê.
4.
Người đo phía trong cùng, bề dài hai mươi cu-đê, bề ngang hai mươi cu-đê,
và bảo ta rằng: Chính là chỗ rất thành đây.
5. Rồi người đo tường nhà:
sáu cu-đê; bề ngang của những phòng bên hông khắp chung quanh nhà: bốn
cu-đê.
6. Những phòng bên hông có ba tầng, mỗi tầng ba mươi phòng;
những phòng ấy giáp với một cái tường xây chung quanh nhà, khá dựa vào đó
mà không gác lên trên tường nhà.
7. Nhà cầu càng cao càng rộng, vì
tường chung quanh nhà càng cao càng hẹp, cho nên nhà cũng càng cao càng
rộng. Người ta đi lên từ tầng dưới đến tầng trên do tầng giữa.
8. Ta
thấy cả cái nhà nằm trên một cái nầy cao trọn một cần, nghĩa là sáu cu-đê
lớn, nền của các phòng bên hông cũng vậy.
9. Bề dày của tường ngoài về
các phòng bên hông là năm cu-đê; cái tường ấy lò ra bởi nền của nhà bên
hông nhà.
10. Khoảng trống ở giữa các phòng bên hông nhà và các phòng
khác rộng là hai mươi cu-đê khắp chung quanh nhà.
11. Những cửa của các
phòng bên hông mở ra nơi đất không: một lối vào ở phía bắc, một lối phía
nam; về bề ngang của chỗ đó đều là năm cu-đê.
12. Cái nhà ở về trước
khoảng đất biệt riêng, hướng tây, rộng là bảy mươi cu-đê; tường bao quanh
nhà ấy dày năm cu-đê, dài chín mươi cu-đê.
13. Ðoạn, người đo nhà, dài
một trăm cu-đê; khoảng đất biệt riêng, nhà, và các tường cũng dài một trăm
cu-đê.
14. Bề ngang của mặt nhà, với khoảng đất biệt riêng về phía
đông, là một trăm cu-đê.
15. Kế đó, người đo bề dài của các nhà ở trước
mặt khoảng đất biệt riêng trên chỗ đằng sau, và các nhà cầu của mỗi bên:
lại là một trăm cu-đê. Ðền thờ, về phía trong, các nhà ngoài của hành
lang,
16. các ngạch cửa, các cửa sổ chấn song, các nhà cầu chung quanh,
cùng ba tần phía trước các ngạch cửa, thảy đều lợp lá mái bằng ván. Từ đất
đến các cửa sổ đều đóng lại,
17. trên cửa, bên trong và bên ngoài đền
thờ, khắp tường chung quanh, bề trong và bề ngoài đều có đo cả.
18.
Người ta đã chạm những chê-ru-bin và những hình cây kè, một hình cây kè ở
giữa hai chê-ru-bin; mỗi chê-ru-bin có hai mặt,
19. một mặt người ta
xây bên nầy hướng về hình cây kè, một mặt sư tử tơ xây bên kia hướng về
hình cây kè, khắp cả nhà đều chạm như vậy.
20. Từ đất đến trên cửa, có
những chê-ru-bin và những cây kè chạm, trên tường đền thờ cũng vậy.
21.
Khuôn cửa của đền thờ hình vuông, và mặt trước của nơi thánh cũng đồng một
hình như hình trước cửa đền thờ.
22. Cái bàn thờ thì bằng gỗ, cao ba
cu-đê, dài hai cu-đê. Những góc, mặt, và những cạnh của bàn thờ đều bằng
gỗ. Người ấy bảo ta rằng: Nầy là cái bàn ở trước mặt Ðức Giê-hô-va.
23.
Ðền thờ và nơi thành có hai cửa;
24. mỗi cửa có hai cánh khép lại được,
cửa nầy hai cánh, cửa kia hai cánh.
25. Có những chê-ru-bin và những
cây kè chạm trên cửa đền thờ, cũng như trên tường. Trên phía trước cửa
bằng gỗ.
26. Cũng có những cửa sổ chấn song, những hình cây kè ở bên
nầy bên kia, nơi bốn phía ngoài, nơi các phòng bên hông đền và nơi ngạch
cửa.
Ê-xê-chi-ên 42
chọn
đoạn khác
1. Ðoạn người dắt ta vào hành lang ngoài,
về phía bắc, và đem ta vào trong Cái phòng ở trước mặt khoảng đất biệt
riêng, đối với nhà hướng bắc.
2. Trên trước mặt là nơi có cửa vào bề
phía bắc, những phòng ấy choán bề dài một trăm cu-đê, bề ngang năm mươi
cu-đê.
3. Các phòng đối nhau, trên một bề dài hai mươi cu-đê, nơi hành
lang trong, đối với nền lót đã của hành lang ngoài, tại đó có những nhà
cầu ba tầng.
4. Phía trước các phòng có đường đi rộng mười cu-đê, và
phía trong có một con đường rộng một cu-đê; những cửa phòng đều xây về
phía bắc.
5. Những phòng trên hẹp hơn những phòng dưới và những phòng
giữa, vì các nhà cầu choán chỗ của những phòng trên.
6. có ba tầng,
song không có cột như cột của hành lang; cho nên những phòng trên và những
phòng giữa hẹp hơn những phòng dưới.
7. Bức tường ngoài đi dọc theo các
phòng về hướng hành lang ngoài, trước mặt các phòng, có năm mươi cu-đê bề
dài;
8. vì bề dài của các phòng trong hành lang ngoài là năm mươi
cu-đê, còn về trước mặt đền thờ thì có một trăm cu-đê.
9. Dưới các
phòng ấy, về phía đông, có một cửa vào cho những người từ hành lang ngoài
mà đến.
