Mục Lục
[1] [2] [3]
[4] [5] [6] [7]
[8] [9] [10] [11]
[12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19]
[20] [21] [22] [23]
[24] [25] [26] [27]
[28] [29] [30] [31]
[32] [33] [34] [35]
[36]
2 Sử-Ký 1 chọn
đoạn khác
1. Sa-lô-môn, con
trai Ða-vít, được vững bền trong nước mình; Giê-hô-va Ðức Chúa Trời người
ở cùng người, và làm cho người rất thạnh vượng.
2. Sa-lô-môn truyền bảo
cả Y-sơ-ra-ên, các quan tướng ngàn người và trăm người, các quan xét và
hết thảy các trưởng trong Y-sơ-ra-ên, là các trưởng tộc, phải đến;
3.
đoạn, Sa-lô-môn và cả hội chúng đều đi lên nơi cao tại Ga-ba-ôn; vì ở đó
có hội mạc của Ðức Chúa Trời, mà Môi-se, tôi tớ của Ðức Giê-hô-va, đã làm
nơi đồng vắng
4. (nhưng Ða-vít đã rước hòm Ðức Chúa Trời từ
Ki-ri-át-Giê-a-rim lên đến nơi người đã dọn sẵn cho hòm; vì người đã dựng
cho hòm ấy một cái trại tại Giê-ru-sa-lem).
5. Vả, ở trước đền tạm của
Ðức Giê-hô-va có bàn thờ đồng mà Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ,
đã làm; Sa-lô-môn và hội chúng đều đến nơi đó.
6. Sa-lô-môn đặt ở trước
mặt Ðức Giê-hô-va tại hội mạc, và dâng một ngàn của lễ thiêu trên bàn thờ
ấy.
7. Chánh đêm ấy, Ðức Chúa Trời hiện đến cùng Sa-lô-môn, mà phán
rằng: Ngươi muốn ta ban cho điều gì, hãy xin đi.
8. Sa-lô-môn thưa cùng
Ðức Chúa Trời rằng: Chúa đã ban ơn rộng cho Ða-vít, cha tôi, và đã đặt tôi
làm vua thế cho người.
9. Lạy Giê-hô-va Ðức Chúa Trời, bây giờ nguyện
cho lời Chúa hứa cùng Ða-vít, cha tôi, được ứng nghiệm; vì Chúa đã lập tôi
lên làm vua dân sự này đông như bụi đất.
10. Vậy, xin Chúa ban cho tôi
sự khôn ngoan và tri thức, để tôi ra vào trước mặt dân sự này; vì ai dễ
xét đoán được dân của Chúa rất đông dường kia?
11. Ðức Chúa Trời phán
với Sa-lô-môn rằng: Ta đã lập ngươi làm vua dân sự ta; vả, vì ngươi có
lòng như vậy, không có cầu xin sự giàu có, của cải, tôn vinh, hay là mạng
sống của những kẻ ghen ghét ngươi, và cũng chẳng có xin sự sống nhưng lại
cầu xin sự khôn ngoan và tri thức cho mình, để xét đoán dân sự ta,
12.
nên ta đã ban sự khôn ngoan và tri thức cho ngươi; ta lại sẽ ban cho ngươi
sự giàu có, của cải, tôn vinh, đến đỗi các vua trước ngươi không hề có như
vậy, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có vua nào được như thế.
13. Ðoạn,
Sa-lô-môn từ nơi cao tại Ga-ba-ôn, ở trước hội mạc, trở về Giê-ru-sa-lem;
và người cai trị Y-sơ-ra-ên.
14. Sa-lô-môn nhóm những xe và lính kỵ,
được một ngàn bốn trăm cỗ xe, và mười hai ngàn lính kỵ; người để nó trong
thành chứa xe, và gần nơi vua tại Giê-ru-sa-lem.
15. Vua làm cho bạc
vàng trong Giê-ru-sa-lem ra thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như
cây sung nơi đồng bằng.
16. Còn ngựa của Sa-lô-môn đều từ Ê-díp-tô mà
ra; các con buôn của vua đi lãnh mua nó từng bầy, mỗi bầy theo giá nhất
định.
17. Người ta từ xứ Ê-díp-tô mua đem lên một cái xe giá sáu trăm
siếc-lơ bạc, còn một con ngựa giá một trăm năm mươi siếc-lơ; các vua dân
Hê-tít và vua Sy-ri cũng theo giá ấy nhờ những con buôn của vua mà mua
về.
2 Sử-Ký 2
chọn
đoạn khác
1. Vả, Sa-lô-môn định cất một cái đền cho
danh Ðức Giê-hô-va, và một cái cung cho nước mình.
2. Sa-lô-môn bèn lựa
bảy vạn người bưng gánh, tám vạn người thợ đẽo đá trên núi, và ba ngàn sáu
trăm người đốc công.
3. Sa-lô-môn sai đến Hi-ram, vua Ty-rơ, mà nói
rằng: Vua đã hậu đãi Ða-vít, cha tôi, cung cấp cây bá hương cho người đặng
cất cái cung để người ở; xin vua cũng hãy đãi tôi như thế.
4. Này tôi
toan cất một đền cho danh Giê-hô-va Ðức Chúa Trời tôi, biệt đền ấy riêng
ra thánh cho Ngài, đặng xông nhũ hương trước mặt Ngài, bày bánh trần thiết
luôn luôn, dâng của lễ thiêu về buổi sáng và về buổi chiều, hoặc trong
ngày sa-bát, ngày mồng một, hay là trong những ngày lễ định của Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời chúng tôi; đều đó vốn là một lệ định cho Y-sơ-ra-ên đến đời
đời.
5. Ðức Chúa Trời chúng tôi vốn cao sang, vượt qua hết các thần;
nên cái đền tôi toan cất sẽ nguy nga.
6. Chớ thì ai có sức xây cất cho
Chúa một cái đền; vì trời và đến đỗi trời của các từng trời còn chẳng chứa
Ngài được thay! Vậy tôi là ai, mà cất được một cái đền cho Chúa? Cất nó
chẳng qua là để xông hương tại trước mặt Ngài đó thôi.
7. Vậy, bây giờ,
vua hãy sai đến cùng tôi một người giỏi về nghề chế đồ vàng, bạc, đồng,
sắt, thạo dệt bằng chỉ tím, đỏ và xanh, cùng biết chạm trổ đủ nghề, để làm
việc với những người tài giỏi ở bên tôi, tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, mà
Ða-vít, cha tôi, đã sắm sẵn.
8. Cũng hãy lấy ở Li-ban gỗ bá hương, gỗ
tòng, và gỗ bạch đàn hương mà gởi đến cho tôi vì tôi vẫn biết rằng các tôi
tớ vua đều thạo đốn cây trên Li-ban; này các tôi tớ tôi cũng sẽ giúp đỡ
các tôi tớ vua,
9. đặng lo đốn sắm sửa cây gỗ cho nhiều; vì cái đền mà
tôi toan cất sẽ nguy nga lạ kỳ.
10. Tôi sẽ cấp cho các tôi tớ vua, là
những kẻ đốn cây, hai vạn cô-rơ lúa miếng rĩa rồi, hai vạn cô-rơ lúc mạch,
hai vạn bát rượu, và hai vạn bát dầu.
11. Hi-ram, vua Ty-rơ, bèn viết
thơ gởi cho Sa-lô-môn, mà rằng: Vì cớ Ðức Giê-hô-va yêu thương dân sự
mình, nên Ngài đã lập vua làm vua trên chúng.
12. Hi-ram lại nói: Ngợi
khen Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng dựng nên trời đất, vì
Ngài đã ban cho vua Ða-vít một con trai khôn ngoan, dẽ dặt, thông minh, để
cất một cái đền cho Ngài và một cái cung cho nước người.
13. Bây giờ,
tôi sai đến cho vua một người khéo, có trí thông sáng, là
Hu-ram-A-bi,
14. con trai của người đờn bà về chi phái Ðan, cha người
là dân Ty-rơ; người giỏi về nghề chế đồ vàng, bạc, đồng, sắt, đá, và gỗ,
thạo dệt chỉ tím, xanh và đỏ sậm, cùng chỉ gai trắng xe mịn, cũng biết làm
các thứ chạm trổ, và tạo ra đủ thứ vật xảo mà người ta sẽ biểu nó làm. Nó
sẽ làm việc với những thợ khéo của thân phụ vua là Ða-vít chúa tôi.
15.
Vậy bây giờ xin chúa tôi hãy gởi cho các tôi tớ chúa lúa miến, lúa mạch,
dầu, và rượu, mà chúa tôi đã nói đến;
16. còn chúng tôi sẽ đốn gỗ tại
trên Li-ban theo số bao nhiêu vua cần dùng, rồi kết thành bè đem ra biển
đến Gia-phô; đoạn vua sẽ chở lên Giê-ru-sa-lem.
17. Sa-lô-môn bèn điểm
soát các người ngoại quốc ở trong nước Y-sơ-ra-ên, tùy theo số Ða-vít, cha
người, đã điểm soát; thấy được mười lăm vạn ba ngàn sáu trăm người.
18.
Trong số đó người đặt bảy vạn người làm kẻ khiêng gánh, tám vạn người đẽo
đá trên núi, và ba ngàn sáu trăm người đốc công, đặng sai khiến dân chúng
làm việc.
2 Sử-Ký 3
chọn
đoạn khác
1. Sa-lô-môn khởi cất đền Ðức Giê-hô-va
tại Giê-ru-sa-lem, trên núi Mô-ri-a, là nơi Ðức Giê-hô-va đã hiện ra cùng
Ða-vít, cha người, tại trên chỗ mà Ða-vít đã dọn, tức là trong sân đạp lúa
của Ọt-na, người Giê-bu-sít.
2. Sa-lô-môn khởi xây cất nhằm ngày mồng
hai tháng hai, năm thứ tư đời người trị vì.
3. Nầy là nền Sa-lô-môn đã
lập đặng cất đền của Ðức Chúa Trời: bề dài, theo thước xưa, là sáu mươi
thước, và bề ngang hai mươi thước.
4. Hiên cửa ở phía trước, bề dài hai
mươi thước, y như bề ngang của đền vậy, và bề cao một trăm hai mươi thước;
người bọc bề trong bằng vàng ròng.
5. Cái vách đền lớn, người lợp bằng
gỗ bá hương, và bọc vàng ròng, chạm hình cây chà là và dây xích ở
trên.
6. Người lót đền bằng đá quí đặng trang sức nó; vàng là vàng
Phạt-va-im.
7. Người lại bọc vàng cái đền, mè, ngạch cửa, vách, và cửa
của đền, còn trên vách thì chạm hình chê-ru-bin.
8. Người cũng làm nơi
chí thánh: bề dài hai mươi thước, y như bề ngang của đền, và bề ngang cũng
hai mươi thước; người bọc nơi ấy bằng vàng ròng; vàng dùng cọng đặng sáu
trăm ta lâng.
9. Những đinh vàng cân nặng năm mươi siếc lơ; người cũng
bọc vàng các phòng cao.
10. Tại trong nơi chí thánh, người làm hai
chê-ru-bin, cứ phép trổ tượng, rồi bọc vàng.
11. Bốn cánh của hai
chê-ru-bin dài hai mươi thước; cánh này của chê-ru-bin bên hữu dài năm
thước, đụng đến vách đền, còn cánh kia cũng dài năm thước, và đụng cánh
của chê-ru-bin bên tả.
12. Cánh này của chê-ru-bin về bên tả dài năm
thước, và đụng đến vách đền, còn cánh kia cũng dài năm thước, tiếp giáp
với cánh chê-ru-bin về bên hữu.
13. Các cánh của hai chê-ru-bên đều sè
ra, cọng dài hai mươi thước; hai chê-ru-bin đứng thẳng chơn lên, ngảnh mặt
hướng về nơi thánh.
14. Người lại chế bức màn bằng chỉ màu xanh, màu
tím, màu đỏ sặm, cùng chỉ gai xe mịn, rồi ở trên thêu hình
chê-ru-bin.
15. Ðằng trước đền, người xây hai cây trụ, bề cao ba mươi
lăm thước, đầu trụ ở trên chót hai trụ được năm thước.
16. Người lại
làm dây xích giống như dây xích trong nơi chí thánh, để trên chót trụ, rồi
làm một trăm trái lựu mà gắn nơi dây xích ấy.
17. Người dựng hai trụ đó
ở trước đền thờ, cây nầy bên hữu, cây kia bên tả; đặt tên cây bên hữu là
Gia-kin và cây bên tả là Bô-ách.
2 Sử-Ký 4 chọn
đoạn khác
1. Người lại làm một
cái bàn thờ đồng, bề dài hai mươi thước, bề ngang hai mươi thước và bề cao
mười thước.
2. Người làm một cái biển đúc, từ mép này qua mép kia được
mười thước, tròn tứ vi, và cao năm thước; một sợi dây ba mươi thước vấn
chung quanh nó.
3. Ở dưới vòng chung quanh biển, có hình giống con bò,
mỗi thước mười con, làm hai hàng, đúc một lượt với biển.
4. Biển để kê
trên mười hai tượng con bò, ba con xây về hướng bắc, ba con xây về hướng
tây, ba con xây về hướng nam, và ba con xây về hướng đông; biển ở trên các
con bò ấy, thân sau chúng nó đều quay vào trong.
5. Bề dày biển một
gang, mép nó như mép cái chén, làm tợ hoa huệ nở; chứa được ba ngàn
bát.
6. Người cũng làm mười cái thùng, để năm cái bên hữu và năm cái
bên tả đặng rửa tại đó; người ta rửa trong đó vật gì thuộc về của lễ
thiêu; còn những thầy tế lễ đều tắm rửa trong biển đúc.
7. Người làm
mười cái chơn đèn bằng vàng, theo kiểu đã định; rồi để nó trong đền thờ,
năm cái bên hữu, năm cái bên tả.
8. Lại đóng mười cái bàn, để trong đền
thờ, năm cái bên hữu, và năm cái bên tả. Rồi làm một trăm cái chậu bằng
vàng.
9. Người cũng làm hành lang cho thầy tế lễ, và cái sân rộng, các
cửa của sân, rồi bọc đồng các cánh cửa ấy.
10. Người để cái biển ở bên
hữu đền, hướng đông về phía nam.
11. Hu-ram lại làm những bình tro, vá,
và chậu. Hu-ram làm xong công việc người đã vì Sa-lô-môn làm trong đền của
Ðức Chúa Trời:
12. tức hai cây trụ ở trên chót trụ; hai cái đầu trụ ở
trên chót trụ; hai tấm lưới bao hai cái bầu của đầu trụ ở trên chót
trụ;
13. bốn trăm trái lựu gắn vào hai tấm lưới, mỗi tấm có hai hàng
trái lựu, đặng bao hai cái bầu của đầu trụ ở trên chót trụ.
14. Người
cũng làm táng, và cái thùng ở trên táng;
15. đúc một cái biển và mười
hai con bò ở dưới nó;
16. chế những bình tro, vá, nỉa, và các đồ lề nó;
Hu-ram-A-bi vì Sa-lô-môn làm các đồ đó bằng đồng trơn láng, đặng dùng
trong đền của Ðức Giê-hô-va.
17. Vua truyền đúc các đồ ấy nơi đồng bằng
Giô-đanh, dưới đất sét, giữa Su-cốt và Xê-rê-đa.
18. Vua Sa-lô-môn chế
các đồ ấy thật nhiều lắm; còn số cân của đồng thì người ta không
biết.
19. Sa-lô-môn làm hết thảy các đồ lề trong đền Ðức Chúa Trời: bàn
thờ vàng, những cái bàn dùng sắp bánh trần thiết,
20. chơn đèn, và cái
thếp nó bằng vàng ròng đặng thắp trước nơi chí thánh, theo lệ đã
định;
21. cũng làm các hoa, thếp, và nỉa bằng vàng ròng;
22. những
dao, chậu, chén, lư hương, cũng bằng vàng ròng; và nơi vào đền, các cánh
cửa đền trong của nơi chí thánh, cùng các cánh cửa của đền thờ cũng đều
bằng vàng.
2 Sử-Ký 5
chọn
đoạn khác
1. Ấy vậy, các công việc mà Sa-lô-môn làm
cho đền của Ðức Giê-hô-va đều xong rồi. Sa-lô-môn đem đến những vật mà
Ða-vít, cha người, đã biệt riêng ra thánh, tức là bạc, vàng, và các khí
dụng, để vào kho của đền Ðức Chúa Trời.
2. Sa-lô-môn bèn nhóm tại
Giê-ru-sa-lem các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, các trưởng của các chi phái, và
các trưởng tộc dân Y-sơ-ra-ên, các trưởng của các chi phái, và các trưởng
tộc dân Y-sơ-ra-ên, đặng rước hòm giao ước của Ðức Giê-hô-va lên từ thành
Ða-vít, là Si-ôn.
3. Mọi người Y-sơ-ra-ên đều nhóm lại đến cùng vua
nhằm kỳ lễ tháng bảy.
4. Các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều đến, và người
Lê-vi khiêng hòm đi.
5. Những thầy tế lễ và người Lê-vi đều đem lên cái
hòm, hội mạc, và các khí dụng thánh vốn ở trong trại.
6. Vua Sa-lô-môn
và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã nhóm lại với vua, đều đứng trước hòm, dâng
những chiên và bò làm của lễ nhiều, vô số không thể đếm được.
7. Những
thầy tế lễ đem hòm giao ước của Ðức Giê-hô-va vào nơi dọn cho hòm, tức
trong nơi chí thánh của đền, dưới cánh chê-ru-bin.