10. Cũng có những phòng trên bề ngang tường hành lang, về phía
đông, ngay trước mặt khoảng đất biệt riêng và nhà.
11. Có một con đường
trước các phòng ấy, cũng như trước các phòng phía bắc; hết thảy các phòng
ấy bề dài bề ngang bằng nhau, đường ra lối vào và hình thế cũng giống
nhau.
12. Các cửa phòng phía nam cũng đồng như vậy. Nơi vào con đường,
trước mặt tường phía đông đối ngay, có một cái cửa, người ta vào bởi
đó.
13. Bấy giờ người bảo ta rằng: Các phòng phía bắc và các phòng phía
nam, ngay trước khoảng đất biệt riêng, là những phòng thánh, là nơi các
thầy tế lễ gần Ðức Giê-hô-va ăn những vật rất thánh. Các thầy ấy sẽ để đó
những vật rất thánh, của lễ chay, của lễ chuộc sự mắc lỗi, và của lễ chuộc
tội; vì nơi đó là thánh.
14. Khi các thầy tế lễ đã vào đó rồi, không
cởi tại đó những áo mình mặc mà hầu việc, thì không được từ nơi thánh ra
đặng đi đến nơi hành lang ngoài nữa, vì những áo ấy là thánh, các thầy ấy
phải thay áo khác đặng đến gần nơi dân sự.
15. Sau khi đã đo phía trong
nhà xong rồi, người đem ta ra bởi hiên cửa phía đông, rồi người đo quanh
vòng tròn.
16. Người dùng cần đo phía đông, có năm trăm cần.
17.
Người đo phía bắc bằng cái cần dùng để đo, có năm trăm cần.
18. Người
đo phía nam bằng cái cần dùng để đo, có năm trăm cần.
19. Người trở qua
phía tây để đo, có năm trăm cần.
20. Người đo bốn phía tường bao chung
quanh nhà, bề dài là năm trăm cần, bề rộng là năm trăm. Tường nầy dùng để
phân biệt nơi thánh với nơi tục.
Ê-xê-chi-ên 43 chọn
đoạn khác
1. Rồi người dắt
ta vào hiên cửa, tức là hiên cửa phía đông.
2. Ta thấy vinh quang của
Ðức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên từ phương đông mà đến. Tiếng Ngài giống như tiếng
nước lớn, và đất sáng rực vì vinh quang Ngài.
3. Sự hiện thấy mà ta
thấy bấy giờ, giống như sự hiện thấy đã hiện ra cho ta khi ta đến đặng hủy
diệt thành nầy. Ấy là những sự hiện thấy giống như sự hiện thấy mà ta đã
thấy trên bờ sông Kê-ba, và ta sấp mặt xuống.
4. Vinh quang của Ðức
Giê-hô-va vào trong nhà do hiên cửa hướng đông.
5. Thần cất ta lên và
đem ta vào nơi hành lang trong; và, nầy, vinh quang của Ðức Giê-hô-va đầy
nhà.
6. Ta nghe có ai nói với ta từ trong nhà; có một người đứng gần
bên ta.
7. Người nói cùng ta rằng: Hãy con người, đây là nơi đặt ngai
ta, là nơi để bàn chơn ta, tại đây ta sẽ ở đời đời giữa con cái
Y-sơ-ra-ên. Từ nay về sau, không cứ là nhà Y-sơ-ra-ên, là các vua nó, cũng
sẽ không phạm đến danh thánh ta nữa, bởi sự hành dâm chúng nó, và bởi
những xác chết của các vua chúng nó trên các nơi cao;
8. vì chúng nó đã
đặt ngạch cửa của nơi thánh mình gần ngạch cửa ta, đặt trụ cửa của mình
gần trụ cửa ta, cho đến nỗi giữa ta và chúng nó chỉ có cái tường mà thôi.
Ấy vậy chúng nó đã làm ô uế danh thánh ta bởi những sự gớm ghiếc mà chúng
nó đã phạm; nên ta giận mà tuyệt diệt chúng nó đi.
9. Bây giờ chúng nó
khá bỏ sự hành dâm mình và những xác chết của vua mình cách xa ta, thì ta
sẽ ở giữa chúng nó đời đời.
10. Hỡi con người, khá cho nhà Y-sơ-ra-ên
biết nhà nầy, hầu cho chúng nó xấu hổ về tội lỗi mình. Chúng nó khá đo
theo kiểu nó.
11. Khi chúng nó hổ thẹn về mọi điều mình đã làm, ngươi
khá giơ hình nhà nầy ra cho chúng nó, là những hình thế, đường ra, lối
vào, hết thảy các hình trạng, hết thảy những mạng lịnh nó, hình nó, và hết
thảy luật lệ nó. Hãy viết mà tả ra mọi điều đó trước mặt chúng nó, hầu cho
chúng nó giữ lấy cả hình nó và cả lệ luật nó để làm theo.
12. Nầy là
luật của nhà: Cả châu vi nó ở trên chót núi, là nơi rất thánh. Ấy là luật
của nhà như vậy.
13. Nầy là mực thước của bàn thờ, bằng cu-đê mà mỗi
cu-đê dài hơn cu-đê thường một gang tay. Cái nền cao một cu-đê, và rộng
một cu-đê, cái lợi vòng quanh theo nó cao một gang; đó là cái đế bàn
thờ.
14. Từ cái nền ngang mặt đất cho đến cái khuôn dưới, có hai cu-đê,
với cái lợi một cu-đê. Từ khuôn nhỏ cho đến khuôn lớn là bốn cu-đê, với
cái lợi một cu-đê.
15. Mặt bàn thờ có bốn cu-đê, và từ mặt bàn thờ mọc
lên bốn cái sừng.