8. Hai chê-ru-bin sè
cánh ra trên chỗ hòm, che hòm và đòn khiêng.
9. Ðòn khiêng thì dài, nên
đầu đòn thấy ló ra ngoài hòm, trước nơi chí thánh; nhưng ở ngoài đền thì
chẳng thấy; hòm vẫn ở đó cho đến ngày nay.
10. Chẳng có gì trong hòm,
trừ ra hai bảng luật pháp mà Môi-se đã để vào tại Hô-rếp, khi Ðức
Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên, lúc chúng ra khỏi
Ê-díp-tô.
11. Khi những thầy tế lễ ra khỏi nơi thánh (vì phàm thầy tế
lễ ở đó đều đã dọn mình ra thánh sạch, mà chưa giữ theo ban thứ
nào),
12. và các người ca hát trong dân Lê-vi, tức A-sáp, Hê-nan,
Giê-đu-thun, cùng con trai và anh em họ, đương mặc quần áo bằng vải gai
mịn, cầm chập chỏa, đờn sắt, và đờn cầm, đều đứng ở phía đông bàn thờ, với
một trăm hai mươi thầy tế lễ thổi kèn.
13. Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca
hát đồng thinh hòa nhau như một người, mà khen ngợi cảm tạ Ðức Giê-hô-va,
và khi họ trổi tiếng kèn, chập chỏa, nhạc khí lên khen ngợi Ðức Giê-hô-va,
rằng: Ngài từ thiện, lòng thương xót Ngài hằng có đời đời, thì đền của Ðức
Giê-hô-va bị mây lấp đầy;
14. đến đỗi những thầy tế lễ vì mây không thể
đứng đó hầu việc được, vì sự vinh hiển của Ðức Giê-hô-va đầy lấp đền của
Ðức Chúa Trời.
2 Sử-Ký
6 chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ, Sa-lô-môn nói rằng: Ðức
Giê-hô-va đã phán rằng Ngài sẽ ngự trong nơi tối thẳm.
2. Nhưng tôi đã
cất một cái đền cho Chúa trú ngụ, một nơi cho Chúa ở đời đời.
3. Ðoạn
vua xây mặt lại chúc phước cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên đều đứng.
4. Người nói: Ðáng ngợi khen Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã phán hứa với Ða-vít, cha tôi, và nay lấy
tay Ngài mà làm cho thành lời hứa ấy; Ngài rằng:
5. Từ ngày ta đem dân
ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ta chưa chọn một thành nào trong các chi phái
Y-sơ-ra-ên đặng cất một cái đền, để đặt danh ta tại đó, và ta cũng chẳng
chọn người nào làm vua chúa trên dân Y-sơ-ra-ên ta;
6. nhưng ta đã chọn
Giê-ru-sa-lem, để đặt danh ta tại đó, và chọn Ða-vít đặng cai trị dân
Y-sơ-ra-ên ta.
7. Vả, Ða-vít, cha tôi, đã rắp lòng xây đền cho danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
8. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán với
Ða-vít, cha tôi, rằng: Ngươi có rắp lòng cất một cái đền cho danh ta, ấy
thật phải lắm;
9. dầu vậy, ngươi sẽ chẳng cất đền ấy; song con trai
ngươi sanh ra sẽ cất cái đền cho danh ta.
10. Ðức Giê-hô-va đã làm ứng
nghiệm lời Ngài phán, khiến tôi kế cho Ða-vít, cha tôi, lên ngôi trị vì
Y-sơ-ra-ên, y như Ðức Giê-hô-va đã hứa: nên tôi có cất đền cho danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,
11. và tại đền ấy đã đặt cái
hòm đựng giao ước của Ðức Giê-hô-va mà Ngài lập với dân Y-sơ-ra-ên.
12.
Sa-lô-môn đương đứng trước bàn thờ của Ðức Giê-hô-va, đối mặt cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên, giơ tay mình ra
13. (vì người đã đóng một cái sạp bằng
đồng, bề dài năm thước, bề ngang năm thước, bề cao ba thước, để tại giữa
hành lang; người đứng tại đó, quì gối xuống trước mặt cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên, giơ tay lên trên trời),
14. mà rằng: Lạy Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên! trên trời và dưới đất, chẳng có thần nào giống như
Chúa. Chúa gìn giữ lời giao ước và lòng nhơn từ đối với kẻ tôi tớ Chúa, là
kẻ hết lòng đi trước mặt Chúa;
15. đối với tôi tớ Chúa là Ða-vít cha
tôi, Chúa có gìn giữ lời Chúa đã hứa với người: Thật hễ điều gì miệng Chúa
phán, thì tay Chúa đã làm cho hoàn thành, y như đã có ngày nay.
16.
Vậy, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Chúa đã hứa cùng tôi tớ
Chúa là Ða-vít, cha tôi, rằng: Ví bằng con cháu ngươi cẩn thận đường lối
mình, giữ theo các luật pháp ta, y như ngươi đã làm, thì trước mặt ta
ngươi sẽ chẳng hề thiếu người ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên; nay cầu xin Chúa
hãy giữ gìn lời hứa ấy.
17. Hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên!
nguyện lời Chúa đã hứa cùng Ða-vít, tôi tớ Chúa, được ứng nghiệm.
18.
Mà chi! Có thật rằng Ðức Chúa Trời ngự chung với loài người ở trên đất ư?
Kìa trời, cho đến đỗi trời của các từng trời còn chẳng có thế chứa Chúa
được thay, phương chi cái đền nầy tôi đã cất!
19. Dầu vậy, hỡi
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời tôi ôi! xin hãy đoái thương lời cầu nguyện và sự
nài xin của tôi tớ Chúa, nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện của tôi tớ Chúa
cầu trước mặt Chúa.
20. Nguyện mắt Chúa ngày và đêm đoái xem nhà này,
vì về nhà này Chúa đã phán rằng: sẽ đặt danh Chúa tại đó. Khi tôi tớ Chúa
hướng nơi này mà cầu nguyện, xin Chúa dủ nghe.
21. Phàm điều gì tôi tớ
Chúa và dân Y-sơ-ra-ên sẽ cầu khẩn trong khi hướng về nơi này, xin Chúa
hãy dủ nghe, nhậm lời, và tha thứ cho.
22. Nếu ai phạm tội cùng kẻ lân
cận mình, và người ta bắt nó phải thề, nếu nó đến thề ở trước bàn thờ của
Chúa tại trong đền này,
23. thì xin Chúa từ trên trời hãy nghe, thi
hành, và xét đoán tôi tớ Chúa, mà báo trả kẻ ác tùy việc nó làm, khiến tội
nó đổ lại trên đầu nó, xưng công bình cho người công bình, và thưởng người
tùy sự công bình của người.
24. Nếu dân Y-sơ-re-ên của Chúa, vì phạm
tội với Chúa, bị quân thù nghịch đánh được, mà chúng trở lại cùng Chúa,
nhận biết danh Ngài, và cầu nguyện nài xin trước mặt Chúa trong đền
này,
25. thì xin Chúa từ trên trời hãy dủ nghe, tha tội cho dân
Y-sơ-ra-ên của Chúa, và khiến họ trở về xứ mà Chúa đã ban cho họ và cho tổ
phụ của họ.
26. Khi các từng trời đóng chặt, không có mưa, bởi vì dân
Y-sơ-ra-ên đã phạm tội với Chúa; nếu sau khi Chúa đã đoán phạt họ, họ
hướng về nơi này mà cầu nguyện, nhận biết danh Chúa, trở bỏ tội lỗi
mình,
27. thì xin Chúa ở trên trời hãy dủ nghe, tha tội cho kẻ tôi tớ
Chúa và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, khi Ngài đã dạy cho chúng con đường
lành mà chúng phải đi theo, và giáng mưa xuống trên đất mà Chúa đã ban cho
dân Ngài làm sản nghiệp.
28. Nếu trong xứ có cơn đói kém, ôn dịch, đại
hạn, ten sét, cào cào, hay là châu chấu; hoặc kẻ thù nghịch vây hãm các
thành trong địa phận họ; bất kỳ có tai vạ gì, tật bịnh gì;
29. ví bằng
có một người, hoặc cả dân Y-sơ-ra-ên của Chúa đã nhận biết tai vạ và sự
đau đớn của mình, mà giơ tay ra hướng về nhà này, cầu nguyện và khẩn xin
vô luận điều gì,
30. thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa,
hãy dủ nghe, tha thứ cho, và báo lại cho mỗi người tùy theo công việc họ,
vì Chúa thông biết lòng của họ (thật chỉ một mình Chúa biết được lòng của
con cái loài người);
31. để khiến chúng kính sợ Chúa, đi theo đường lối
của Chúa trọn đời chúng sống ở trên đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ chúng
tôi.
32. Vả lại, về người ngoại bang là người chẳng thuộc về dân
Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì danh lớn Chúa, vì cánh tay quyền năng giơ
thẳng ra của Ngài, họ sẽ từ xứ xa đi đến hướng về đền này mà cầu
nguyện,
33. thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa; hầu cho
muôn dân trên đất nhận biết danh Chúa, kính sợ Ngài như dân Y-sơ-ra-ên của
Chúa, và biết rằng cái đền này mà tôi đã xây cất, được gọi bằng danh
Chúa.
34. Khi dân sự Chúa ra chiến tranh với kẻ thù nghịch mình, theo
đường nào mà Chúa sẽ sai đi, nếu chúng cầu nguyện cùng Chúa, xây về hướng
thành nầy mà Chúa đã chọn, và về đền nầy mà tôi đã xây cất cho danh
Chúa,
35. thì xin Chúa từ trên trời hãy dủ nghe lời cầu nguyện nài xin
của chúng, và binh vực cho họ.
36. Nếu dân Y-sơ-ra-ên phạm tội với Chúa
(vì chẳng có người nào mà không phạm tội), và Chúa nổi giận, phó chúng cho
kẻ thù nghịch, và kẻ thù nghịch bắt họ làm phu tù dẫn đến xứ xa hay
gần;
37. nếu trong xứ mà họ bị dẫn đến làm phu tù, họ suy nghĩ lại, ăn
năn, và cầu khẩn Chúa, mà rằng: Chúng tôi có phạm tội, làm điều gian ác và
cư xử cách dữ tợn,
38. nếu tại trong xứ mà kẻ thù nghịch đã dẫn họ đến
làm phu tù, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa, cầu nguyện cùng Ngài
hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành Chúa đã chọn, và về đền
mà tôi đã xây cất cho danh Chúa,
39. thì xin Chúa từ trên trời, là nơi
ngự của Chúa, hãy dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của chúng, binh vực họ,
và tha thứ tội mà dân sự của Chúa đã phạm cùng Ngài.
40. Vậy, Ðức Chúa
Trời tôi ôi! bây giờ cầu xin Chúa đoái thương và lắng tai nghe phàm lời
nào cầu nguyện trong nơi này.
41. Nầy, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ôi! xin
hãy chổi dậy, để Chúa và hòm quyền năng Ngài được vào nơi an nghỉ Ngài!
Lạy Giê-hô-va Ðức Chúa Trời! nguyện những thầy tế lễ Chúa được mặc sự cứu
rỗi, và các thánh đồ Chúa được mừng rỡ trong sự nhơn từ Ngài!
42. Hỡi
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời! xin chớ từ bỏ kẻ chịu xức dầu của Chúa; khá nhớ
lại các sự nhân từ của Chúa đối với Ða-vít, là kẻ tôi tớ
Ngài.
2 Sử-Ký 7
chọn
đoạn khác
1. Khi Sa-lô-môn cầu nguyện xong, lửa từ
trời giáng xuống đốt của lễ thiêu và các hi sinh, sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va đầy dẫy trong đền.
2. Những thầy tế lễ chẳng vào được trong
đền của Ðức Giê-hô-va, vì sự vinh quang Ðức Giê-hô-va đầy dẫy đền của
Ngài.
3. Hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đều thấy lửa và sự vinh quang của Ðức
Giê-hô-va giáng xuống đền, bèn sấp mặt xuống đất trên nền lót, thờ lạy Ðức
Giê-hô-va và cảm tạ Ngài, mà rằng: Chúa là nhân từ, vì sự thương xót của
Ngài còn đến đời đời!
4. Bấy giờ vua và cả dân sự dâng những của lễ tại
trước mặt Ðức Giê-hô-va.
5. Vua Sa-lô-môn dâng hai vạn hai ngàn con bò
và mười hai vạn con chiên đực. Rồi vua và cả dân sự đều làm lễ khánh thành
đền của Ðức Chúa Trời.
6. Những thầy tế lễ hầu việc theo chức phận
mình; còn người Lê-vi thì cầm nhạc khí của Ðức Giê-hô-va, mà vua Ða-vít đã
sắm đặng ngợi khen Ðức Giê-hô-va Ngài, bởi vì lòng nhân từ Chúa còn đến
đời đời. Những thầy tế lễ thổi kèn ở trước mặt chúng, và cả Y-sơ-ra-ên đều
đứng.
7. Sa-lô-môn biệt riêng ra thánh chỗ ở chính giữa hành làng trước
đền Ðức Giê-hô-va; vì tại đó, người dâng của lễ thiêu và mỡ về của lễ thù
ân, bởi cái bàn thờ đồng mà Sa-lô-môn đã làm, không đựng hết của lễ thiêu,
của lễ chay, và mỡ được.
8. Trong khi ấy, Sa-lô-môn và cả Y-sơ-ra-ên,
đến từ miền về phía Ha-mát cho tới khe Ê-díp-tô, nhóm lại thành một hội
rất đông đảo, đều dự lễ trong bảy ngày.
9. Qua ngày thứ tám, người ta
giữ lễ trọng thể, vì họ dự lễ khánh thành bàn thờ trong bảy ngày, và mừng
lễ thường trong bảy ngày.
10. Ngày hai mươi ba tháng bảy, người cho dân
sự trở về trại mình, lòng đều vui vẻ và mừng rỡ, vì sự nhân từ mà Ðức
Giê-hô-va đã ban cho Ða-vít, cho Sa-lô-môn, và cho Y-sơ-ra-ên, là dân sự
của Ngài.
11. Như vậy, Sa-lô-môn làm xong đền Ðức Giê-hô-va và cung
vua; phàm công việc gì Sa-lô-môn rắp lòng làm trong đền Ðức Giê-hô-va và
trong cung vua, đều xong cả.
12. Ban đêm Ðức Giê-hô-va hiện đến cùng
Sa-lô-môn, mà rằng: Ta có nghe lời cầu nguyện ngươi, và đã chọn nơi này
làm một nhà tế lễ.
13. Nếu ta đóng các từng trời lại, không cho mưa
xuống, khiến cào cào phá hại thổ sản, và giáng ôn dịch giữa dân sự
ta;
14. và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình
xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở
trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ.
15.
Bấy giờ, mắt ta sẽ đoái xem, lỗ tai ta sẽ lắng nghe lời nào cầu nguyện tại
nơi này;
16. vì bây giờ, ta đã chọn và khiến cho cái nhà này ra thánh,
hầu cho danh ta ngự đó đời đời: mắt cùng lòng ta sẽ ở đó luôn luôn.
17.
Còn ngươi, nếu ngươi khứng đi trước mặt ta như Ða-vít, cha ngươi đã làm,
làm theo mọi điều ta phán dạy ngươi, gìn giữ luật lệ và giới mạng
ta,
18. thì ta sẽ lập ngôi nước ngươi được bền vững, y theo lời ước ta
đã kết với Ða-vít, cha ngươi, mà rằng: Ngươi sẽ chẳng hề thiếu người quản
trị Y-sơ-ra-ên.
19. Nhưng nếu các ngươi bội nghịch, bỏ các luật lệ và
giới mạng ta đã đặt trước mặt các ngươi, đi hầu việc những tà thần và thờ
lạy chúng nó,
20. thì ta sẽ rứt nhổ các ngươi khỏi đất ta đã ban cho
các ngươi; còn cái nhà này mà ta đã biệt riêng ra thánh cho danh ta, ta sẽ
bỏ nó đi, làm cho nó nên một câu tục ngữ, một việc nhạo cười giữa các dân
tộc.
21. Cái nhà này dẫu cao dường nào, hễ ai đi qua gần nó cũng sẽ lấy
làm lạ mà nói rằng: Cớ sao Ðức Giê-hô-va có xử xứ này và đền này như
thế?
22. Thì người ta sẽ đáp rằng: Bởi vì họ lìa bỏ Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của tổ phụ họ, là Ðấng đã dẫn họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô, và vì họ đeo
đuổi theo các tà thần, thờ lạy và hầu việc chúng nó, nên Ngài đã giáng
trên họ các tai vạ này.
2 Sử-Ký 8 chọn
đoạn khác
1. Cuối hai mươi năm,
sau khi Sa-lô-môn đã xây cất xong cái đền của Ðức Giê-hô-va và cái cung
mình,
2. thì Sa-lô-môn cũng sửa xây lại các thành mà vua Hu-ram đã
nhường cho người, và khiến cho dân Y-sơ-ra-ên ở đó.
3. Sa-lô-môn đi đến
Ha-mát-Xô-ba và thắng được.
4. Người xây thành Tát-mốt trong đồng vắng,
và xây các thành dùng làm kho tàng tại xứ Ha-mát.
5. Người cũng xây
Bết-Hô-rôn trên và Bết-Hô-rôn dưới, là những thành bền vững, có vách
tường, cửa và then khóa;
6. lại xây thành Ba-lát và các thành làm kho
tàng của Sa-lô-môn, các thành để chứa xe, và các thành cho lính kỵ người
ở; phàm điều gì Sa-lô-môn ước ao xây cất, hoặc tại Giê-ru-sa-lem, trên
Li-ban, hay là trong khắp xứ phục dưới quyền người, thì đều xây cất
cả.
7. Hết thảy những người còn sống sót lại trong dân Hê-tít, dân
A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, không thuộc về
Y-sơ-ra-ên,
8. tức là những con cháu chúng nó hãy còn lại trong xứ, mà
dân Y-sơ-ra-ên không diệt hết, thì trong chúng nó Sa-lô-môn bắt kẻ làm xâu
cho đến ngày nay.
9. Nhưng về dân Y-sơ-ra-ên, Sa-lô-môn không bắt ai
làm xâu hết, vì họ làm quân lính, quan tướng, quan cai xe, và lính kỵ của
người.
10. Còn về quan trưởng của Sa-lô-môn đặt lên để quản đốc dân sự
làm công việc, số là hai trăm năm mươi người.
11. Sa-lô-môn sai rước
công chúa Pha-ra-ôn ở thành Ða-vít lên cung mà người đã cất cho nàng; vì
người nói rằng: Vợ ta chẳng nên ở trong cung Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, vì
nơi nào hòm của Ðức Giê-hô-va đến, thì đã nên thánh rồi.
12. Bấy giờ,
Sa-lô-môn dâng của lễ thiêu cho Ðức Giê-hô-va tại trên bàn thờ của
Giê-hô-va mà người đã xây trước hiên cửa;
13. lại tùy theo lệ luật của
Môi-se, người dâng mỗi ngày của lễ phải dâng, cùng trong các ngày sa-bát,
ngày mồng một, và hằng năm nhằm ba lễ trọng thể, tức lễ bánh không men, lễ
các tuần lễ, và lễ lều tạm.
14. Tùy theo lịnh truyền của Ða-vít, cha
mình, người phân định ban thứ của những thầy tế lễ trong phần việc họ, và
lập người Lê-vi trong chức sự họ, đặng ngợi khen Chúa và hầu việc tại
trước mặt những thầy tế lễ, cứ công việc ngày nào theo ngày nấy; tại mỗi
cửa cũng đặt kẻ giữ cửa, cứ theo phiên mình, vì Ða-vít, người của Ðức Chúa
Trời, đã truyền lịnh như vậy.
15. Phàm điều gì vua đã phán dạy hững
thầy tế lễ và người Lê-vi, hoặc về kho tàng hay là về việc khác, thì họ
chẳng bỏ bê chút nào.
16. Vả, các tài liệu mà Sa-lô-môn dùng về việc
cất đền của Ðức Giê-hô-va, đều đã sắm sửa từ ngày đặt nền cho đến khi công
việc xong. Ðền của Ðức Giê-hô-va đã cất xong là như vậy.
17. Khi ấy
Sa-lô-môn đi đến Ê-xi-ôn-Ghê-be và Ê-lốt, tại trên mé biển, trong xứ
Ê-đôm.
18. Hu-ram bởi tay các tôi tớ mình, gởi đến cho người những tàu
và các thủy thủ thạo nghề đi biển; chúng đi với các tôi tớ của Sa-lô-môn
đến Ô-phia, lấy tại đó bốn trăm năm mươi ta lâng vàng, và chở về cho vua
Sa-lô-môn.
2 Sử-Ký 9
chọn
đoạn khác
1. Khi nữ vương nước Sê-ba nghe đồn danh
tiếng của Sa-lô-môn, bèn đi đến Giê-ru-sa-lem, lấy những câu đố mà thử
người, bà có hầu hạ theo rất đông, có những lạc đà chở thuốc thơm, rất
nhiều vàng, và đá quí; bà đến cùng Sa-lô-môn, nói với người mọi điều có ở
trong lòng mình.
2. Sa-lô-môn đáp các câu hỏi của bà, chẳng câu nào ẩn
bí quá cho Sa-lô-môn mà người không giải nghĩa nổi cho bà.
3. Khi nữ
vương Sê-ba thấy sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện người đã xây
cất,
4. những món ăn trên bàn người, nhà cửa các tôi tớ, thứ tự công
việc của các quan, và đồ mặc của họ, các quan chước tửu và áo xống của họ,
cùng các của lễ thiêu người dâng trong đền Ðức Giê-hô-va, thì mất
vía,
5. bèn nói với vua rằng: Ðiều tôi nghe nói trong xứ tôi về các lời
nói và sự khôn ngoan của vua, thì thật lắm.
6. Song trước khi tôi chưa
đến đây và chưa thấy tận mắt những điều này, thì tôi chẳng tin lời họ; và
kìa, người ta chẳng thuật cho tôi nghe đến phân nửa sự khôn ngoan lớn lao
của vua; vua thật trổi hơn tiếng đồn tôi đã nghe.
7. Các quần thần của
vua thật có phước thay! Các tôi tớ vua, hằng đứng chầu trước mặt vua, nghe
sự khôn ngoan của vua, thật có phước thay!
8. Ðáng ngợi khen thay
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của vua, vì Ngài vui thích vua, đặt vua ngồi trên
ngôi của Ngài đặng làm vua cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của vua! Bởi vì Ðức
Chúa Trời của vua yêu mến Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho chúng vững bền đến đời
đời, nên Ngài đã lập vua làm vua trên chúng, để làm theo sự ngay thẳng và
sự công bình.
9. Ðoạn, bà dâng cho vua một trăm hai mươi ta lâng vàng,
và rất nhiều thuốc thơm, cùng đá quí; chẳng hề có thuốc thơm nào giống như
thuốc thơm của nữ vương nước Sê-ba dâng cho vua Sa-lô-môn.
10. (Các tôi
tớ của Hu-ram và tôi tớ của Sa-lô-môn từ Ô-phia chở vàng đến, cũng có chở
về gỗ bạch đàn hương và đá quí.
11. Vua dùng gỗ bạch đàn hương ấy mà
làm cái thang trong đền của Ðức Giê-hô-va, và trong cung điện vua, cùng
những đờn cầm đờn sắt cho con hát: trước khi trong nước Giu-đa, người ta
chẳng hề thấy có giống như vậy).
12. Vua Sa-lô-môn tặng cho nữ vương
nước Sê-ba mọi đồ bà ước ao và xin, gấp nhiều hơn đồ bà đã đem dâng cho
vua. Ðoạn, bà và các đầy tớ bà trở về xứ mình.
13. Vàng mà vua
Sa-lô-môn nhận được mỗi năm cân đến sáu trăm bảy mươi ta lâng,
14.
không kể vàng mà các nhà buôn bán, kẻ buôn bán dong đem vào, cùng vàng và
bạc mà các vua A-ra-bi và quan tổng trấn của xứ đem nộp cho
Sa-lô-môn.
15. Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn bằng vàng đánh giát
cứ mỗi cái dùng sáu trăm siếc lơ vàng đánh giát,
16. và ba trăm cái
khiên nhỏ bằng vàng đánh giát, cứ mỗi cái dùng ba trăm siếc lơ vàng; đoạn
vua để các khiên ấy nơi cung rừng Li-ban.
17. Vua cũng làm một cái ngai
lớn bằng ngà, và bọc vàng ròng;
18. cái ngai có sáu nấc lên, và một cái
bệ bằng vàng liền với cái ngai; cũng có thanh nâng tay bên này và bên kia
của chỗ ngồi, gần thanh nâng tay có hai con sư tử.
19. Lại có mười hai
con sư tử đứng trên sáu nấc, bên hữu và bên tả: chẳng có nước nào làm ngai
giống như vậy.
20. Các đồ dùng để uống của vua Sa-lô-môn đều bằng vàng,
và những khí dụng của cung rừng Li-ban cũng đều bằng vàng ròng: trong đời
Sa-lô-môn, chẳng kể bạc ra gì,
21. vì vua có đoàn tàu vượt sang
Ta-rê-si với các tôi tớ của Hi-ram: mỗi ba năm một lần đoàn tàu Ta-rê-si
chở đến vàng, bạc ngà voi, con khỉ và con công.
22. Ấy vậy, vua
Sa-lô-môn trổi hơn các vua trên đất về sự khôn ngoan.
23. Các vua trên
đất đều cầu thấy mặt Sa-lô-môn, đặng nghe sự khôn ngoan của người mà Ðức
Chúa Trời đã để trong lòng người.
24. Cứ hằng năm theo lệ định, chúng
đều đem đến vật mình tiến cống, nào những khí dụng bằng bạc, bằng vàng,
nào áo xống, binh khí, nào thuốc thơm, ngựa và la.
25. Vua Sa-lô-môn có
được bốn ngàn tàu ngựa và xe, cùng một vạn hai ngàn lính kỵ, để trong các
thành chứa xe, và gần bên vua, tại Giê-ru-sa-lem.
26. Người quản trị
trên các vua, từ sông cái cho đến xứ Phi-li-tin, và cho đến bờ cõi
Ê-díp-tô.
27. Tại Giê-ru-sa-lem, vua làm cho bạc ra thường như đá sỏi,
và cây bá hương nhiều như cây sung mọc ở nơi đồng bằng.
28. Có người
đem cho Sa-lô-môn những ngựa từ xứ Ê-díp-tô và từ các nước mà đến.
Sa-lô-môn qua đời
29. Các công việc khác của Sa-lô-môn làm từ đầu đến
cuối đều chép trong sách truyện Na-than, là đấng tiên tri, và trong sách
tiên tri của A-hi-gia, người Si-lô, cùng trong sách dị tượng của Giê-đô,
đấng tiên kiến luận về việc Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát.
30.
Sa-lô-môn trị vì trên cả Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm tại
Giê-ru-sa-lem.
31. Sa-lô-môn an giấc cùng tổ phụ mình, được chôn trong
thành của Ða-vít, là cha người; Rô-bô-am, con trai người, cai trị thế cho
người.
2 Sử-Ký 10
chọn
đoạn khác
1. Rô-bô-am đi đến Si-chem, vì cả
Y-sơ-ra-ên đều đã tới Si-chem đặng tôn người làm vua.
2. Khi
Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, hay điều đó, thì còn ở Ê-díp-tô, là nơi
người đã trốn, để thoát khỏi mặt Sa-lô-môn; người bèn từ Ê-díp-tô trở
về.
3. Người ta sai kẻ đi gọi người về; đoạn Giê-rô-bô-am và cả
Y-sơ-ra-ên đều đến tâu với Rô-bô-am rằng:
4. Thân phụ vua đã gán ách
nặng cho chúng tôi, vậy bây giờ, hãy giảm nhẹ sự phục dịch khó nhọc này và
cái ách nặng nề mà thân phụ vua đã gán trên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ
phục sự vua.
5. Người đáp với chúng rằng: Khỏi ba ngày, các ngươi hãy
trở lại cùng ta. Dân sự bèn lui về.
6. Vua Rô-bô-am bàn nghị cùng các
trưởng lão đã chầu trước mặt Sa-lô-môn, cha người, trong lúc Sa-lô-môn còn
sống, mà rằng: Các ngươi bàn luận cho ta phải trả lời với dân sự này làm
sao?
7. Các trưởng lão thưa lại với vua rằng: Nếu vua đãi dân sự này tử
tế, ăn ở vui lòng cùng chúng nó, và lấy lời hiền lành nói với chúng nó, ắt
chúng nó sẽ làm tôi tớ vua mãi mãi.
8. Song Rô-bô-am chẳng theo mưu của
các trưởng lão đã bàn cho mình, bèn hội nghị với các người trai trẻ đã
đồng sanh trưởng với mình, và chầu trước mặt mình,
9. mà rằng: Dân sự
này đã tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ vua đã gán cho
chúng tôi; vậy các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với chúng nó làm
sao?
10. Các gã trai trẻ đồng lớn lên với người thưa rằng: Dân sự đã
thưa với vua rằng: Thân phụ vua khiến cho ách chúng tôi nặng nề; vua hãy
làm cho nó ra nhẹ; vua phải đáp lại cùng chúng như vầy: Ngón tay út ta lớn
hơn lưng của cha ta.
11. Vậy, bây giờ, cha ta đã gán một cái ách nặng
trên các ngươi, ắt ta sẽ làm cho ách các ngươi thêm nặng hơn; cha ta đã
sửa phạt các ngươi bằng roi, còn ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bò
cạp.
12. Ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am và cả dân sự đều đến cùng Rô-bô-am y
như vua đã biểu rằng: Hãy trở lại cùng ta trong ngày thứ ba.
13. Vua
Rô-bô-am đáp với dân sự cách xẳng xớm, bỏ mưu của các trưởng lão đã
bàn,
14. theo lời bàn của những kẻ trai trẻ, và đáp cùng chúng rằng:
Cha ta khiến cho ách các ngươi nặng nề; ta sẽ làm cho ách các ngươi thêm
nặng hơn; cha ta sửa phạt các ngươi bằng roi, ta sẽ sửa phạt các ngươi
bằng roi bò cạp.
15. Như vậy, vua không nghe lời dân sự, vì ấy là bởi
Ðức Chúa Trời dẫn đến, hầu cho Ðức Giê-hô-va làm ứng nghiệm lời của Ngài
đã nhờ A-hi-gia, người Si-lô, mà phán cùng Giê-rô-bô-am, con trai của
Nê-bát.
16. Khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không nghe lời họ, bèn đáp cùng
người, mà rằng: Chúng ta có phần gì với Ða-vít? Chúng ta chẳng có cơ
nghiệp gì với con trai Y-sai. Hỡi Y-sơ-ra-ên! mỗi người hãy trở về trại
mình đi. Ớ Ða-vít! từ rày khá coi chừng nhà của ngươi. Cả Y-sơ-ra-ên bằn
trở về trại mình.
17. Nhưng còn dân Y-sơ-ra-ên ở tại các thành Giu-đa
thì Rô-bô-am cai trị trên chúng.
18. Bấy giờ, vua Rô-bô-am sai
Ha-đô-ram, là người cai quản việc cống thuế, đến cùng dân Y-sơ-ra-ên; song
dân Y-sơ-ra-ên ném đá người, thì người chết. Vua Rô-bô-am lật đật lên xe
trốn về Giê-ru-sa-lem.
19. Ấy vậy, Y-sơ-ra-ên phản nghịch cùng nhà
Ða-vít cho đến ngày nay.
2 Sử-Ký 11 chọn
đoạn khác
1. Rô-bô-am trở về
thành Giê-ru-sa-lem, bèn nhóm nhà Giu-đa và nhà Bên-gia-min, được mười tám
vạn chiến sĩ kén chọn, toan đánh giặc với Y-sơ-ra-ên, để đem nước về
Rô-bô-am lại.
2. Nhưng có lời của Ðức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia,
người của Ðức Chúa Trời, rằng:
3. Hãy nói với Rô-bô-am, con trai của
Sa-lô-môn, vua Giu-đa, và với cả Y-sơ-ra-ên trong Giu-đa, cùng
Bên-gia-min, mà rằng:
4. Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi chớ đi
lên chinh chiến với anh em mình; mỗi người hãy trở về nhà mình, vì việc
này tại ta mà xảy đến. Chúng nghe theo lời của Ðức Giê-hô-va, và trở về,
không đi đánh Giê-rô-bô-am.
5. Rô-bô-am ở tại Giê-ru-sa-lem, xây các
thành trong đất Giu-đa làm nên đồn lũy.
6. Người xây Bết-lê-hem, Ê-tam,
Thê-cô-a,
7. Bết-xu-rơ, Sô-cô, A-đu-lam,
8. Gát, Ma-rê-sa, Xíp
9.
A-đô-ra-im, La-ki, A-xê-ka,
10. Xô-rê-a A-gia-lôn, và Hếp-rôn, là những
thành bền vững ở trong đất Giu-đa và đất Bên-gia-min.
11. Người làm cho
các đồn lũy ấy vững chắc, đặt những quan tướng ở đó, chứa lương thực, dầu,
và rượu;
12. còn trong mỗi thành, người sắm khiên và giáo, làm cho các
thành ấy rất bền vững. Ðất Giu-đa và đất Bên-gia-min đều thuộc về
người.
13. Những thầy tế lễ và người Lê-vi trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên,
đều từ các miền họ ở, đến cùng Rô-bô-am
14. vì các người Lê-vi lìa bỏ
địa hạt các thành mình và sản nghiệp mình, mà đến đất Giu-đa và thành
Giê-ru-sa-lem; bởi Giê-rô-bô-am và các con trai người đuổi họ đi, không
cho làm chức thầy tế lễ của Ðức Giê-hô-va nữa;
15. Giê-rô-bô-am bèn lập
những thầy tế lễ cho các nơi cao, cho các hình tượng dê đực, và bò con mà
người đã làm.
16. Lại trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, phàm ai rắp lòng
tìm kiếm Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì đều theo những thầy
tế lễ và người Lê-vi mà đến Giê-ru-sa-lem đặng tế lễ cho Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của tổ phụ mình.
17. Trong ba năm, chúng làm cho nước Giu-đa
vững chắc, giúp đỡ Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, trở nên cường thạnh;
vì trong ba năm ấy chúng đi theo con đường của Ða-vít và Sa-lô-môn.
18.
Rô-bô-am lấy Ma-ha-lát, con gái của Giê-ri-mốt, cháu của Ða-vít, làm vợ;
lại cưới A-bi-hai, con gái Ê-li-áp, cháu của Y-sai;
19. nàng sanh cho
người những con trai, là Giê-úc, Sê-ma-ria, và Xa-ham.
20. Sau nàng,
người lại cưới Ma-a-ca, con gái Áp-sa-lôn; nàng sanh cho người, A-bi-gia,
Át-thai Xi-xa, và Sê-lô-mít.