16. Mặt bàn thờ có mười hai cu-đê bề dài và mười hai
cu-đê bề ngang, sẽ là vuông.
17. Khuôn giữa, hoặc bề dài hoặc bề ngang,
bốn phía mỗi phía đều có mười bốn cu-đê; có một cái lợi chung quanh nửa
cu-đê; và một cái nền một cu-đê, những cấp của nó sẽ xây về phía
đông.
18. Người nói cùng ta rằng: Hỡi con người, Chúa Giê-hô-va phán
như vầy: Nầy là các luật về bàn thờ, vừa ngày nó đã được xây xong đặng
người ta có thể dâng của lễ thiêu và làm lễ rưới huyết trên đó.
19.
Chúa Giê-hô-va phán: Các thần tế lễ họ Lê-vi về dòng Xa-đốc, đến gần ta
đặng hầu việc ta, ngươi khác cho họ một con bò đực tơ đặng họ làm lễ chuộc
tội.
20. Ngươi khá lấy huyết nó bôi trên bốn sừng bàn thờ và bốn góc
khuôn, và trên lợi vòng theo, đặng làm sạch bàn thờ và làm lễ chuộc tội
cho nó.
21. Ngươi khá đem con bò đực dâng làm lễ chuộc tội mà đốt đi
trong nơi định sẵn của nhà, ở ngoài nơi thánh.
22. Ngày thứ hai, ngươi
khá dâng một con dê đực không tì vít vì lễ chuộc tội, vì sự làm sạch bàn
thờ, như đã dùng bò đực mà làm sạch vậy.
23. Khi ngươi đã xong sự làm
sạch, thì khá dâng một con bò đực tơ không tì vít, và một con chiên đực
không tì vít, bắt ra từ trong bầy.
24. Ngươi sẽ đem hai vật đó gần
trước mặt Ðức Giê-hô-va, các thầy tế lễ rưới muối lên, và dâng làm của lễ
thiêu cho Ðức Giê-hô-va.
25. Thẳng bảy ngày, mỗi ngày ngươi khá sắm một
con dê đực, để làm lễ chuộc tội; và sắm một con bò đực tơ, một con chiên
đực không tì vít, bắt ra từ trong bầy.
26. Thẳng bảy ngày, phải làm lễ
chuộc tội cho bàn thờ, phải làm sạch nó, biệt nó riêng ra thánh.
27.
Sau những ngày ấy qua rồi, từ ngày thứ tám trở đi, khi các thầy tế lễ sẽ
dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân của các ngươi trên bàn thờ ấy, thì ta
sẽ nhậm cho, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 44 chọn
đoạn khác
1.
Ðoạn người đem ta đến hiên cửa ngoài của nơi thánh, ngó về phía đông. Cửa
ấy vẫn đóng.
2. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng ta rằng: Hiên cửa nầy sẽ
đóng luôn không mở nữa. Chẳng ai được vào bởi hiên cửa nầy, vì Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã vào bởi đó; vậy cửa ấy sẽ đóng lại.
3.
Chỉ có vua, vì người là vua, thì có thể đến ngồi tại đó đặng ăn bánh trước
mặt Ðức Giê-hô-va. Vua sẽ vào bởi nhà ngoài của hiên cửa, và cũng ra bởi
đường ấy.
4. Rồi người dắt ta bởi hiên cửa phía bắc đến trước nhà. Ta
nhìn xem, và nầy, vinh quang của Ðức Giê-hô-va đầy dẫy nhà Ðức Giê-hô-va,
thì ta sấp mặt xuống.
5. Bấy giờ Ðức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hỡi
con người, khá chú ý kĩ càng; lấy mắt ngó và lấy tai nghe mọi điều ta sẽ
phán cùng ngươi, về mọi mạng lịnh mọi lệ luật của nhà Ðức Giê-hô-va. Hãy
cẩn thận coi sóc lối vào của nhà, và hết thảy các đường ra của nơi
thánh.
6. Ngươi khá nói cùng kẻ bạn nghịch tức là nhà Y-sơ-ra-ên rằng:
Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, mọi sự đáng gớm ghiếc của
các ngươi đã đủ rồi.
7. Các ngươi đã dắt những con cái dân ngoại, là
những kẻ không cắt bì bề lòng chúng nó cũng như về thịt chúng nó, vào
trong nơi thánh ta đặng làm ô uế nhà ta, khi các ngươi dâng bánh, mỡ và
huyết của ta; như vậy các ngươi đã phạm lời giao ước ta bởi mọi sự gớm
ghiếc của các ngươi.
8. Chính các ngươi không giữ vật thánh ta; nhưng
các ngươi đã lập người khác thay mình mà giữ vật thánh ta trong nơi thánh
ta.
9. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Chẳng có một người ngoại nào không
cắt bì về lòng nó cũng như về thịt nó mà được vào trong nơi thánh ta;
không, chẳng có một người ngoài nào ở giữa con cái Y-sơ-ra-ên được vào
đó.
10. Vả lại, khi dân Y-sơ-ra-ên lầm lạc, thì những người Lê-vi đã đi
cách xa ta, bỏ ta đặng hầu việc thần tượng nó, sẽ mang tội lỗi
mình.
11. Dầu vậy, chúng nó sẽ hầu việc trong nơi thánh ta, làm kẻ giữ
cửa nhà, sẽ hầu việc nơi nhà, sẽ vì dân sự giết những con sinh định làm
của lễ thiêu và các của lễ khác, sẽ đứng trước mặt dân sự đặng hầu việc
nó.