21. Vả, Rô-bô-am yêu mến Ma-a-ca con gái
Áp-sa-lôm hơn các hậu phi khác (vì người có lấy mười tám hoàng hậu và sáu
mươi cung phi, sanh ra hai mươi tám con trai và sáu mươi con gái).
22.
Rô-bô-am lập A-bi-gia, con trai Ma-a-ca, làm trưởng, làm thái tử giữa anh
em mình; vì người toan lập con ấy làm vua.
23. Rô-bô-am cư xử cách khôn
ngoan, phân tản các con trai mình đi ở khắp trong cõi Giu-đa và
Bên-gia-min, nơi các thành bền vững, cấp cho chúng lương thực dư dật, và
cưới nhiều vợ cho.
2
Sử-Ký 12 chọn
đoạn khác
1. Xảy khi nước của Rô-bô-am vừa
được lập vững bền, và người được cường thạnh, thì người và cả Y-sơ-ra-ên
liền bỏ luật pháp của Ðức Giê-hô-va.
2. Vì chúng có phạm tội cùng Ðức
Giê-hô-va, nên xảy ra trong năm thứ năm đời vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua
Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem;
3. có dẫn theo một ngàn hai
trăm cỗ xe và sáu vạn lính kỵ; lại có dân Li-by, dân Su-ri, và dân
Ê-thi-ô-bi từ Ê-díp-tô kéo lên với người, số không thể đếm đặng.
4.
Si-sắc bèn chiếm lấy các thành bền vững thuộc về Giu-đa, rồi đến tận
Giê-ru-sa-lem.
5. Tiên tri Sê-ma-gia đến cùng Rô-bô-am và các kẻ làm
đầu Giu-đa, đương nhóm tại Giê-ru-sa-lem để trốn khỏi Si-sắc, mà nói rằng:
Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi đã bỏ ta, nên ta cũng đã bỏ các
ngươi vào tay Si-sắc.
6. Bấy giờ, các kẻ làm đầu của Y-sơ-ra-ên và vua
đều hạ mình xuống, mà nói rằng: Ðức Giê-hô-va là công bình.
7. Khi Ðức
Giê-hô-va thấy chúng hạ mình xuống, thì có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng
Sê-ma-gia rằng: Chúng nó đã hạ mình xuống, ta sẽ không hủy diệt chúng nó;
song sẽ giải cứu chúng một chút, và cơn giận ta sẽ chẳng cậy tay Si-sắc mà
đổ ra trên Giê-ru-sa-lem;
8. song chúng nó sẽ bị phục dịch hắn, hầu cho
biết phục sự ta và phục dịch nước khác là có phân biệt thể nào.
9.
Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem, đoạt lấy các bửu vật
của đền Ðức Giê-hô-va và cung vua: người đoạt lấy hết thảy; cũng đoạt lấy
những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm.
10. Vua Rô-bô-am bèn làm
những khiên bằng đồng thế cho, và giao nơi tay các quan chánh thị vệ canh
giữ cửa của cung điện vua.
11. Hễ khi nào vua vào trong đền của Ðức
Giê-hô-va, thì các quan thị vệ cầm khiên đến, đoạn đem nó lại vào phòng
của quan thị vệ.
12. Khi vua hạ mình xuống, cơn giận của Ðức Giê-hô-va
lánh khỏi người, không diệt hết thảy; và lại trong Giu-đa còn có sự
lành.
13. Ấy vậy vua Rô-bô-am làm cho mình ra bền vững trong
Giê-ru-sa-lem và trị vì. Vả khi Rô-bô-am lên ngôi, tuổi đã bốn mươi mốt;
người cai trị mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, tức là thành mà Ðức
Giê-hô-va đã chọn trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng đặt danh Ngài tại
đó; còn mẹ người tên là Na-a-ma, người đàn bà Am-môn.
14. Rô-bô-am làm
điều ác, vì không rắp lòng tìm cầu Ðức Giê-hô-va.
15. Các công việc của
Rô-bô-am từ đầu đến cuối, đều chép trong sách truyện của Sê-ma-gia, đấng
tiên tri, trong sách Y-đô, đấng tiên kiến, luận về gia phổ. Rô-bô-am và
Giê-rô-bô-am hằng đánh giặc với nhau luôn luôn.
16. Rô-bô-am an giấc
cùng tổ phụ mình, được chôn trong thành Ða-vít; A-bi-gia, con trai người,
cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 13 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ mười tám
đời vua Giê-rô-bô-am, A-bi-gia lên ngôi làm vua Giu-đa.
2. Người cai
trị ba năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là Mi-ca-gia, con gái của
U-ri-ên ở Ghi-bê-a. A-bi-gia và Giê-rô-bô-am đánh giặc với nhau.
3.
A-bi-gia ra trận với một đạo chiến sĩ, bốn mươi vạn người kén chọn; còn
Giê-rô-bô-am dàn trận đối với người, có tám mươi vạn người kén chọn, là
lính chiến mạnh dạn.
4. A-bi-gia đứng trên núi Xê-ma-ra-im trong miền
núi Ép-ra-im, mà nói rằng: Hỡi Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên, khá
nghe!
5. Bởi sự giao ước bằng muối, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên đã ban nước Y-sơ-ra-ên cho Ða-vít và cho các con trai người đến
đời đời, các ngươi há chẳng biết sao?
6. Dẫu vậy, Giê-rô-bô-am, con
trai Nê-bát, tôi tớ của Sa-lô-môn, là con trai của Ða-vít, bèn chổi dậy
phản nghịch cùng Chúa mình;
7. những kẻ du đãng, đồ phàm hèn, đều hiệp
lại theo người chúng nó tự làm mình ra mạnh, nghịch với Rô-bô-am, con trai
của Sa-lô-môn; còn Rô-bô-am thì trẻ tuổi, nhát gan, không chống cự nổi
chúng nó.
8. Vậy bây giờ, các ngươi tưởng rằng các ngươi sẽ chống cự
nổi nước của Ðức Giê-hô-va đã ban cho các con trai của Ða-vít, các ngươi
một đoàn đông lớn, có đem theo bò con vàng mà Giê-rô-bô-am đã đúc làm thần
của các ngươi.
9. Các ngươi há chẳng có đuổi những thầy tế lễ của Ðức
Giê-hô-va, là con cháu A-rôn, và người Lê-vi sao? Các ngươi có theo phong
tục của các dân ngoại mà lập lấy những thầy tế lễ cho mình; phàm ai đến
đem một con bò đực tơ và bảy con chiên đực đặng dâng làm lễ, thì được làm
thầy tế lễ của những thần hư không.
10. Nhưng về phần chúng ta,
Giê-hô-va vẫn là Ðức Chúa Trời của chúng ta, chúng ta chẳng có lìa bỏ
Ngài; những thầy tế lễ, là con cháu của A-rôn, đều phục sự Ðức Giê-hô-va,
và các người Lê-vi giữ phần việc của họ;
11. mỗi buổi sớm mai và buổi
chiều, chúng xông của lễ thiêu và thuốc thơm cho Ðức Giê-hô-va; chúng cũng
sắp bánh trần thiết trên bàn sạch sẽ, thắp các đèn của chơn đèn vàng để nó
cháy mỗi buổi chiều tối; vì chúng ta vâng giữ làm theo mạng lịnh của
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta, còn các ngươi lại bỏ đi.
12. Nầy, Ðức
Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm đầu chúng ta, và những thầy tế lễ của Ngài
cầm những kèn tiếng vang đặng thổi lên nghịch cùng các ngươi. Hỡi con cái
Y-sơ-ra-ên! chớ tranh chiến cùng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ phụ các
ngươi, vì chẳng thắng được đâu!
13. Nhưng Giê-rô-bô-am truyền binh phục
đi vòng đặng đến phía sau chúng vậy quân Y-sơ-ra-ên ở đằng trước quân
Giu-đa còn binh phục ở đằng sau.
14. Giu-đa xây ngó lại, kìa, giặc đã
có phía trước và phía sau, bèn kêu cầu cùng Ðức giê-hô-va, và những thầy
tế lễ thổi kèn.
15. Bấy giờ người Giu-đa kêu la, thì Ðức Giê-hô-va đánh
Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên tại trước mặt A-bi-gia và dân Giu-đa.
16.
Dân Y-sơ-ra-ên chạy trốn trước mặt dân Giu-đa, và Ðức Chúa Trời phó chúng
nó vào tay dân Giu-đa.
17. A-bi-gia và quân lính người làm cho chúng bị
thua trận cả thể, có năm mươi vạn tinh binh của Y-sơ-ra-ên bị thương ngã
chết.
18. Như vậy, trong lúc ấy, dân Y-sơ-ra-ên bị sỉ nhục, còn dân
Giu-đa được thắng hơn, vì chúng nhờ cậy nơi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ họ.
19. A-bi-gia đuổi theo Giê-rô-bô-am, chiếm lấy những thành, là
Bê-tên và các hương thôn nó; Giê-sa-na và các hương thôn nó; Ép-rôn và các
hương thôn nó.
20. Trong lúc A-bi-gia còn sống, Giê-rô-bô-am chẳng được
cường thạnh lại; Ðức Giê-hô-va hành hại người, thì người chết.
21. Còn
A-bi-gia được cường thạnh, cưới mười bốn người vợ, sanh được hai mươi hai
con trai và mười sáu con gái.
22. Các công sự khác của A-bi-gia, những
việc làm và lời nói của người, đều chép trong sách truyện của tiên tri
Y-đô.
2 Sử-Ký 14
chọn
đoạn khác
1. A-bi-gia an giấc cùng tổ phụ mình, và
người ta chôn người trong thành Ða-vít. A-sa, con trai người, cai trị thế
cho người. Trong đời người, xứ được hòa bình mười năm.
2. A-sa làm điều
thiện và ngay thẳng trước mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của người;
3. vì
người cất bỏ các bàn thờ của thần ngoại bang, và những nơi cao, đập bể các
trụ thờ, và đánh đổ những tượng A-sê-ra;
4. người khuyên Giu-đa phải
tìm cầu Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ phụ chúng, cùng làm theo luật pháp
và điều răn của Ngài.
5. Người cũng trừ bỏ những nơi cao và trụ thờ mặt
trời khỏi các thành của Giu-đa. Nước được bằng an trước mặt người.
6.
Người xây những thành bền vững trong đất Giu-đa, vì trong mấy năm đó xứ
hòa bình, không có chiến trận, bởi Ðức Giê-hô-va đã ban cho người được an
nghỉ.
7. Người bảo dân Giu-đa rằng: Ta hãy xây cất các thành này, đắp
vách tường chung quanh, dựng tháp, làm cửa và then, đương lúc xứ hãy còn
thuộc về chúng ta; vì chúng ta có tìm kiếm Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
chúng ta; chúng ta có tìm được Ngài, Ngài đã ban cho chúng ta bình an bốn
phía. Chúng bèn xây cất và được thành công. A-sa thắng quân
Ê-thi-ô-bi
8. A-sa có một đạo binh ba mươi vạn người Giu-đa, cầm khiên
và giáo, và hai mươi tám vạn người người Bên-gia-min cầm thuẫn và giương
cung; hết thảy đều là người mạnh dạn.
9. Xê-rách, người Ê-thi-ô-bi kéo
đạo binh một trăm vạn người, và ba trăm cỗ xe, ra hãm đánh người Giu-đa,
và đi đến Ma-rê-sa.
10. A-sa ra đón người, dàn trận tại trong trũng
Xê-pha-ta, gần Ma-rê-sa.
11. A-sa cầu khẩn Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
mình, mà rằng: Lạy Ðức Giê-hô-va! Trừ ra Chúa chẳng có ai giúp đỡ người
yếu thắng được người mạnh; Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng tôi ôi! Xin hãy
giúp đỡ chúng tôi, vì chúng tôi nương cậy nơi Chúa; ấy là nhơn danh Chúa
mà chúng tôi đến đối địch cùng đoàn quân này. Ðức Giê-hô-va ôi! Ngài là
Ðức Chúa Trời chúng tôi; chớ để loài người thắng hơn Chúa!
12. Ðức
Giê-hô-va bèn đánh dân Ê-thi-ô-bi tại trước mặt dân Giu-đa và vua A-sa;
quân Ê-thi-ô-bi chạy trốn.
13. A-sa và quân lính theo người, đều đuổi
chúng cho đến Ghê-ra; quân Ê-thi-ô-bi ngã chết nhiều, đến đỗi chẳng còn
gượng lại được, vì chúng bị thua trước mặt Ðức Giê-hô-va và đạo binh của
Ngài. Người Giu-đa đoạt được của giặc rất nhiều;
14. cũng hãm đánh các
thành chung quanh Ghê-ra, vì sự kinh khiếp của Ðức Giê-hô-va giáng trên
các thành đó; rồi quân lính A-sa cướp lấy hết thảy của cải trong các thành
ấy, vì trong nó có của cải rất nhiều.
15. Lại cũng đánh phá các chuồng
súc vật, bắt đem đi rất nhiều chiên và lạc đà; đoạn trở về
Giê-ru-sa-lem.
2 Sử-Ký
15 chọn
đoạn khác
1. Thần Ðức Chúa Trời cảm động
A-xa-ria, con trai của Ô-đết: người đi ra đón A-sa, mà nói với người
rằng:
2. Hỡi A-sa, cả Giu-đa, và Bên-gia-min, hãy nghe lời ta: Các
ngươi theo Ðức Giê-hô-va chừng nào, thì Ðức Giê-hô-va ở với các ngươi
chừng nấy; nếu các ngươi tìm Ngài, ắt sẽ gặp Ngài được; nếu các ngươi lìa
bỏ Ngài, thì Ngài sẽ lìa bỏ các ngươi.
3. Ðã lâu ngày, Y-sơ-ra-ên không
có Chúa thật, không có thầy tế lễ dạy dỗ, cũng chẳng có luật pháp;
4.
song trong lúc khốn khó, chúng trở lại cùng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, mà tìm cầu Ngài, thì lại gặp Ngài đặng.
5. Trong khi ấy,
dân của xứ phải bị sự rối loạn nhiều, kẻ ra kẻ vào không được bằng
yên.
6. Nước nầy giày đạp nước kia, thành này giày đạo thành nọ; vì Ðức
Chúa Trời lấy đủ thứ khổ nạn làm cho chúng rối loạn.
7. Song các ngươi
hãy mạnh lòng, tay các ngươi chớ nhát sợ, vì việc các ngươi làm sẽ được
phần thưởng.
8. Khi A-sa đã nghe các lời này và lời tiên tri của tiên
tri Ô-đết, thì giục lòng mạnh mẽ, bèn trừ bỏ những thần tượng gớm ghiếc
khỏi cả đất Giu-đa và Bên-gia-min, cùng khỏi các thành người đã đoạt lấy
trên miền núi Ép-ra-im; người tu bổ lại cái bàn thờ của Ðức Giê-hô-va ở
trước hiên cửa Ðức Giê-hô-va.
9. Người nhóm hiệp hết thảy người Giu-đa,
người Bên-gia-min, và kẻ khách thuộc về chi phái Ép-ra-im, Ma-na-se, và
Si-mê-ôn, vẫn kiều ngụ với chúng; vì có nhiều người Y-sơ-ra-ên khi thấy
rằng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của A-sa ở cùng người, thì đều về đằng
người.
10. Tháng ba năm mười lăm đời A-sa, chúng nhóm hiệp tại
Giê-ru-sa-lem;
11. nhằm ngày ấy họ lấy trong các súc vật mình đã đoạt
được dẫn về bảy trăm con bò đực và bảy ngàn con chiên mà tế lễ Ðức
Giê-hô-va.
12. Chúng toan ước nhau hết lòng hết ý tìm kiếm Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của tổ phụ mình,
13. và hễ ai không tìm kiếm Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì sẽ bị xử tử vô luận nhỏ hay lớn, nam hay
nữ.
14. Chúng cất tiếng lớn mà thề cùng Ðức Giê-hô-va, reo mừng, thổi
kèn, thổi còi.
15. Cả Giu-đa đều vui mừng về lời thề ấy, vì chúng hết
lòng mà phát thề, và hết ý tìm cầu Ðức Giê-hô-va; rồi chúng tìm gặp Ngài
đặng. Ðức Giê-hô-va bèn ban cho chúng được bình an bốn phía.
16. Vả
lại, vì Ma-a-ca, mẹ vua A-sa lột chức thái hậu của bà, đánh đổ hình tượng
ấy và nghiền nát đi, rồi thiêu đốt trong trũng Xết-rôn.
17. Song các
nơi cao không phá dỡ khỏi Y-sơ-ra-ên; dầu vậy, lòng A-sa vẫn trọn lành cả
đời người.
18. Người đem vào đền của Ðức Giê-hô-va các vật thánh của
cha người, và những vật mà chính mình người đã biệt riêng ra thánh, hoặc
vàng, hoặc bạc, hay là những khí dụng.
19. Chẳng có giặc giã cho đến
năm thứ ba mươi lăm đời A-sa.
2 Sử-Ký 16 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ ba mươi
sáu đời A-sa, Ba-ê-ba, vua Y-sơ-ra-ên, đi lên đánh Giu-đa, cất đồn lũy
Ra-ma, để làm cho dân sự của A-sa, vua Giu-đa, không ra vào được.
2.
Khi ấy A-sa lấy bạc vàng ở trong kho của đền Ðức Giê-hô-va và trong kho
của cung vua, gởi đến Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, ở tại Ða-mách, mà rằng:
3.
Chúng ta hãy lập giao ước với nhau, y như thân phụ của tôi và thân phụ của
ông đã làm. Kìa, tôi gởi dâng cho ông bạc và vàng: hãy đi hủy ước của ông
với Ba-ê-ba, vua Y-sơ-ra-ên, để người xa khỏi tôi.
4. Bên-Ha-đát nghe
theo lời vua A-sa, bèn sai các tướng đạo binh mình đi hãm đánh các thành
của Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy Y-giôn, Ðan, A-bên-Ma-im, cùng các thành kho
tàng của đất Nép-ta-li.
5. Xảy khi Ba-ê-ba hay điều đó, liền thôi xây
đồn Ra-ma và bãi công việc.
6. Vua A-sa bèn nhóm hết thảy người Giu-đa;
chúng lấy đem đi đá và gỗ mà Ba-ê-ba đã dùng xây cất Ra-ma; rồi A-sa dùng
đồ ấy xây cất Ghê-ba và Mích-ba.
7. Trong khi ấy, đấng tiên kiến
Ha-na-ni đến cùng A-sa, vua Giu-đa, mà nói rằng: Bởi vì vua nương cậy vua
Sy-ri, không nương cậy nơi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ông, nên đạo quân
vua Sy-ri đã thoát khỏi tay ông.
8. Dân Ê-thi-ô-bi và dân Li-by há
chẳng phải một đạo quân đông lắm sao? Xe và lính kỵ họ há chẳng phải nhiều
lắm ư? Dẫu vậy, bởi vua nhờ cậy Ðức Giê-hô-va, nên Ngài phó chúng nó vào
tay vua.
9. Vì con mắt của Ðức Giê-hô-va soi xét khắp thế gian, đặng
giúp sức cho kẻ nào có lòng trọn thành đối với Ngài. Trong việc này vua có
cư xử cách dại dột, nên từ này về sau vua sẽ có giặc giã.
10. A-sa nổi
giận đấng tiên kiến, đem cầm tù người; vì tại việc ấy, vua tức giận người
lắm. Trong lúc đó, A-sa cũng hà hiếp mấy người của dân sự.
11. Nầy các
công việc của A-sa, từ đầu đến cuối, đều đã chép trong sách các vua Giu-đa
và Y-sơ-ra-ên.
12. Năm thứ ba mươi chín đời A-sa trị vì, A-sa bị đau
chơn, đến đỗi nặng lắm; trong cơn bịnh người không tìm kiếm Ðức Giê-hô-va,
nhưng tìm kiếm những thầy thuốc.
13. A-sa an giấc cùng tổ phụ người,
băng hà năm thứ bốn mươi mốt đời người trị vì.
14. Người ta chôn người
nơi mồ mả chính người đã đào cho mình trong thành Ða-vít, để người nằm
trên một cái giường đầy thuốc thơm, chế theo phép hòa hương; đoạn người ta
xông hương cho người rất nhiều.
2 Sử-Ký 17 chọn
đoạn khác
1. Giô-sa-phát, con
trai A-sa, cai trị thế cho người; người làm cho nước mình ra mạnh để
nghịch cùng Y-sơ-ra-ên,
2. đặt những cơ binh nơi các thành bền vững của
Giu-đa, lập đồn trong xứ Giu-đa và trong các thành Ép-ra-im, mà A-sa, cha
người, đã chiếm lấy.
3. Ðức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát, vì người đi
theo đường lối đầu tiên của Ða-vít, tổ phụ mình, không tìm cầu thần
Ba-anh,
4. nhưng tìm cầu Ðức Chúa Trời của tổ phụ mình, giữ theo các
điều răn của Ngài, chớ chẳng làm như Y-sơ-ra-ên.
5. Vì vậy Ðức
Giê-hô-va khiến nước vững chắc trong tay người; cả Giu-đa dâng lễ vật cho
Giô-sa-phát, người được của cải nhiều và sự vinh hiển lớn.
6. Người
vững lòng theo các đường lối của Ðức Giê-hô-va; lại phá dỡ các nơi cao và
những thần tượng A-sê-ra khỏi Giu-đa.
7. Năm thứ ba đời Giô-sa-phát trị
vì, người sai các tôi tớ mình, là Bên-Hai, Ô-ba-đia, Xa-cha-ri,
Na-tha-na-ên, và Mi-ca-gia đi dạy dỗ trong các thành xứ Giu-đa;
8. có
mấy người Lê-vi đi với họ, là Sê-ma-gia, Nê-tha-nia, Xê-ba-đia, A-sa-ên,
Sê-mi-ra-mốt, Giô-na-than, A-đô-ni-gia, Tô-bi-gia, và Tô-ba-đô-ni-gia; lại
có Ê-li-sa-ma và Giô-ram, hai thầy tế lễ cũng đi nữa;
9. chúng có đem
theo mình sách luật pháp của Ðức Giê-hô-va, đi vòng các thành xứ Giu-đa mà
dạy dỗ dân sự.
10. Ðức Giê-hô-va khiến các nước ở bốn phía của Giu-đa
kinh hãi, chẳng dám chinh chiến với Giô-sa-phát.
11. Có dân Phi-li-tin
đem dâng cho Giô-sa-phát những lễ vật và bạc cống thuế; người A rạp cũng
dẫn đến cho người những bầy súc vật: bảy ngàn bảy trăm con chiên đực, và
bảy ngàn bảy trăm con dê đực.
12. Giô-sa-phát càng ngày càng cường đại,
cho đến tột bực. Người xây cất trong xứ Giu-đa những đền đài và thành kho
tàng.
13. Người có nhiều công việc trong các thành Giu-đa, và tại
Giê-ru-sa-lem có những lính chiến mạnh dạn.
14. Ðây là sổ kể các người
ấy tùy theo nhà tổ phụ họ; về Giu-đa, có những quan tướng ngàn người, là
Át-na làm đầu, người lãnh ba mươi vạn người mạnh dạn;
15. kế người có
Giô-ha-nan làm đầu, người lãnh hai mươi tám vạn người mạnh dạn;
16. sau
người này có A-ma-sia, con trai của Xiếc-ri, là người vui lòng dâng mình
cho Ðức Giê-hô-va, người lãnh hai mươi vạn người mạnh dạn.
17. Về
Bên-gia-min có Ê-li-a-đa, là người mạnh dạn, người lãnh hai mươi vạn quân
cầm cung và khiên;
18. kế người có Giê-hô-xa-bát, người lãnh mười tám
vạn binh đều sắm sửa ra trận.
19. Ðó là những người giúp việc vua, trừ
ra những người mà vua đặt trong các thành bền vững khắp xứ
Giu-đa.
2 Sử-Ký 18
chọn
đoạn khác
1. Giô-sa-phát đã được nhiều của cải và sự
vinh hiển, bèn kết sui gia cùng A-háp.
2. Cách một vài năm, người đi
xuống A-háp tại Sa-ma-ri, A-háp giết nhiều chiên bò ăn mừng Giô-sa-phát và
dân sự theo người, rồi khuyên người đi lên hãm đánh Ra-mốt tại
Ga-la-át.
3. A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, nói với Giô-sa-phát, vua Giu-đa,
rằng: Vua muốn đến cùng tôi hãm đánh Ra-mốt tại Ga-la-át chăng? Người đáp:
Tôi cũng như vua; dân sự tôi cũng như dân sự vua; tôi sẽ cùng vua đi chinh
chiến.
4. Giô-sa-phát lại nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi xin vua hãy
cần vấn Ðức Giê-hô-va trước đã.
5. Vua Y-sơ-ra-ên nhóm các tiên tri, số
là bốn trăm người, mà hỏi rằng: Chúng ta có nên đánh Ra-mốt tại Ga-la-át,
hay là chẳng nên? Chúng đáp rằng: Hãy đi lên; Ðức Chúa Trời sẽ phó nó vào
tay vua.
6. Nhưng Giô-sa-phát tiếp rằng: Ở đây, còn có một đấng tiên
tri nào khác của Ðức Giê-hô-va, để chúng ta hỏi người ấy chăng?
7. Vua
Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát rằng: Còn có một người tên là Mi-chê con
trai của Giêm-la, nhờ người ấy ta có thể cầu vấn Ðức Giê-hô-va; nhưng tôi
ghét người, vì người không hề nói tiên tri lành về tôi, bèn là dữ luôn.
Giô-sa-phát nói: Xin vua chớ nói như vậy!
8. Vua Y-sơ-ra-ên bèn gọi một
hoạn quan đến mà bảo rằng: Hãy đòi Mi-chê, con trai Giêm-la, đến lập
tức.
9. Vả, vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều
mặc đồ triều phục, đương ngồi trên ngai mình, ở nơi sân đạp lúa tại cửa
thành Sa-ma-ri; còn hết thảy các tiên tri nói tiên tri ở trước mặt hai
vua.
10. Sê-đê-kia, con trai Kê-na-na, làm lấy những sừng bằng sắt, và
nói rằng: Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Với các sừng nầy, vua sẽ báng dân
Sy-ri cho đến khi diệt hết chúng nó.
11. Các tiên tri đều nói một cách
mà rằng: Hãy đi lên đánh Ra-mốt tại Ga-la-át; vua sẽ được thắng, vì Ðức
Giê-hô-va sẽ phá thành ấy vào tay vua.
12. Vả, sứ giả đã đi đòi Mi-chê,
nói với người rằng: Nầy những tiên tri đều đồng thinh báo cáo sự lành cho
vua; vậy tôi xin ông cũng hãy lấy lời như lời của họ mà báo cáo điều
lành.
13. Nhưng Mi-chê đáp rằng: Nguyện Ðức Giê-hô-va hằng sống, hễ sự
gì Ðức Chúa Trời ta sẽ phán dặn, thì ta sẽ nói cho.
14. Khi người đã
đến cùng vua, vua bèn hỏi rằng: Hỡi Mi-chê, chúng ta có nên hãm đánh
Ra-mốt tại Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Người đáp: Hãy đi lên, vua sẽ
được thắng; chúng nó sẽ bị phó vào tay hai vua.
15. Vua nói với người
rằng: Biết bao lần ta đã lấy lời thề buộc ngươi nhơn danh Ðức Giê-hô-va
nói chơn thật với ta?
16. Mi-chê đáp: Tôi thấy cả Y-sơ-ra-ên tản lạc
trên các núi như bầy chiên không có người chăn; và Ðức Giê-hô-va có phán
rằng: Những kẻ ấy không có chủ, ai nấy hãy trở về nhà mình bình an.
17.
Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát rằng: Tôi há chẳng có nói với vua rằng
người không nói tiên tri điều lành về việc tôi, bèn là điều dữ sao?
18.
Mi-chê lại tiếp: Vậy, hãy nhe lời của Ðức Giê-hô-va. Tôi thấy Ðức
Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài, còn cả đạo binh trên trời đứng chầu bên hữu
và bên tả.
19. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ai sẽ đi dụ A-háp, vua
Y-sơ-ra-ên, để người đi lên Ra-mốt tại Ga-la-át mà ngã chết ở đó? Rồi
người nói cách này, kẻ nói cách khác.
20. Bấy giờ, có một thần đi ra,
đứng trước mặt Ðức Giê-hô-va, mà thưa rằng: Tôi sẽ đi dụ người Ðức
Giê-hô-va phán hỏi: Dụ làm sao?
21. Thần thưa lại rằng: Tôi sẽ đi ra
làm một thần nói dối trong miệng các tiên tri của người. Ðức Giê-hô-va
phán: Phải, ngươi sẽ dụ người được: Hãy đi, làm như lời.
22. Vậy bây
giờ, hãy xem Ðức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối trong miệng các tiên
tri của vua, và Ðức Giê-hô-va đã phán sẽ giáng họa trên vua.
23.
Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đi đến gần, vả Mi-chê nơi má, mà rằng:
Thần Ðức Giê-hô-va có từ khỏi ta mà đi ngả nào đặng mách bảo cho
ngươi?
24. Mi-chê đáp: Kìa, trong ngày ngươi chạy từ phòng này qua
phòng kia đặng ẩn lánh, thì sẽ biết điều đó.
25. Vua Y-sơ-ra-ên truyền
lịnh rằng: Hãy bắt Mi-chê dẫn đến A-môn, là quan cai thành, và cho
Giô-ách, con trai của vua,
26. rồi hãy nói: Vua bảo như vầy: Hãy bỏ tù
người này, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về bình
an.
27. Mi-chê bèn nói: Nếu vua trở về bình an, ắt Ðức Giê-hô-va không
có cậy tôi phán. Người lại nói: Hỡi chúng dân, hết thảy hãy nghe điều
đó!
28. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đồng đi lên
Ra-mốt tại ga-la-át.
29. Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát rằng: Tôi
sẽ cải dạng ăn mặc, rồi ra trận; còn vua, hãy mặc áo xống vua. Vua
Y-sơ-ra-ên bèn ăn mặc cải dạng, rồi hai người đi ra trận.
30. Vả, vua
Sy-ri có truyền lịnh cho các quan cai xe mình rằng: Chớ áp đánh ai hoặc
nhỏ hay lớn, nhưng chỉ một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi,
31. Xảy khi các
quan cai xe thấy Giô-sa-phát, thì nói rằng: Ấy là vua Y-sơ-ra-ên. Chúng
bèn xây lại đặng áp đánh người. Giô-sa-phát kêu la lớn, Ðức Giê-hô-va tiếp
cứu người, và Ðức Chúa Trời khiến chúng dang xa khỏi người.
32. Vậy,
xảy khi các quan cai xe thấy chẳng phải vua Y-sơ-ra-ên, thì thối lại chẳng
đuổi theo nữa.
33. Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn vua
Y-sơ-ra-ên trúng nhằm vua nơi mối giáp đâu lại; A-háp nói với người đánh
xe mình rằng: Hãy quay cương lại đem ta ra khỏi hàng quân, vì ta bị thương
nặng.
34. Trong ngày đó thế trận càng thêm dữ dội; song vua Y-sơ-ra-ên
đứng vịn trên xe mình, đối mặt cùng dân Sy-ri, cho đến buổi chiều; người
chết vào lối mặt trời lặn.
2 Sử-Ký 19 chọn
đoạn khác
1. Giô-sa-phát, vua
Giu-đa, trở về bình an nơi cung mình tại Giê-ru-sa-lem.
2. Giê-hu, con
trai của Ha-na-ni, đấng tiên kiến, đi ra đón vua Giô-sa-phát, mà nói rằng:
Vua há giúp đỡ kẻ hung ác, và thương mến kẻ ghen ghét Ðức Giê-hô-va sao?
Bởi cớ đó, có cơn giận của Ðức Giê-hô-va đến trên vua.
3. Nhưng trong
vua có điều lành, vì vua có trừ diệt khỏi xứ những thần A-sê-ra, và rắp
lòng tìm cầu Ðức Chúa Trời.
4. Giô-sa-phát ở tại Giê-ru-sa-lem. Ðoạn,
người lại đi ra tuần soát dân sự, từ Bê-e-Sê-ba cho đến núi Ép-ra-im, dẫn
dắt chúng trở về cùng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ phụ họ.
5. Người
lập quan xét trong khắp nước, tại các thành bền vững của Giu-đa, thành nào
cũng có.
6. Rồi người bảo các quan xét rằng: Hãy cẩn thận việc các
người làm; vì chẳng phải vì loài người mà các ngươi xét đoán đâu, bèn là
vì Ðức Giê-hô-va; Ngài sẽ ở cùng các ngươi trong việc xét đoán.
7. Vậy
bây giờ, phải kính sợ Ðức Giê-hô-va, khá cẩn thận mà làm; vì Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của chúng ta chẳng trái phép công bình, chẳng thiên vị người,
chẳng nhận của hối lộ.
8. Lại Giô-sa-phát cũng chọn mấy người Lê-vi,
thầy tế lễ và trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên, đặt họ tại Giê-ru-sa-lem, đặng vì
Ðức Giê-hô-va mà đoán xét và phân xử việc kiện cáo. Chúng đều trở về
Giê-ru-sa-lem.
9. Người dạy biểu chúng rằng: Các ngươi phải kính sợ Ðức
Giê-hô-va, lấy lòng trọn lành trung tín mà làm như vậy.
10. Hễ có anh
em các ngươi ở trong các thành họ, đem đến trước mặt các ngươi việc tranh
tụng nào, hoặc vì sự đổ huyết, hoặc vì phạm luật lệ và điều răn, giới mạng
và pháp độ, thì các ngươi phải dạy bảo họ chớ phạm tội cùng Ðức Giê-hô-va,
e có cơn giận nghịch cùng các ngươi và anh em các ngươi: các ngươi làm như
vậy, ắt không gây cho mình mắc tội.
11. Nầy thầy tế lễ cả A-ma-ria, sẽ
quản lý những việc thuộc về Ðức Giê-hô-va, và Xê-ba-đia, con trai
Ích-ma-ên, trưởng tộc chi phái Giu-đa, sẽ quản lý những việc thuộc về vua;
trước mặt các ngươi cũng có những người Lê-vi làm quan cai. Các ngươi khác
làm việc cách can đởm, và Ðức Giê-hô-va sẽ ở cùng người
thiện.
2 Sử-Ký 20
chọn
đoạn khác
1. Sau các việc này, xảy có dân Mô-áp, dân
Am-môn, và những người Mao-nít ở cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với
Giô-sa-phát
2. Bấy giờ, có người đến thuật cho Giô-sa-phát, mà rằng: Có
một đám quân rất đông từ bên bờ kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hạm
đánh vua; kìa chúng đương ở tại Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là
Ên-ghê-đi.
3. Giô-sa-phát sợ hãi, và rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn
một ngày.