12. Vì chúng nó đã hầu việc dân sự trước mặt những thần tượng của
nó, và đã nên dịp tội cho nhà Y-sơ-ra-ên; vì cớ đó, ta đã giơ tay lên
nghịch cùng chúng nó, vậy chúng nó sẽ mang tội lỗi mình, Chúa Giê-hô-va
phán vậy.
13. Chúng nó sẽ không đến gần ta đặng làm trọn các công việc
thầy tế lễ trước mặt ta. Chúng nó sẽ không đến gần vật thánh nào của ta,
hãy vật rất thánh; song sẽ mang sự nhuốc nha và những sự gớm ghiếc mình đã
phạm.
14. Nhưng mà ta sẽ lập chúng nó lên đặng coi giữ nhà, đặng làm
trọn chức vụ và mọi công việc cần trong đó.
15. Ðến như các thầy tế lễ
họ Lê-vi, con cháu của Xa-đốc, còn coi giữ nơi thánh ta khi con cái
Y-sơ-ra-ên lầm lạc cách xa ta, những kẻ đó sẽ gần ta đặng hầu việc, sẽ
đứng trước mặt ta đặng dâng mỡ và huyết, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
16.
Ấy là những kẻ sẽ vào nơi thánh ta, đến gần nơi bàn ta đặng hầu việc ta,
và giữ vật ta.
17. Khi chúng nó vào bởi các cửa của hành lang trong,
thì sẽ mặt áo bằng gai; chúng nó sẽ không mặc đồ bằng lông chiên trong khi
hầu việc nơi các hiên cửa của hành lang và nơi nhà.
18. Chúng nó sẽ đội
khăn bằng gai trên đầu và mặc quần đùi bằng gai nơi lưng, thứ vải nào hay
đổ mồ hôi thì không mặc lấy.
19. Nhưng khi chúng nó đi qua nơi hành
lang ngoài, là nơi dân sự đứng, thì phải cởi áo xống hầu việc, để trong
các phòng thánh, và mặc áo khác, hầu cho không lấy áo mình làm cho dân sự
nên thánh.
20. Chúng nó sẽ không cạo đầu, và không để tóc dài, những sẽ
cắt tóc.
21. Chẳng có thầy tế lễ nao được uống rượu khi vào nơi hành
lang trong.
22. Chúng nó không được lấy đờn bà góa hoặc bị để mà làm
vợ; nhưng phải lấy gái đồng trinh về dòng nhà Y-sơ-ra-ên, hay là lấy vợ
góa của một thầy tế lễ.
23. Chúng nó sẽ dạy dân ta phân biệt điều chi
là thánh với điều chi là tục; làm cho dân ta biết điều ô uế và điều thánh
sạch khác nhau là thể nào.
24. Khi có sự kiện xảy đến, chúng nó phải xử
đoán, và phải xử đoán theo mạng lịnh ta; chúng nó sẽ vâng giữ các luật
pháp ta và các lệ luật ta trong mọi kỳ lễ của ta, và làm cho các ngày
sa-bát ta nên thánh.
25. Chẳng có một ai trong chúng nó được đến gần
thây kẻ chết, e bị ô uế chăng; song le, thầy tế lễ có thể bị ô uế vì cha
mình, vì mẹ mình, vì một người anh em, hay là vì một người chị em không
chồng.
26. Sau sự được sạch, sẽ kể là bảy ngày.
27. Cái ngày mà thầy
tế lễ ấy sẽ vào trong nơi thánh, trong hành lang trong, đặng hầu việc tại
đó, thì phải dâng của lễ chuộc tội mình, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
28.
Còn như gia tài để dành cho chúng nó, thì chính ta là gia tài của chúng nó
đây. Các ngươi chớ cho chúng nó sản nghiệp gì trong Y-sơ-ra-ên; chính ta
là sản nghiệp chúng nó.
29. Chúng nó sẽ nuôi mình bằng những của lễ
chay, của lễ chuộc sự mắc lỗi, và của lễ chuộc tội; lại hễ vật chi khấn
dâng bởi trong dân Y-sơ-ra-ên thì sẽ thuộc về chúng nó.
30. Các hoa quả
đầu mùa của mọi thứ sản vật, cùng hết thảy của lễ chay mà các ngươi dâng,
đều sẽ thuộc về thầy tế lễ. Các ngươi cũng sẽ cho các thầy tế lễ bột nhồi
đầu mình của mình, hầu làm cho sự chúc phước yên nghỉ nơi nhà các
ngươi.
31. Các thầy tế lễ không nên ăn thịt của một con thú nào chết tự
nhiên, hay là bị xé, hoặc thịt chim, hoặc thịt thú.
Ê-xê-chi-ên 45
chọn
đoạn khác
1. Khi các ngươi bắt thăm mà chia xứ ra làm sản nghiệp, khá
lấy trước một phần của đất mà dâng cho Ðức Giê-hô-va, phần ấy sẽ là thánh.
Bề dài nó sẽ là hai mươi lăm ngàn cần, và bề ngang người ngàn cần; giới
hạn nó đến đâu đều là thánh cả.
2. Trên phần đất ấy, các ngươi khá lấy
một miếng vuông bề dài năm trăm, bề ngang năm trăm, để làm nơi thánh;
chung quanh miếng đất đó sẽ có một khoảng đất trống là năm mươi
cu-đê.
3. Xứ đã đo một lần, vậy các ngươi khá để riêng ra một khoảng
dài hai mươi lăm ngàn và rộng mười ngàn, để đặt nơi thánh, là nơi rất
thánh tại đó.
4. Ấy sẽ là phần thánh của miếng đất ấy; nó sẽ thuộc về
các thầy tế lễ, là kẻ hầu việc nơi thánh, đến gần Ðức Giê-hô-va đặng làm
chức vụ mình. Ðó sẽ là chỗ để xây nhà cho họ, và một chỗ thánh cho nơi
thánh.