4. Giu-đa nhóm lại đặng cầu Ðức Giê-hô-va cứu giúp; người ta
ở các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu Ðức Giê-hô-va.
5. Giô-sa-phát
đứng trong hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của Ðức
Giê-hô-va, trước hành lang mới,
6. mà cầu nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các
từng trời sao? Há chẳng phải Ðấng quản trị muôn dân muôn nước sao? Ở nơi
tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi.
7. Hỡi
Ðức Chúa Trời chúng tôi! Ngài há chẳng phải đã đuổi dân ở xứ này khỏi
trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho dòng dõi Áp-ra-ham, là
bạn hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao?
8. Chúng đã ở đó, và đã cất
cho danh Chúa một đền thánh mà rằng:
9. Nếu tai họa giáng trên chúng
tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt, hoặc dịch hạch, hay là cơn đói
kém, thì chúng tôi sẽ đứng trước đền này và trước mặt Chúa (vì danh Chúa ở
trong đền này), mà kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng tôi, thì Chúa sẽ
dủ nghe và giải cứu cho.
10. Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Ê-díp-tô
lên, Chúa có cấm họ loán đến xứ dân Am-môn, dân Mô-áp, và người ở núi
Sê-i-rơ; dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó, không diệt chúng nó đi;
11.
kìa, chúng nó báo lại chúng tôi dường nào, đến toan đuổi chúng tôi khỏi
sản nghiệp Chúa đã ban cho chúng tôi nhận lấy.
12. Hỡi Ðức Chúa Trời
chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng
tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đương đến hãm
đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng
con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!
13. Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt
Ðức Giê-hô-va với các đứa nhỏ, vợ, và con cái mình.
14. Bấy giờ, tại
giữa hội chúng, Thần Ðức Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai
Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi
thuộc về dòng A-sáp,
15. mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa và dân cư
thành Giê-ru-sa-lem, cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Ðức Giê-hô-va phán
cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo này:
vì trận giặc này chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Ðức Chúa
Trời.
16. Ngày mai, hãy đi xuống đón chúng nó: kìa, chúng nó đi lên dốc
Xít, các ngươi sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng vắng
Giê-ru-ên.
17. Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến;
hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Ðức Giê-hô-va ở cùng
các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai,
hãy đi ra đón chúng nó, vì Ðức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.
18.
Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư thành
Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Ðức Giê-hô-va, mà thờ lạy
Ngài.
19. Người Lê-vi về dòng Kê-hát và về dòng Cô-rê đều đứng dậy cất
tiếng lớn mà khen ngợi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
20. Buổi
sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm, kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đương lúc
chúng đi, Giô-sa-phát đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và dân cư
thành Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các
ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các đấng tiên tri Ngài, thì các
ngươi sẽ được may mắn.
21. Khi người đã bàn nghị với dân sự, bèn lập
những người ca xướng cho Ðức Giê-hô-va mặc áo lễ thánh mà đi ra trước cơ
binh ngợi khen Chúa rằng: Hãy ngợi khen Ðức Giê-hô-va, vì sự thương xót
Ngài hằng có đời đời.
22. Ðương lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen thì
Ðức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở
núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại.
23. Dân
Am-môn và dân Mô-áp dấy lên đánh dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt chúng nó đi;
khi đã diệt dân ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau.
24. Khi
dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng, nhìn đến đám quân đông đảo, thì
thấy những thây nằm sãi trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi được.
25.
Giô-sa-phát và dân sự người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy có nhiều
của cải, xác chết, và đồ quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng đem đi không
đặng; họ cướp lấy tài vật trong ba ngày, vì là rất nhiều.
26. Qua ngày
thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng Bê-ra-ca đặt tên chỗ đó là trũng Bê-ra-ca
cho đến, ngày nay.
27. Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem
cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ; vì Ðức
Giê-hô-va đã làm cho chúng vui mừng, vì cớ quân thù nghịch mình bị đánh
bại.
28. Chúng gảy đờn cầm, đờn sắt, và thổi sáo mà trở về
Giê-ru-sa-lem, đến đền của Ðức Giê-hô-va.
29. Khi các nước thiên hạ
nghe Ðức Giê-hô-va đã đánh bại quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên, thì lấy làm
kinh hãi Ðức Chúa Trời.
30. Vậy, nước của Giô-sa-phát được hòa bình, vì
Ðức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ bốn bên.
31. Vậy,
Giô-sa-phát làm vua nước Giu-đa; khi lên ngôi thì tuổi được ba mươi lăm,
và người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là
A-xu-ba, con gái của Si-li.
32. Người đi theo con đường của A-sa, cha
người, không lìa bỏ, làm điều ngay thẳng trước mặt Ðức Giê-hô-va.
33.
Song người không trừ bỏ các nơi cao, và dân sự chưa dốc lòng tìm cầu Ðức
Chúa Trời của tổ phụ mình.
34. Các công việc khác của Giô-sa-phát từ
đầu đến cuối, đều chép tong truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy
đã đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.
35. Sau việc đó, Giô-sa-phát, vua
Giu-đa, kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên; người này ăn ở rất gian
ác.
36. Hai vua hội hiệp nhau đặng đóng tàu vượt đi Ta-rê-si; họ đóng
tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
37. Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con trai Ðô-đa-va ở
Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát, mà rằng: Bởi vì vua kết giao
với A-cha-xia, nên Ðức Giê-hô-va đã hủy phá công việc vua; những tàu bèn
bị bể nát, không vượt đi Ta-rê-si được.
2 Sử-Ký 21 chọn
đoạn khác
1.
Giô-sa-phát an giấc cùng tổ phụ mình, được chôn trong thành Ða-vít với tổ
phụ người; Giô-ram con trai người, cai trị thế cho người.
2. Người có
các em ruột, tức là những con trai Giô-sa-phát: A-xa-ria, Giê-hi-ên,
Xa-cha-ri, A-xa-ria-u, Mi-ca-ên, và Sê-pha-ti-a; các người này đều là con
trai của Giô-sa-phát, vua Y-sơ-ra-ên.
3. Vua cha có ban cho chúng nhiều
của cải bằng bạc và vàng, những bửu vật với các thành vững bền trong xứ
Giu-đa; nhưng người ban ngôi nước cho Giô-ram, bởi vì người là con
trưởng.
4. Khi Giô-ram lên ngôi nước cha mình, làm cho mình mạnh mẽ,
bèn lấy gươm giết các em mình và mấy người quan trưởng của
Y-sơ-ra-ên.
5. Giô-ram được ba mươi hai tuổi, khi lên ngôi làm vua, và
người cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem.
6. Người đi trong con đường
của các vua Y-sơ-ra-ên, theo điều nhà A-háp đã làm; vì người có cưới con
gái A-háp làm vợ; người làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va.
7. Nhưng,
vì Ðức Giê-hô-va đã lập giao ước với Ða-vít, bởi Ngài đã hứa rằng sẽ ban
một ngọn đèn cho người và cho con cháu người đến đời đời, nên Ngài không
muốn diệt nhà Ða-vít.
8. Trong đời Giô-ram, Ê-đôm phản nghịch cùng
Giu-đa, và lập một vua cho mình.
9. Giô-ram với các quan tướng và các
xe của mình, ban đêm chổi dậy, kéo ra đánh Ê-đôm đã vây phủ mình và các
quan cai xe.
10. Song Ê-đôm dấy nghịch, không phục dưới tay Giu-đa cho
đến ngày nay. Cũng trong một lúc ấy, Líp-na phản nghịch, không phục dưới
tay Giô-ram nữa, bởi vì người đã lìa bỏ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ phụ
người.
11. Người cũng lập những nơi cao trong các núi Giu-đa, xui cho
dân cư thành Giê-ru-sa-lem thông dâm, và khiến cho dân Giu-đa lầm
lạc.
12. Ðấng tiên tri Ê-li gởi thơ cho Giô-ram, mà nói rằng: Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Ða-vít, tổ phụ ông, đã phán như vầy: bởi ngươi không đi
theo đường lối của Giô-sa-phát, cha ngươi, lại cũng chẳng đi theo con
đường của A-sa, vua Giu-đa,
13. nhưng đã đi theo đường lối của các vua
Y-sơ-ra-ên, xui cho người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem thông dâm y
như nhà A-háp đã làm vậy, và cũng đã giết các em ngươi về nhà cha của
ngươi, là những người tốt hơn ngươi,
14. này Ðức Giê-hô-va sẽ giáng họa
lớn trên dân sự ngươi, trên con cái ngươi, trên các vợ ngươi, cùng trên
các tài vật của ngươi;
15. còn chính mình ngươi sẽ bị bịnh trong gan
ruột càng ngày càng nặng cho đến đỗi gan ruột tan rớt ra.
16. Vả lại,
Ðức Giê-hô-va khêu lòng dân Phi-li-tin và dân A rạp ở gần bên dân
Ê-thi-ô-bi, nghịch với Giô-ram;
17. chúng kéo lên hãm đánh Giu-đa, lấn
vào trong cả xứ, đoạt lấy các tài vật thấy trong cung điện vua, và bắt các
vương tử cùng hậu phi của người đi làm phu tù, đến nỗi trừ ra Giô-a-cha
con trai út người, thì chẳng còn sót lại cho người một con trai nào
hết.
18. Sau các việc ấy, Ðức Giê-hô-va hành hại người, khiến cho bị
bịnh bất trị trong ruột.
19. Ngày qua tháng lụn, xảy cuối năm thứ nhì,
thì ruột gan Giô-ram vì bịnh tan rớt ra, và người chết cách đau đớn dữ
tợn; dân sự không xông thuốc thơm cho người như đã xông cho tổ phụ
người.
20. Khi người lên ngôi, thì tuổi được ba mươi hai, và người cai
trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem; người qua đời chẳng ai tiếc người; người ta
chôn người trong thành Ða-vít, song chẳng phải tại mồ các
vua.
2 Sử-Ký 22
chọn
đoạn khác
1. Dân cư thành Giê-ru-sa-lem lập
A-cha-xia, con trai út của Giô-ram, làm vua thay vì người; vì đạo quân đến
với dân A rạp xông vào trại quân, đã giết các con trai lớn hơn người. Ấy
vậy, A-cha-xia, con trai Giô-ram, vua Giu-đa, lên ngôi làm vua.
2.
A-cha-xia được hai mươi hai tuổi khi người tức vị; người cai trị một năm
tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là A-tha-li, con gái của Ôm-ri.
3.
Người cũng đi theo các đường lối của nhà A-háp vì mẹ người là kẻ bày mưu
giục người làm điều ác.
4. Người làm những điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va như nhà A-háp đã làm; vì sau khi vua cha qua đời, nhà A-háp làm
kẻ bày mưu cho người, gây cho người bị bại hoại.
5. Người cũng theo mưu
chước của chúng mà đi với Giô-ram, con trai A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, đến
Ra-mốt tại Ga-la-át, đặng tranh chiến cùng Ha-xa-ên, vua Sy-ri. Dân Sy-ri
làm cho Giô-ram bị thương.
6. Người bèn trở về Gít-rê-ên, đặng chữa
lành các dấu thương người đã bị tại Ra-ma, khi đánh giặc với Ha-xa-ên, vua
Sy-ri, A-cha-xia, con trai Giô-ram, vua Giu-đa đi xuống Gít-rê-ên đặng
thăm bịnh Giô-ram, con trai A-háp.
7. Việc A-cha-xia đi đến cùng
Giô-ram bởi ý Ðức Chúa Trời, và gây cho người bị bại hoại; vì khi người
đến tận nơi, bèn cùng Giô-ram kéo ra đánh Giê-hu, con trai Nim-si, là
người Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho, đặng trừ diệt nhà A-háp.
8. Xảy
đương khi Giê-hu trừ diệt nhà A-háp, lại gặp được các quan trưởng Giu-đa
và các con trai của anh em A-cha-xia vẫn phục sự người, thì liền giết
chúng nó đi.
9. Người cũng tìm A-cha-xia đương ẩn tại Sa-ma-ri, người
ta bắt người, dẫn đến cùng Giê-hu, rồi giết người đi, đoạn họ chôn người,
vì nói rằng: Hắn là con trai của Giô-sa-phát, tức người hết lòng tìm cầu
Ðức Giê-hô-va. Trong nhà A-cha-xia chẳng còn ai có thể giữ quyền cai trị
nước được.
10. Vả, khi A-tha-li, mẹ của A-cha-xia, thấy con trai mình
đã chết, bèn chổi dậy diệt cả dòng giống vua Giu-đa.
11. Nhưng
Giô-sa-bát, con gái của vua, bồng trộm Giô-ách, con trai của A-cha-xia,
đem khỏi vòng các con trai cua mà người ta toan giết, rồi để nó và kẻ vú
nó trong phòng ngủ. Như vậy, Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram, vợ thầy
tế lễ Giê-hô-gia-đa, giấu Giô-ách khỏi trước mắt A-tha-li, và A-tha-li
không giết nó được; Giô-sa-bát là em gái của A-cha-xia.
12. Giô-ách bị
ẩn giấu với họ trong sáu năm tại đền thờ của Ðức Chúa Trời; còn A-tha-li
cai trị trên xứ.
2
Sử-Ký 23 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa làm
cho mình nên mạnh, vời các quan tướng cai trăm người, là A-cha-xia, con
trai của Giê-rô-ham, Ích-ma-ên, con trai của Giô-ha-nan, A-xa-ria, con
trai của Ô-bết, Ma-a-xê-gia, con trai của A-đa-gia, và Ê-li-sa-phát, con
trai của Xiếc-ri, và lập giao ước với các người ấy.
2. Những người ấy
đi khắp xứ Giu-đa, và từ các thành Giu-đa nhóm người Lê-vi và các trưởng
tộc của Y-sơ-ra-ên; rồi họ đều đến Giê-ru-sa-lem.
3. Cả hội chúng đều
lập giao ước với vua tại trong đền thờ của Ðức Chúa Trời. Giê-hô-gia-đa
nói với chúng rằng: Nầy con trai của vua sẽ cai trị theo lời Ðức Giê-hô-va
đã phán về con cháu Ða-vít.
4. Nầy điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba
trong các ngươi, tức những thầy tế lễ và người Lê-vi, đến phiên trong ngày
sa-bát, sẽ giữ cửa;
5. một phần ba sẽ vào trong cung vua, và một phần
ba ở nơi cửa Giê-sốt; còn cả dân sự sẽ ở nơi hành lang của đền Ðức
Giê-hô-va.
6. Chớ để ai vào trong đền của Ðức Giê-hô-va ngoại trừ những
thầy tế lễ và các người Lê-vi phục sự: họ sẽ vào, bởi vì họ thánh sạch, cả
dân sự sẽ giữ mạng lịnh của Ðức Giê-hô-va.
7. Người Lê-vi sẽ vây chung
quanh vua, hễ ai vào đền thờ thì sẽ bị giết; các ngươi khá theo hầu vua
khi người đi ra đi vào.
8. Người Lê-vi và cả Giu-đa đều làm theo lời
thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đã dặn bảo; mỗi người đều lãnh kẻ thủ hạ mình,
hoặc những kẻ vào phiên ngày sa-bát hay là kẻ mãn phiên ngày sa-bát; vì
thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa không cho các phiên đổi về.
9. Thầy tế lễ
Giê-hô-gia-đa phát cho các quan tướng cai trăm người, những giáo, khiên
nhỏ và lớn của vua Ða-vít, để trong đền Ðức Chúa Trời.
10. Người khiến
dân chúng, ai nấy cầm binh khí mình, sắp hàng đứng chung quanh vua dài
theo bàn thờ và đền, từ bên hữu đền cho đến bên tả đền.
11. Ðoạn chúng
đem vương tử ra, đội mão triều thiên trên đầu người, và trao luật pháp cho
người, rồi tôn người làm vua; Giê-hô-gia-đa và các con trai người xức dầu
cho người mà rằng: Vua vạn tuế!
12. Khi A-tha-li nghe tiếng dân sự chạy
và chúc tụng vua, thì đi đến cùng dân sự tại trong đền Ðức
Giê-hô-va.
13. Bà xem thấy vua đứng trên cái sạp tại cửa vào; các quan
tướng và kẻ thổi kèn đứng gần bên vua; còn cả dân sự của xứ đều vui mừng
và thổi kèn, lại có những kẻ ca xướng gảy nhạc khí, mà ngợi khen Ðức Chúa
Trời. A-tha-li bèn xé áo mình mà la lên rằng: Phản ngụy! phản ngụy!
14.
Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đòi ra các quan tướng cai trăm người được đặt
thống quản đạo quân, mà biểu rằng: Hãy dẫn bà ra ngoài khỏi hàng quân, hễ
ai theo bà, khá giết nó bằng gươm, vì thầy tế lễ đã dạy rằng: Chớ giết bà
tại trong đền thờ của Ðức Giê-hô-va.
15. Chúng bèn vẹt đường cho bà; bà
trở vào cung vua bởi nơi cửa ngựa vào; rồi chúng giết bà tại đó.
16.
Giê-hô-gia-đa bèn lập giao ước với cả dân sự và với vua, để chúng làm dân
sự của Ðức Giê-hô-va.
17. Cả dân sự đều đi đến miễu Ba-anh, phá dỡ nó,
đập bể bàn thờ và hình tượng nó, rồi giết Ma-than, thầy tế lễ của Ba-anh,
tại trước bàn thờ.
18. Chiếu theo ban thứ Ða-vít đã định trong đền của
Ðức Giê-hô-va, Giê-hô-gia-đa giao các chức sự về đền Ðức Giê-hô-va vào tay
những thầy tế lễ và người Lê-vi, đặng dân những của lễ thiêu cho Giê-hô-va
cách ca hát vui mừng, y theo đều đã chép trong luật pháp của Môi-se, và
theo lệ Ða-vít đã định.