5. Một phần khác bề dài hai mươi lăm ngàn, bề ngang mười ngàn,
sẽ thuộc về các người Lê-vi. Các người nầy làm chức vụ trong nhà, sẽ có
được hai mươi cái phòng.
6. Về phần đất thành phố, các ngươi khá lấy
năm ngàn bề ngang, và hai mươi lăm ngàn bề dài; chạy rọc theo phần đất
thánh đã lấy trước; ấy sẽ về phần cả nhà Y-sơ-ra-ên.
7. Ở nơi đất thánh
đã dâng cùng đất dựng thành phố, chỗ bên tả bên hữu đối nhau, sẽ thuộc về
phần vua; phía tây đến giới hạn phía tây của nước, phía đông đến giới hạn
phía đông của nước, bề dài cùng giới hạn đông tây của đất thánh đồng
nhau.
8. Ấy sẽ là phần đất của vua, sản nghiệp của người trong
Y-sơ-ra-ên; và các vua ta sẽ không hòa hiệp dân ta nữa, nhưng các vua sẽ
chia phần còn lại của miếng đất cho trong các chi phái nhà
Y-sơ-ra-ên.
9. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi các vua Y-sơ-ra-ên, thế
đã đủ cho các ngươi rồi! Khá bỏ sự bạo ngược và hà hiếp; làm sự đoán xét
và công bình; hãy giải cứu dân ta khỏi những sự hà lạm của ngươi, Chúa
Giê-hô-va phán vậy.
10. Hãy có những cái cần công bình, cái ê-pha công
bình, cái bát công bình.
11. Cái ê-pha và cái bát phải có sức chứa bằng
nhau; cái bát chứa được một phần mười của hô-me; cái lường của nó sẽ theo
hô-me làm mực.
12. Một siếc-lơ bằng hai mươi ghê-ra; hai mươi siếc-lơ,
cọng với hai mươi lăm siếc-lơ, cọng với mười lăm siếc-lơ, là một
min.
13. Nầy là lễ vật dâng mà các ngươi phải lấy ra trước: mỗi một
hô-me lúa mì lấy một phần sáu ê-pha, mỗi một hô-me mạch nha lấy một phần
sáu ê-pha,
14. còn như dầu và những bát dầu thì mỗi cô-rơ khá lấy trước
một phần mười, một cô-rơ bằng một hô-me mười bát, vì mười bát là một
hô-me.
15. Trong những đồng cỏ đượm nhuần của Y-sơ-ra-ên, mỗi hai trăm
con chiên thì sẽ lấy một chiên con để làm của lễ chay, của lễ thiêu, của
lễ thù ân, đặng làm con sinh chuộc tội cho dân sự, Chúa Giê-hô-va phán
vậy.
16. Hết thảy dân trong xứ sẽ phải lấy trước lễ vật dâng ấy ra dâng
cho vua trong Y-sơ-ra-ên.
17. Nhưng vua khá giữ mà sắm sửa những của lễ
thiêu, của lễ chay, và lễ quán khi ngày lễ, ngày trăng mới, ngày sa-bát,
cùng mọi ngày lễ của nhà Y-sơ-ra-ên. Vua sẽ dâng của lễ chuộc tội, của lễ
chay, của lễ thiêu, và của lễ thù ân, đặng vì nhà Y-sơ-ra-ên làm sự chuộc
tội.
18. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngày mồng một tháng giêng, ngươi
khá lấy một con bò đực tơ không tì vít, và khá làm sạch nơi thánh.
19.
Thầy tế lễ sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc tội mà bôi lên các trụ cửa
nhà, trên bốn góc khuôn bàn thờ, và trên các trụ cổng của hành lang
trong.
20. Ngày mồng bảy tháng ấy, ngươi cũng làm sự đó cho những người
vì lầm lỡ hoặc ngu dại mà phạm tội; ấy các ngươi sẽ làm lễ chuộc tội cho
nhà như vậy.
21. Ngày mười bốn tháng giêng, các ngươi khá giữ lễ
Vượt-qua trong bảy ngày; phải ăn bánh không men.
22. Ngày đó, vua sẽ vì
mình và vì cả dân sự của đất mà sắm một con bò đực làm của lễ chuộc
tội.
23. Trong bảy ngày của kỳ lễ, mỗi ngày vua sẽ sắm bảy con bò đực
và bảy con chiên đực không tì vít làm của lễ thiêu cho Ðức Giê-hô-va thẳng
bảy ngày; và mỗi ngày một con dê đực làm của lễ chuộc tội.
24. Vua cũng
thêm vào đó cứ mỗi con bò đực một ê-pha, mỗi con chiên đực một ê-pha, mỗi
ê-pha một hin dầu đặng làm của lễ chay.
25. Ngày rằm tháng bảy về kỳ
lễ, thẳng trong bảy ngày, vua cũng sẽ sắm những của lễ chuộc tội, của lễ
thiêu, của lễ chay và dầu y như trước.
Ê-xê-chi-ên 46 chọn
đoạn khác
1.
Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Cổng của hành lang trong, ngó về phía đông,
sẽ đóng luôn trong sáu ngày làm việc; nhưng ngày sa-bát thì sẽ mở, và ngày
trăng mới cũng sẽ mở.
2. Vua sẽ đến nơi đó do cổng nhà ngoài, và đứng
gần trụ cổng trong khi các thầy tế lễ sắm của lễ thiêu và của lễ thù ân.
Vua sẽ lạy trên ngạch hiên cửa, rồi, bước ra, và cửa sẽ không đóng lại
trước khi chiều tối.
3. Những ngày sa-bát và ngày trăng mới, dân sự của
đất sẽ thờ lạy trước mặt Ðức Giê-hô-va nơi lối vào hiên cửa ấy.
4. Của
lễ thiêu mà vua sẽ dâng cho Ðức Giê-hô-va nơi ngày sa-bát là sáu con chiên
con không tì vít.
5. Của lễ chay sẽ là một ê-pha theo con chiên đực,
còn về các chiên con thì vua muốn dâng chi tùy sức, và mỗi ê-pha đèo một
hin dầu.
6. Ngày trăng mới, vua sẽ sắm một con bò đực tơ không tì vít,
sáu con chiên con và một con chiên đực cũng phải cho không tì vít.
7.
Về của lễ chay, vua sẽ sắm một ê-pha theo con bò đực, một ê-pha theo con
chiên đực, còn về các chiên con thì vua dâng chi tùy sức, và mỗi ê-pha đèo
một hin dầu.
8. Khi vua vào, thì do đường thuộc về nhà ngoài của cổng
mà qua, và cũng sẽ ra theo đường ấy.
9. Khi dân sự của đất vào đặng
chầu trước mặt Ðức Giê-hô-va nơi kỳ lễ, thì hễ kẻ nào vào bởi đường cổng
phía bắc mà thờ lạy, sẽ ra bởi đường cổng phía nam; còn kẻ nào vào bởi
đường cổng phía nam, sẽ ra bởi đường cổng phía bắc: không được trở ra bởi
đường cổng mà mình đã vào, những phải ra thẳng trước mặt mình.
10. vua
sẽ vào cùng với dân sự một lúc; và khi ai nấy ra thì chính vua cũng
ra.
11. Trong các kỳ lễ và các ngày lễ trọng thể, của lễ chay sẽ là một
ê-pha theo con bò đực, và về các chiên con thì vua muốn dâng chi tùy sức,
mỗi một ê-pha đèo một hin dầu.
12. Khi vua sắm cho Ðức Giê-hô-va một
của lễ lạc hiến (của lễ thiêu hoặc của lễ thù ân), thì sẽ mở cổng hướng
đông cho người, và người khá sắm của lễ thiêu mình và những của lễ thù ân
mình như người sắm các của lễ ấy trong ngày sa-bát; đoạn người trở lui, và
khi đã ra rồi khá đóng cổng lại.
13. Mỗi ngày ngươi khá sắm cho Ðức
Giê-hô-va một con chiên con giáp năm, không tì vít, vào mỗi buổi
mai.
14. Mỗi buổi mai ngươi khá sắm theo chiên con một phần sáu ê-pha
với một phần ba hin dầu để hòa bột, là của lễ chay. Của lễ chay dâng cho
Ðức Giê-hô-va hằng ngày theo lệ luật đời đời.
15. Hết thảy những buổi
mai, người ta sẽ sắm chiên con, của lễ chay, và dầu, làm của lễ thiêu mãi
mãi.
16. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khi vua lấy vật chi mà ban cho
một trong các con trai mình, thì vật ấy sẽ thuộc về các con trai người làm
gia tài; ấy là thuộc về chúng nó bởi quyền ăn gia tài.
17. Nhưng nếu
vua lấy vật chi của sản nghiệp mình mà ban cho một trong các đầy tớ mình,
thì vật ấy sẽ thuộc về kẻ đầy tớ cho đến năm phóng mọi; rồi thì vật ấy trở
về vua. Cơ nghiệp của vua thì phải thuộc về các con trai người.
18. Vua
chớ lấy chi hết về gia tài của dân, mà đuổi chúng nó khỏi cơ nghiệp chúng
nó; vua sẽ lấy của riêng mình mà ban cho các con trai mình làm cơ nghiệp,
hầu cho dân ta ai nấy không bị tan lạc khỏi cơ nghiệp mình.
19. Rồi đó,
người dẫn ta do lối vào kề bên cổng, mà dắt ta vào các phòng thánh của các
thầy tế lễ, hướng về phía bắc; và nầy, có một chỗ ở trong nơi sâu, về phía
tây.
20. Người bảo ta rằng: Ðó là nơi các thầy tế lễ nấu những của lễ
chuộc tội và chuộc sự mắc lỗi, và hấp những của lễ chay, hầu cho không đem
ra nơi hành lang ngoài để cho dân nên thánh.
21. Ðoạn người đem ta ra
nơi hành lang ngoài, và đem ta qua gần bốn góc hành lang; nầy, mỗi góc
hành lang có một cái sân.
22. Nơi bốn góc hành lang có những sân bao
lấy, dài bốn mươi cu-đê và rộng ba mươi cu-đê; hết thảy bốn sân đều dài
rộng bằng nhau trong cả bốn góc.
23. Có một cái tường bao lấy bốn cái
sân ấy, và chung quanh dưới chơn tường có những chỗ để nấu.
24. Người
bảo ta rằng: Ðây là những nhà bếp, là nơi những kẻ làm việc trong nhà nấu
thịt tế của dân sự.
Ê-xê-chi-ên 47 chọn
đoạn khác
1. Kế đó, người
dẫn ta đem ta về cửa nhà; và nầy, có những nước văng ra từ dưới ngạch cửa,
về phía đông; vì mặt trước nhà ngó về phía đông, và những nước ấy xuống từ
dưới bên hữu nhà, về phía nam bàn thờ.
2. Người đem ta ra bởi đường
cổng phía bắc, và dẫn ta đi vòng quanh bởi đường phía ngoài, cho đến cổng
ngoài, tức là bởi đường cổng hướng đông; và nầy, có những nước chảy về bên
hữu.
3. Người dẫn ta sấn lên phía đông, tay cầm một cái dây, lấy dây đo
được một ngàn cu-đê; người khiến ta lội qua nước, nước vừa đến mắt cá
ta.