19. Người cũng đặt những kẻ canh cửa ở nơi các
cửa đền Ðức Giê-hô-va, hầu cho ai bị ô uế về vô luận sự gì, đều chẳng được
vào đó.
20. Người lãnh lấy những quan tướng cai trăm người, kẻ tước vị
và những người quan trưởng của dân, cùng cả dân sự của xứ, mà rước vua từ
đền Ðức Giê-hô-va xuống, đi vào cung vua bởi cửa trên, rồi đặt vua ngồi
trên ngôi nước.
21. Hết thảy dân sự của xứ đều vui mừng, và thành được
bình tịnh. Vả, chúng đã giết A-tha-li bằng gươm.
2 Sử-Ký 24 chọn
đoạn khác
1.
Giô-ách được bảy tuổi khi người lên làm vua; người cai trị bốn mươi năm
tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Xi-bia, quê ở Bê-e-Sê-ba.
2. Giô-ách
làm điều thiện trước mặt Ðức Giê-hô-va trọn đời thầy tế lễ
Giê-hô-gia-đa.
3. Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho Giô-ách; người sanh
được những con trai và con gái.
4. Sau việc này, Giô-ách có ý tu bổ đền
của Ðức Giê-hô-va,
5. bèn nhóm những thầy tế lễ và người Lê-vi, mà bảo
rằng: Hãy đi khắp các thành Giu-đa, thâu lấy tiền bạc của cả Y-sơ-ra-ên,
để hằng năm tu bổ lại cái đền của Ðức Chúa Trời các ngươi; khá làm việc
này cho mau. Song người Lê-vi trì hưỡn.
6. Vua vời thầy tế lễ thượng
phẩm Giê-hô-gia-đa, mà bảo rằng: Cớ sao người Lê-vi từ Giu-đa và
Giê-ru-sa-lem đem nộp thuế, mà Môi-se, tôi tớ của Ðức Giê-hô-va, đã định
cho hội chúng Y-sơ-ra-ên phải dâng cho trại chứng cớ?
7. Vì A-tha-li,
người nữ độc ác kia, và các con trai nàng đã phá hủy đền của Ðức Chúa
Trời; và chúng nó đã dâng các vật thánh của đền Ðức Giê-hô-va cho thần
Ba-anh.
8. Vua bèn truyền dạy người ta đóng một cái hòm, để phía ngoài
cửa đền Ðức Giê-hô-va.
9. Rồi người ta rao cho khắp xứ Giu-đa và thành
Giê-ru-sa-lem ai nấy phải đem dâng cho Ðức Giê-hô-va tiền thuế mà Môi-se,
tôi tớ của Ðức Chúa Trời, đã định về Y-sơ-ra-ên tại trong đồng
vắng.
10. Hết thảy các quan trưởng và cả dân sự đều vui mừng, đem bạc
đến bỏ vào trong hòm cho đến đầy.
11. Khi người Lê-vi thấy trong hòm
đựng nhiều bạc, bèn đem nó lên giao cho vua kiểm soát; thơ ký vua và người
của thầy tế lễ thượng phẩm đều đến trút hòm ra, rồi đem để lại chỗ cũ. Mỗi
ngày họ làm như vậy, và thâu được rất hiều bạc.
12. Vua và
Giê-hô-gia-đa giao bạc ấy cho những kẻ coi sóc công việc trong đền Ðức
Giê-hô-va; họ mướn thợ đẽo đá, và thợ mộc, đặng tu bổ đền Ðức Giê-hô-va;
cũng mướn những thợ sắt và thợ đồng đặng sửa lại đền Ðức Giê-hô-va.
13.
Vậy, các thợ làm công việc, và nhờ tay họ việc tu bổ được thành; chúng làm
lại đền của Ðức Chúa Trời như cũ, và làm cho vững chắc.
14. Khi đã làm
xong, chúng bèn đem bạc còn dư lại đến trước mặt vua và Giê-hô-gia-đa;
người ta dùng bạc ấy làm những đồ lễ về đền Ðức Giê-hô-va, tức những đồ
dùng về việc phụng sự, và về cuộc tế lễ, những chén, và những khí dụng
bằng vàng bằng bạc. Trọn đời Giê-hô-gia-đa, người ta hằng dâng của lễ
thiêu tại đền của Ðức Giê-hô-va luôn luôn.
15. Vả, Giê-hô-gia-đa đã trở
về già tuổi rất cao, rồi qua đời; lúc người thác, được một trăm ba mươi
tuổi.
16. Người ta chôn người tại trong thành Ða-vít chung với các vua,
vì người có công lao trong Y-sơ-ra-ên, có hầu việc Ðức Chúa Trời, và tu bổ
đền của Ngài.
17. Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời, các quan trưởng
Giu-đa đến chầu lạy vua. Vua bèn nghe theo lời của chúng,
18. lìa bỏ
đền Ðức Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời của tổ phụ mình, mà phục sự những thần
A-sê-ra và các hình tượng; tại cớ tội lỗi ấy, bèn có cơn giận của Chúa
nghịch cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
19. Ðức Giê-hô-va sai các đấng
tiên tri đến cùng chúng, để dắt chúng trở lại cùng Ðức Giê-hô-va; nhưng
chúng không chịu nghe.
20. Thần của Ðức Chúa Trời cảm động Xa-cha-ri,
con trai của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa; người đứng dậy trước mặt dân sự, mà
nói rằng: Ðức Chúa Trời phán như vầy: Cớ sao các ngươi phạm các điều răn
của Ðức Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng may mắn được, vì đã lìa bỏ Ðức
Giê-hô-va, và Ðức Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ các ngươi.
21. Chúng bèn
phản nghịch với người, và theo lịnh vua ném đá người tại trong hành lang
của đền Ðức Giê-hô-va.
22. Ấy vậy, vua Giô-ách không nhớ đến sự nhân từ
của Giê-hô-gia-đa, cha của A-cha-xia, đã làm cho mình, nhưng giết con trai
người đi; khi người chết thì có nói rằng: Nguyện Ðức Giê-hô-va xem xét và
báo lại cho!
23. Xảy khi đến cuối năm, thì đạo binh Sy-ri kéo lên hãm
đánh Giô-ách; chúng nó loán đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết các quan
trưởng của dân, rồi gởi hết những của cướp về cho vua tại Ða-mách.
24.
Ðạo binh Sy-ri kéo đến có ít người, Ðức Giê-hô-va lại phó một đạo binh rất
đông vào tay chúng nó, bởi vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ
phụ mình. Như vậy, dân Sy-ri xử hình phạt cho Giô-ách.
25. Khi chúng đã
bỏ đi rồi (vả chúng để người ở lại bị đau nặng), các đầy tớ người bèn phản
nghịch cùng người, vì cớ huyết của con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, giết
người tại trên giường, và người chết; người ta chôn người tại trong thành
Ða-vít, song không phải trong mồ các vua.
26. Nầy là những kẻ dấy
nghịch cùng người: Xa-bát, con trai của Si-mê-át, là đờn bà Am-môn, và
Giô-xa-bát, con trai Sim-rít, là đờn bà Mô-áp.
27. Còn về việc các con
trai người, số cống thuế người phải nộp, và cuộc tu bổ đền của Ðức
Giê-hô-va, thảy đều chép trong sách truyện các vua. A-ma-xia, con trai
người, cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 25 chọn
đoạn khác
1. A-ma-xia được hai
mươi lăm tuổi khi người lên ngôi làm vua; người cai trị hai mươi chín năm
tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Giô-a-đan, quê ở Giê-ru-sa-lem.
2.
Người làm điều thiện tại trước mặt Ðức Giê-hô-va, song lòng không được
trọn lành.
3. Xảy khi nước người được vững chắc, thì người xử tử những
đầy tớ đã giết cha mình.
4. Nhưng người không xử tử các con trai chúng,
theo điều đã chép trong sách luật pháp của Môi-se, như Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn rằng: Cha sẽ chẳng phải chết vì con, con cũng sẽ chẳng phải chết
vì cha; song mỗi người sẽ chết vì tội mình.
5. A-ma-xia nhóm những
người Giu-đa, cứ theo họ hàng của tổ phụ Giu-đa và Bên-gia-min, mà lập
những quan tướng cai ngàn người và cai trăm người; lại tu bộ những người
từ hai mươi tuổi sấp lên, số cọng được ba mươi vạn người kén chọn ra trận
được cùng có tài cầm giáo và khiên.
6. Người cũng mộ mười vạn người
mạnh dạn trong Y-sơ-ra-ên, giá một trăm ta lâng bạc.
7. Nhưng có người
của Ðức Chúa Trời đến nói với người rằng: Hỡi vua! đạo binh Y-sơ-ra-ên chớ
kéo đi với vua; vì Ðức Giê-hô-va chẳng ở cùng Y-sơ-ra-ên, chẳng ở cùng các
con cháu Ép-ra-im.
8. Còn nếu vua muốn đi, thì hãy đi đi khá làm cho
mình mạnh mẽ mà chinh chiến đi; Ðức Chúa Trời sẽ khiến vua ngã trước mặt
quân thù; vì Ðức Chúa Trời có quyền giúp cho thắng và cũng có quyền làm
cho sa bại.
9. A-ma-xia nói với người Ðức Chúa Trời rằng: Còn về một
trăm ta lâng bạc kia, mà ta đã phát cho đạo binh Y-sơ-ra-ên, thì phải làm
sao? Người của Ðức Chúa Trời đáp: Ðức Giê-hô-va có thể ban cho vua nhiều
hơn số ấy.
10. Vậy, A-ma-xia phân rẽ đạo binh đã từ Ép-ra-im đến cùng
người, cho chúng trở về nhà; tại cớ ấy, chúng giận Giu-đa lắm, và trở về
nhà lấy làm nóng giận phừng.
11. A-ma-xia làm dạn dĩ, kéo dân sự mình
đến trũng Muối, đánh một vạn người của dân Sê-i-rơ.
12. Dân Giu-đa bắt
sống một vạn người đem chúng nó lên trên chót hòn đá, rồi từ trên chót hòn
đá xô chúng nó xuống, thảy đều bị giập chết hết.
13. Còn đạo binh mà
A-ma-xia khiến trở về, không cho đi ra trận với mình, thì xông vào các
thành Giu-đa, từ Sa-ma-ri cho đến Bết-Hô-rôn, đánh giết ba ngàn người tại
đó, và cướp lấy nhiều của cải.
14. Khi đánh được dân Ê-đôm trở về, thì
đem các thần của dân Sê-i-rơ về, lập lên làm thần của mình, quì lạy trước
mặt chúng nó, và đốt hương cho.
15. Vì vậy, cơn thạnh nộ của Ðức
Giê-hô-va nổi lên cùng A-ma-xia, Ngài sai một đấng tiên tri đến nói với
người rằng: Cớ sao ngươi đi cầu các thần không giải cứu được dân tộc thờ
lạy chúng nó khỏi tay ngươi?
16. Xảy khi đấng tiên tri tâu với vua, thì
vua bảo người rằng: Ta há lập ngươi làm mưu sĩ cho vua sao? Hãy thôi đi,
kẻo ta đánh ngươi chăng Ðấng tiên tri bèn thôi, và nói rằng: Tôi biết rằng
Ðức Giê-hô-va đã quyết định hủy diệt vua, bởi vì vua đã làm điều ấy, và
không nghe lời tôi.
17. A-ma-xia, vua Giu-đa, mưu nghị rồi, thì sai đến
Giô-ách, con trai Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên, mà nói rằng: Hãy
đến, để chúng ta thấy nhau.
18. Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai sứ đến
A-ma-xia, vua Giu-đa, mà nói rằng: Cây gai ở Li-ban có sai đến nói với cây
bá hương ở Li-ban rằng: Hãy gả con gái ngươi cho con trai ta làm vợ. Song
có một con thú đồng ở Li-ban đi ngang qua, giày đạp cây gai đi.
19.
Ngươi nói: Nầy ta đã đánh Ê-đôm! Lòng ngươi lại tự cao tự khoe. Bây giờ,
khá ở trong nhà ngươi, cớ sao làm cho mình mắc họa, và khiến cho ngươi và
Giu-đa phải sa ngã?
20. A-ma-xia không nghe lời, vì điều đó do ý Ðức
Chúa Trời, để phó chúng vào tay kẻ thù nghịch, bởi vì chúng có tìm kiếm
các thần của Ê-đôm.
21. Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, kéo lên; người và
A-ma-xia, vua Giu-đa, bèn thấy nhau tại Bết-sê-mết trong xứ Giu-đa.
22.
Quân Giu-đa bị quân Y-sơ-ra-ên đánh đuổi, bèn chạy trốn, ai về trại
nấy.
23. Tại Bết-sê-mết, Giô-ách vua Y-sơ-ra-ên, bắt A-ma-xia, vua
Giu-đa, con trai Giô-ách, cháu Giô-a-cha, điệu người về Giê-ru-sa-lem đoạn
người phá cửa Góc, một khúc dài bốn trăm thước.
24. Người lấy hết vàng,
bạc, và những khí dụng ở trong đền của Ðức Chúa Trời, có Ô-bết-Ê-đôm coi
giữ, cùng các bửu vật của cung vua; người cũng bắt kẻ cầm làm tin, rồi trở
về Sa-ma-ri.
25. A-ma-xia, con trai Giô-ách, vua Giu-đam còn sống mười
lăm năm nữa, sau khi Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, đã băng hà.
26. Các
công việc khác của A-ma-xia từ đầu đến cuối, đều đã chép trong sách các
vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
27. Vả từ khi A-ma-xia xây bỏ Ðức Giê-hô-va
về sau, thì có người phản nghịch cùng người tại Giê-ru-sa-lem, người bèn
chạy trốn đến La-ki; song người ta sai đuổi theo người đến La-ki, và giết
người tại đó.
28. Ðoạn người ta có chở thây người về trên ngựa, chôn
người tại trong thành Giu-đa chung cùng các tổ phụ người.
2 Sử-Ký 26
chọn
đoạn khác
1. Cả dân Giu-đa đều lập Ô-xia làm vua thế cho A-ma-xia, cha
người; tuổi người được mười sáu.
2. Sau khi vua cha đã an giấc với các
tổ phụ, người xây cất Ê-lốt, và khôi phục nó cho Giu-đa.
3. Ô-xia được
mười sáu tuổi, khi người lên làm vua; người cai trị năm mươi hai năm tại
Giê-ru-sa-lam; mẹ người tên là Giê-cô-lia, quê ở Giê-ru-sa-lem.
4.
Người làm điều thiện trước mặt Ðức Giê-hô-va, y theo mọi điều A-ma-xia,
cha người đã làm.
5. Trong đời Xa-cha-ri, là người thông hiểu các dị
tượng của Ðức Chúa Trời, thì Ô-xia rắp lòng tìm kiếm Ðức Chúa Trời; và
người tìm kiếm bao lâu; thì Ðức Chúa Trời khiến cho người đặng may mắn bấy
lâu.
6. Người kéo ra chiến tranh với dân Phi-li-tin đánh đổ tường thành
Gát, tường thành Giáp-nê, và tường thành Ách-đốt; người xây cất những
thành trong địa hạt Ách-đốt và tại đất người Phi-li-tin.
7. Ðức Chúa
Trời giúp đỡ người được thắng dân Phi-li-tin, dân A rạp ở tại
Gu-rơ-Ba-anh, và dân Ma-ôn.
8. Dân Am-môn cũng tiến cống cho Ô-xia;
danh tiếng người đồn đến cõi Ê-díp-tô, vì người đã trở nên rất cường
thạnh.
9. Ô-xia cũng xây những tháp tại Giê-ru-sa-lem, trên cửa Góc,
trên cửa Trũng, và trên Góc tường, làm cho nó vững chắc.
10. Người cũng
cất những tháo trong đồng vắng, đào nhiều giếng, vì có nhiều súc vật trong
đồng bằng và trên đồng cao; cũng có những người làm ruộng, kẻ trồng nho
trên núi và tại Cạt-mên, vì người thích việc canh nông.
11. Ô-xia có
một đạo binh đặn đi chinh chiến, kéo ra trận từ tốp, tùy số tu bộ mà thơ
ký Giê-hi-ên, và quan giám thị Ma-a-xê-gia đã làm, có Ha-na-nia, đại thần
của vua, cai quản.
12. Trọn số các trưởng tộc, tức là những người mạnh
dạn, là hai ngàn sáu trăm người.
13. Chúng quản lãnh một đạo binh ba
mươi vạn bảy ngàn sáu trăm người, đều hay đánh giặc cách mạnh dạn, hầu
giúp vua đối địch với cừu địch.
14. Ô-xia sắm sửa cho cả đạo binh những
khiên, giáo, mũ, giáp, cung, và những đá trành.
15. Ở Giê-ru-sa-lem,
người khiến tay kỹ sư chế tạo những máy dùng đặt trên các tháp, và trên
chót đồn lũy, đặng bắn tên và đá lớn. Danh tiếng người đồn ra phương xa;
bởi vì người được Chúa giúp đỡ cách lạ thường, cho đến trở nên cường
thạnh.
16. Song khi người được trở nên cường thạnh, lòng bèn kiêu ngạo,
đến đỗi làm ác, phạm tội cùng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của người; vì người
vào trong đền thờ Ðức Giê-hô-va, xông hương trên bàn thờ xông
hương.
17. Thầy tế lễ A-xa-ria vào sau người, có tám mươi thầy tế lễ,
đều là người mạnh dạn, đồng đi theo.