4. Người lại đo một ngàn, và khiến ta lội qua nước, nước vừa đến
đầu gối ta. Người lại đo một ngàn, và khiến ta lội qua nước, nước lên đến
hông ta.
5. Người lại đo một ngàn nữa; bấy giờ là một con sông, ta
không lội qua được; vì nước đã lên, phải đạp bơi; ấy là một con sông mà
người ta không có thể lội qua.
6. Bấy giờ người bảo ta rằng: Hỡi con
người, có thấy không? Rồi người đem ta trở lại nơi bờ sông.
7. Khi đến
đó rồi, nầy, bên nầy và bên kia bờ sông có cây rất nhiều.
8. Người bảo
ta rằng: Những nước nầy chảy thẳng đến phương đông, xuống nơi đồng bằng,
và chảy về biển; và khi đã chảy về biển, nước biển sự trở nên ngọt.
9.
Khắp nơi nào sông ấy chảy đến, thì mọi vật hay sống, tức là vật động trong
nước, đều sẽ được sống; và ở đó sẽ có loài cá rất nhiều. Nước ấy đã đến đó
thì nước biển trở nên ngọt, và khắp nơi nào sông ấy chảy đến thì mọi vật
sống ở đó.
10. Những kẻ đánh cá sẽ đứng trên bờ sông ấy; từ Ên-Ghê-đi
cho đến Ên-Ê-la-im sẽ làm một nơi để giăng lưới; những có trong đó cỏ đủ
thứ và rất nhiều, cũng như ở trong biển lớn.
11. Nhưng những chằm những
bưng của biển ấy sẽ không trở nên ngọt, mà bỏ làm đất muối.
12. Gần bên
sông ấy, trên bề nầy và bờ kia, sẽ sanh đủ thứ cây có trái ăn được, lá nó
không hề héo rụng, và trái nó không hề dứt. Mỗi tháng nó sẽ sanh ra trái
mới, vì những nước tưới nó chảy ra từ nơi thánh. Trái nó dùng để ăn, lá nó
dùng để làm thuốc.
13. Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy là giới hạn của
cõi đất mà các ngươi sẽ chia cho mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên làm sản
nghiệp. Giô-sép sẽ có hai phần.
14. Các ngươi sẽ được nó mà chia nhau
làm sản nghiệp; vì ta đã thề sẽ ban xứ nầy cho tổ phụ các ngươi, thì các
ngươi sẽ được đất ấy làm kỷ phần.
15. Nầy là giới hạn của đất; về phía
bắc, từ biển lớn, theo con đường Hết-lôn cho đến đường sang Xê-đát,
16.
Ha-mát, Bê-rốt và Síp-ra-im, giữa bờ cõi Ða-mách và bờ cõi Ha-mát,
Hát-se-Hát-thi-côn trên bờ cõi Ha-vơ-ran.
17. Ấy vậy bờ cõi chạy dài từ
biển đến Há-sa-Ê-nôn, trên bờ cõi Ða-mách về phái bắc lấy Ha-mát làm giới
hạn; ấy sẽ là phía bắc.
18. Phía đông chạy dài giữa Ha-vơ-ran, Ða-mách,
Ga-la-át và đất Y-sơ-ra-ên, dọc theo sông Giô-đanh. Các ngươi khá đo phần
đất từ bờ cõi phía bắc cho đến biển phía đông; ấy sẽ là phía đông.
19.
Phía nam chạy từ Tha-ma cho đến sông Mê-ri-ba, tại Ca-đe, đến khe
Ê-díp-tô, cho đến biển lớn; ấy là phía nam.
20. Phía tây sẽ là biển
lớn, từ bờ cõi phía nam cho đến lối vào Ha-mát; ấy là phía tây.
21. Các
ngươi khá chia đất nầy cho nhau, theo chi phái Y-sơ-ra-ên;
22. các
ngươi khá bắt thăm mà chia cho các ngươi và cho những người ngoại trú ngụ
giữa các ngươi và sanh con cái giữa các ngươi. Các ngươi sẽ coi chúng nó
như là kẻ bổn tộc giữa con cái Y-sơ-ra-ên.
23. Người ngoại sẽ trú ngụ
trong chi phái nào, thì các ngươi sẽ lấy sản nghiệp ở đó mà cấp cho nó,
Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ê-xê-chi-ên 48 chọn
đoạn khác
1. Nầy là tên
các chi phái: phần đất khởi từ phía cực bắc và chạy dài từ phía Hết-lôn
cho đến đường vào Ha-mát và Hát-sa-Ê-nôn, nơi bờ cõi Ða-mách hướng về phía
bắc đến Ha-mát, từ phía đông đến phía tây, là phần đất thuộc về của
Ðan.
2. Trên bờ cõi Ðan, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần của
A-se.
3. Trên bờ cõi A-se, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần của
Nép-ta-li.
4. Trên bờ cõi của Nép-ta-li, từ phía đông đến phía tây, sẽ
là phần của Ma-na-se.
5. Trên bờ cõi của Ma-na-se, từ phía đông đến
phía tây, sẽ là phần của Ép-ra-im.
6. Trên bờ cõi của Ép-ra-im, từ phía
đông đến phía tây, sẽ là phần của Ru-bên.
7. Trên bờ cõi của Ru-bên, từ
phía đông đến phía tây, sẽ là phần của Giu-đa.
8. Trên bờ cõi của
Giu-đa, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần mà các ngươi sẽ dâng; phần
ấy sẽ là hai mươi lăm ngàn cần bề ngang, và bề dài từ đông sang tây bằng
mỗi một phần của các phần. Nơi thánh ta sẽ ở giữa phần ấy.
9. Phần đất
mà các ngươi sẽ dâng cho Ðức Giê-hô-va sẽ có hai mươi lăm ngàn cần bề dài
và mười ngàn cần bề ngang.
10. Phần đất thánh ấy sẽ để cho các thầy tế
lễ; sẽ có hai mươi lăm ngàn cần bề ngang về phía tây, mười ngàn cần bề
ngang về phía đông, về phía nam hai mươi lăm ngàn cần bề dài; nơi thánh
của Ðức Giê-hô-va sẽ ở chính giữa.
11. Phần đất ấy sẽ để cho các thầy
tế lễ đã được biệt ra thánh, tức là cho các con trai của Xa-đốc, là những
kẻ làm chức vụ ở nơi thánh ta không lầm lạc trong khi con cái Y-sơ-ra-ên
cùng người Lê-vi đi lầm lạc.
12. Chúng nó sẽ có một phần sẵn dành trong
phần đã trích ra trên địa hạt, là phần rất thánh, kề bờ cõi người
Lê-vi;
13. vì người Lê-vi sẽ choán phần rọc theo bờ cõi các thầy tế lễ,
hai mươi lăm ngàn cần bề dài và mười ngàn bề ngang; nghĩa là cả bề dài hai
mươi lăm ngàn cần, bề ngang mười ngàn cần.
14. Phần ấy chúng nó sẽ
không được bán, không được đổi, không được nhượng trai đầu mùa của đất cho
người khác, vì nó đã biệt ra thánh cho Ðức Giê-hô-va.
15. Còn lại năm
ngàn cần bề ngang trên hai mươi lăm ngàn cần bề dài, thì sẽ là một noi
tục, để làm thành phố sẽ ở chính giữa.
16. Nầy là tư vuông của nó: phía
bắc bốn ngàn năm trăm, phía nam bốn ngàn năm trăm cần, phía đông bốn ngàn
năm trăm, phía tây bốn ngàn năm trăm.
17. Ðất ngoại ô của thành phố về
phía bắc sẽ có hai trăm năm chục cần, phía nam hai trăm năm chục, phía
đông hai trăm năm chục, và phía tây hai trăm năm chục.
18. Còn như
miếng đất thừa lại, rọc theo phần đất thánh, bề dài là mười ngàn cần phía
đông và mười ngàn cần phía tây, tức là bề dài của phần đất thánh ấy, thì
hoa lợi nó sẽ dùng làm đồ ăn cho những kẻ làm việc trong thành.
19.
Những kẻ làm việc trong thành, thuộc về hết thảy các chi phái Y-sơ-ra-ên,
sẽ cày cấy phần đất ấy.
20. Tổng cọng bề mặt của phần trích ra là hai
mươi lăm ngàn cần bề dài, hai mươi lăm ngàng cần bề ngang; các ngươi khá
trích ra một góc tư của phần đất thánh ấy đặng làm địa phận thành
phố.
21. Phần còn lại sẽ thuộc về vua, ở về hai bên đất thánh đã trích
ra và địa phận thành phố, bề dài hai mươi lăm ngàn cần của phần đất trích
ra, cho đến bờ cõi phía đông; và về phía tây, bề dài hai mươi lăm ngàn cần
cho đến bờ cõi phía tây, rọc theo các phần của các chi phái. Ấy sẽ là phần
của vua; và phần đất thánh đã trích ra cùng nơi thánh của nhà sẽ ở chính
giữa.
22. Như vậy thì phần của vua sẽ là cả một khoảng gồm giữa bờ cõi
Giu-đa và bờ cõi Bên-gia-min, trừ ra sản nghiệp của người Lê-vi và địa
phần thành phố, còn thảy cả sẽ thuộc về vua.
23. Về phần các chi phái
còn lại: từ đông đến tây một phần cho Bên-gia-min;
24. trên bờ cõi
Bên-gia-min, từ đông đến tây, một phần cho Si-mê-ôn;
25. trên bờ cõi
Si-mê-ôn, từ đông đến tây, một phần cho Y-sa-ca;
26. trên bờ cõi
Y-sa-ca, từ đông đến tây, một phần cho Sa-bu-lôn;
27. trên bờ cõi
Sa-bu-lôn, từ đông đến tây, một phần cho Gát;
28. và trên bờ cõi Gát
nơi phía nam hướng về phía nam, bờ cõi chạy từ Tha-ma đến sông Mê-ri-ba, ở
Ca-đe, đến khe Ê-díp-tô, cho đến biển lớn.
29. Ấy là đất mà các ngươi
sẽ dùng cách bắt thăm chỉ định cho các chi phái Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp;
và ấy sẽ là phần của chúng nó, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
30. Nầy là
những lối ra của thành phố: Về phía bắc, bốn ngàn năm trăn cần;
31.
những cửa thành sẽ đội tên của các chi phái Y-sơ-ra-ên. Phía bắc ba cửa:
cửa Ru-bên là một; cửa Giu-đa là một; cửa Lê-vi là một.
32. Phía đông
bốn ngàn năm trăm cần, và ba cửa: cửa Giô-sép là một; cửa Bên-gia-min là
một; cửa Ðan là một.
33. Phía nam, đo bốn ngàn năm trăm cần, và ba cửa:
cửa Si-mê-ôn là một; cửa Y-sa-ca là một; cửa Sa-bu-lôn là một.
34. Phía
tây, bốn ngàn năm trăm cần, và ba cửa: cửa Gát là một; cửa A-sa là một;
cửa Nép-ta-li là một.
35. Châu vi thành sẽ có mười tám ngàn cần; và rày
về sau tên thành sẽ là: "Ðức Giê-hô-va ở đó!"