18. Chúng cản cự vua Ô-xia mà
rằng: Hỡi vua, chẳng phải phần vua xông hương cho Ðức Giê-hô-va đâu, bèn
là phần của những thầy tế lễ, con cháu A-rôn, đã được biệt riêng ra thánh
đặng xông hương vậy. Hãy đi ra khỏi đền thánh, vì vua đã phạm tội; lại vì
việc này Ðức Giê-hô-va sẽ chẳng làm cho vua được vinh hiển đâu
19.
Ô-xia bèn nổi giận; người cầm nơi tay một cái bình hương toan xông hương;
và đang khi người nổi giận cùng những thầy tế lễ, phung bèn nổi lên nơi
trán người trước mặt những thầy tế lễ, tại trong đền của Ðức Giê-hô-va ở
gần bên bàn thờ xông hương.
20. A-xa-ria, thầy tế lễ thượng phẩm, và
hết thảy thầy tế lễ khác ngó xem người, thấy người bị bịnh phung ở nơi
trán, bèn đuổi người ra khỏi đó; và chính người cũng lật đật ra, vì Ðức
Giê-hô-va hành hại người.
21. Ô-xia bị bịnh phung cho đến ngày băng hà;
và vì bị phung phải ở riêng ra trong một nhà khác, chẳng còn được vào đền
của Ðức Giê-hô-va nữa; Giô-tham, con trai người, quản lý cung vua, và xét
đoán dân sự của nước.
22. Ðấng tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt, đã
biên chép các công sự khác của Ô-xia từ đầu đến cuối.
23. Ô-xia an giấc
cùng tổ phụ người, và người ta chôn người chung với tổ phụ người tại ruộng
lăng tẩm của các vua; vì người ta nói rằng: Người bị phung. Giô-tham, con
trai người, cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 27 chọn
đoạn khác
1. Giô-tham được hai
mươi lăm tuổi khi người lên ngôi làm vua, và người cai trị mười sáu năm
tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Giê-ru-sa, con gái của Xa-đốc.
2.
Người làm điều thiện trước mặt Ðức Giê-hô-va, y theo mọi điều Ô-xia, cha
người, đã làm; song người không vào đền thờ của Ðức Giê-hô-va; còn dân sự
lại càng làm luông tuồng nữa.
3. Người xây cửa trên của đền Ðức
Giê-hô-va, và xây nhiều trên tường thành Ô-phên.
4. Người cũng xây
những thành trong miền núi Giu-đa, và đền đài cùng những tháp ở trên
rừng.
5. Người đánh giặc với vua dân Am-môn, và thắng được chúng. Trong
năm đó, dân Am-môn nộp cho người một trăm ta lâng bạc một vạn cô-rơ lúa
miến, và một vạn cô-rơ lúc mạch. Trong năm thứ nhì và thứ ba, dân Am-môn
cũng tiến cống người số ấy.
6. Vậy, Giô-tham trở nên cường thạnh, bởi
vì người đi đường chánh đáng trước mặt Ðức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời
mình.
7. Các công việc khác của Giô-tham, hết thảy những chiến trận và
đường lối của người, đều chép trong sách các vua Y-sơ-ra-ên và
Giu-đa.
8. Người được hai mươi lăm tuổi khi lên làm vua, và người cai
trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem.
9. Người an giấc cùng tổ tiên mình,
người ta chôn người tại trong thành Ða-vít; đoạn A-cha, con trai người,
cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 28 chọn
đoạn khác
1. A-cha được hai
mươi tuổi khi người lên ngôi làm vua; người cai trị mười sáu năm tại
Giê-ru-sa-lem, chẳng làm điều thiện trước mặt Ðức Giê-hô-va y như Ða-vít,
tổ phụ người, đã làm;
2. nhưng người đi theo đường lối của các vua
Y-sơ-ra-ên, lại cũng làm những hình tượng đúc cho thần Ba-anh,
3. đốt
hương trong trũng con Hi-nôm, và thiêu con cái mình nơi lửa, theo sự gớm
ghiếc của các dân tộc mà Ðức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân
Y-đơ-ra-ên.
4. Người dâng của lễ và xông hương trên các nơi cao, trên
các gò nổng và dưới các cây rậm.
5. Vì vậy, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
người phó người vào tay vua Sy-ri; quân Sy-ri đánh được người, bắt trong
dân người rất nhiều phu tù, và dẫn về Ða-mách, Người cũng bị phó vào tay
của Y-sơ-ra-ên, làm cho người phải thất trận cả thể.
6. Vả, Phê-ca, con
trai của Rê-ma-lia, giết trong một ngày mười hai vạn người Giu-đa, thảy
đều là người mạnh dạn; bởi vì chúng đã lìa bỏ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
tổ phụ mình.
7. Xiếc-ri, một người mạnh dạn ở đất Ép-ra-im, giết
Ma-a-xê-gia, con trai vua, A-ri-kham, quan cai cung vua, và Ên-ca-na, quan
tể tướng.
8. Người Y-sơ-ra-ên bắt trong anh em mình hai mươi vạn phu
tù, cả đờn bà, con trai, con gái; cũng cướp lấy nhiều của cải mà đem về
Sa-ma-ri.
9. Ở tại đó, có một đấng tiên tri của Ðức Giê-hô-va, tên là
Ô-đết, đi ra đón đạo binh đang trở về Sa-ma-ri, mà nói rằng: Nầy bởi vì
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi nổi giận cùng Giu-đa, nên
Ngài đã phó chúng vào tay các ngươi, các ngươi có giết chúng trong cơn căm
giận dữ quá đến đỗi thấu đến trời.
10. Bây giờ, các ngươi lại toan bắt
phục các người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem làm tôi trai tớ gái cho các
ngưi sao! Còn về các ngươi, các ngươi há chẳng có phạm tội cùng Giê-hô-va
Ðức Chúa trời của các ngươi sao?
11. Vậy bây giờ, khá nghe ta, cho về
những phu tù mà các ngươi đã bắt trong anh em các ngươi vì cơn giận của
Ðức Giê-hô-va nổi phừng cùng các ngươi.
12. Khi ấy, có mấy người trong
các quan trưởng của dân Ép-ra-im, là A-xa-ria, con trai của Giô-ha-nan,
Bê-rê-kia, con trai của mê-si-lê-mốt, Ê-xê-chia, con trai của Sa-lum, và
A-ma-sa con trai của Hát-lai, đều đứng dậy nghịch cùng những kẻ đi đánh
giặc trở về, mà rằng:
13. Các ngươi chớ đem những phu tù vào đây; vì
các ngươi toan làm điều gây cho chúng ta mắc tội cùng Ðức Giê-hô-va, đặng
gia thêm vào tội và ác của chúng ta; vì tội lỗi chúng ta thật lớn và Chúa
nổi giận phừng phừng cùng Y-sơ-ra-ên
14. Quân lính bèn thả các phu tù
và bỏ của cải tại trước mặt các quan trưởng và cả hội chúng.
15. Những
người đã kể tên trước đây, bèn chổi dậy, dẫn các phu tù ra, lấy của cướp
mặc cho các người trong họ bị trần truồng; chúng mặc quần áo và mang giày
cho họ, cho ăn, uống, và xức dầu cho, cùng để những người yếu đuối cỡi
lừa, rồi đưa họ về cùng anh em mình, đến Giê-ri-cô, thành cây chà là; đoạn
chúng trở về Sa-ma-ri.
16. Trong lúc đó, vua A-cha sai sứ đi cầu vua
A-si-ri tiếp cứu mình
17. Vì dân Ê-đôm đã trở lại đánh Giu-đa và bắt
dẫn những phu tù về.
18. Dân Phi-li-tin cũng xông vào các thành tại xứ
đồng bằng và tại miền nam xứ Giu-đa, chiếm lấy Bết-sê-mết, A-gia-lôn,
Ghê-đê-rốt, Sô-cô, và các làng địa hạt nó, Thim-na và các làng địa hạt nó,
Ghim-xô và các làng địa hạt nó, rồi chúng nó ở tại các nơi ấy.
19. Bởi
cớ A-cha, vua Giu-đa, Ðức Giê-hô-va có hạ Giu-đa xuống, vì A-cha đã xui
cho dân Giu-đa buông tuồng, và phạm tội nặng cùng Ðức Giê-hô-va.
20.
Tiếc-lát Phim-nê-se, vua A-si-ri, đến cùng người, và hà hiếp người, song
chẳng tiếp cứu chút nào.
21. A-cha thâu lấy những đồ nơi đền của Ðức
Giê-hô-va, trong cung vua, và trong nhà các quan trưởng, rồi giao vật ấy
cho vua A-si-ri; song người cũng không tiếp cứu.
22. Trong cơn hoạn
nạn, vua A-cha lại càng phạm tội cùng Ðức Giê-hô-va;
23. người cúng tế
các thần của dân Ða-mách, là dân đã đánh mình; người nói rằng: Bởi vì các
thần của vua Sy-ri đã phù trợ họ, nên ta sẽ cúng tế các thần ấy, hầu cho
các thần ấy cũng phù trợ ta nữa. Song le chúng nó gây cho vua và cả
Y-sơ-ra-ên phải sa ngã.
24. A-cha góp lấy các khí dụng của đền Ðức Chúa
Trời, đập bể nó ra, và đóng các cửa đền của Ðức Giê-hô-va; đoạn lập lấy
cho mình những bàn thờ trong mỗi nơi xó góc của thành
Giê-ru-sa-lem.
25. Trong các thành xứ Giu-đa, người dựng lên những nơi
cao đặng xông hương cho các thần khác mà chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của tổ phụ người.
26. Vả, các chuyện khác của người, thói ăn cách ở
người từ đầu đến cuối, đều chép trong sách các vua Giu-đa và
Y-sơ-ra-ên.
27. A-cha an giấc cùng tổ phụ mình, và người ta chôn người
trong thành Giê-ru-sa-lem; song không để người nơi lăng tẩm các vua
Y-sơ-ra-ên. Ê-xê-chia con trai người, cai trị thế cho người.
2 Sử-Ký 29
chọn
đoạn khác
1. Ê-xê-chia được hai lăm tuổi khi người lên ngôi làm vua;
người cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là
A-bi-gia, con gái của Xa-cha-ri.
2. Người làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y theo mọi điều Ða-vít, tổ phụ người, đã làm.
3. Tháng giêng
năm đầu người trị vì, người mở các cửa đền của Ðức Giê-hô-va, và sửa sang
lại.
4. Người đòi những thầy tế lễ và người Lê-vi đến, hiệp chúng lại
tại nơi phố phía đông,
5. mà bảo rằng: Hỡi người Lê-vi, hãy nghe ta!
Bây giờ khá dọn mình ra thánh, và dọn đền của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các
ngươi cho thánh sạch, cùng cất những điều dơ dáy khỏi nơi đền thánh
đi.
6. Vì các tổ phụ chúng ta đã phạm tội, làm điều ác trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta, lìa bỏ Ngài, ngảnh mặt khỏi nơi ngự của
Ðức Giê-hô-va, và xây lưng lại Ngài.
7. Chúng lại đóng các hiên cửa,
tắt các đèn, không xông hương và không dâng của lễ thiêu tại nơi thánh cho
Ðức Giê-hô-va của Y-sơ-ra-ên.
8. Vì vậy cơn thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va
giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, và Ngài phó chúng vào sự khổ sở, sự
bại hoại, và sự chê bai, y như các ngươi đã thấy tận mắt mình.
9. Nầy,
vì cớ ấy mà các tổ phụ ta bị gươm ngã chết, các con trai, con gái, và vợ
ta, phải bị bắt dẫn đi làm phu tù.
10. Bây giờ, ta có ý lập giao ước
cùng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, để cơn thạnh nộ Ngài lìa khỏi
chúng ta.
11. Hỡi các con, chớ trì hưỡn nữa, vì Ðức Giê-hô-va có chọn
các ngươi làm đầy tớ Ngài, để đứng trước mặt Ngài, hầu việc và xông hương
cho Ngài.
12. Những người Lê-vi bèn chổi dậy; về dòng Kê-át có Ma-hát,
con của A-ma-sai, và Giô-ên, con trai của A-sa-ria; về dòng Mê-ra-ri có
Kích, con trai Áp-đi, và A-xa-ria, con trai Giê-ha-lê-le; về dòng Ghẹt-sôn
có Giô-a, con trai của Xim-ma, Ê-đen, con trai của Giô-a;
13. về dòng
Ê-lít-sa-phan có Sim-ri và Giê-i-ên; về dòng A-sáp có Xa-cha-ri và
Ma-tha-nia;
14. về dòng Hê-man có Giê-hi-ên và Si-mê-i; về dòng
Giê-đu-thun có Sê-ma-gia và U-xi-ên.
15. Chúng hiệp anh em mình lại,
dọn mình cho sạch, rồi cứ theo lịnh vua truyền dạy, và lời phán của Ðức
Giê-hô-va, họ đi vào làm sạch đền của Ðức Giê-hô-va.
16. Những thầy tế
lễ đi vào trong đền của Ðức Giê-hô-va, đặng dọn nó cho sạch; phàm điều gì
dơ dáy thấy ở trong đền của Ðức Giê-hô-va, họ lấy liệng ra ngoài ở nơi
hành lang của đền; rồi người Lê-vi lấy nó đem quăng ở ngoài tại trong khe
Xết-rôn.
17. Ngày mồng một tháng giêng, chúng khởi việc dọn đền cho
sạch; qua ngày mồng tám tháng ấy, chúng đến nơi hiên cửa của Ðức
Giê-hô-va; trong tám ngày họ dọn đền của Ðức Giê-hô-va cho sạch; và qua
ngày mười sáu tháng giêng công việc làm xong.
18. Chúng vào cung vua
Ê-xê-chia, mà nói rằng: Chúng tôi đã dọn sạch cả đền Ðức Giê-hô-va, bàn
thờ của lễ thiêu và các đồ dùng nó, cái bàn sắp bánh trần thiết và các đồ
dùng nó;
19. Lại những khí dụng mà vua A-cha quăng bỏ, trong đời người
trị vì, lúc người phạm tội, thì chúng tôi đã sắp sửa lại và dọn ra sạch;
kìa, nó ở trước mặt bàn thờ của Ðức Giê-hô-va.
20. Vua Ê-xê-chia dậy
sớm, nhóm hiệp các quan trưởng trong thành, và lên đền của Ðức
Giê-hô-va;
21. đem theo bảy con bò đực, bảy con chiên đực, bảy con
chiên con, và bảy con dê đực đặng làm của lễ chuộc tội cho nước, cho đền
thánh, và cho Giu-đa. Vua biểu những thầy tế lễ, con cháu của A-rôn, dâng
các con sinh ấy trên bàn thờ của Ðức Giê-hô-va.
22. Chúng bèn giết các
con bò đực, thầy tế lễ hứng lấy huyết mà rảy trên bàn thờ; rồi giết các
con chiên đực và rảy huyết trên bàn thờ; chúng cũng giết các con chiên
con, và rảy huyết trên bàn thờ.
23. Ðoạn, chúng đem các con dê đực dùng
về của lễ chuộc tội lại gần tại trước mặt vua và hội chúng, đặt tay mình
trên chúng nó,
24. rồi, thầy tế lễ giết chúng nó, hứng lấy huyết rảy
trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho cả Y-sơ-ra-ên; vì vua có dạy rằng
của lễ thiêu và của lễ chuộc tội phải dâng lên vì cả Y-sơ-ra-ên.
25.
Vua đặt người Lê-vi ở trong đền Ðức Giê-hô-va cầm chập chỏa, đờn cầm, đờn
sắt, tùy theo lệ định của Ða-vít, của Gát, là đấng tiên kiến của vua, và
của tiên tri Na-than; vì lệ định ấy do nơi Ðức Giê-hô-va cậy các tiên tri
Ngài mà dạy biểu.
26. Các người Lê-vi đứng cầm nhạc khí của Ða-vít, còn
những thầy tế lễ cầm còi.
27. Ê-xê-chia truyền dâng của lễ thiêu, và
đương lúc khởi dâng của lễ thiêu, thì khởi hát bài ca khen ngợi Ðức
Giê-hô-va, có còi thổi và nhạc khí của Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, họa
thêm.
28. Cả hội chúng thờ lạy, người ca hát đều hát, và kẻ thổi kèn
đều thổi kèn, cho đến đã xông của lễ thiêu đoạn.
29. Khi dâng của lễ
thiêu xong, vua và các người ở với vua bèn cúi xuống thờ lạy.
30. Vả
lại, vua Ê-xê-chia và các quan trưởng biểu người Lê-vi hát ngợi khen Ðức
Giê-hô-va bằng lời của Ða-vít và của A-sáp, là đấng tiên kiến; chúng bèn
hát ngợi khen cách vui mừng, rồi cúi đầu xuống mà thờ lạy.
31.
Ê-xê-chia cất tiếng nói rằng: Bây giờ các ngươi đã biệt mình riêng ra
thánh cho Ðức Giê-hô-va; vậy hãy đến gần, đem những hi sinh và của lễ cảm
tạ vào trong đền của Ðức Giê-hô-va. Hội chúng bèn dẫn đến những hi sinh và
của lễ cảm tạ; còn kẻ nào vui lòng thì đem dâng những của lễ thiêu.
32.
Số con sinh dùng về của lễ thiêu mà hội chúng đem đến là bảy mươi con bò
đực, một trăm con chiên đực, và hai trăm con chiên con; họ dùng các thú đó
làm của lễ thiêu cho Ðức Giê-hô-va.
33. Cũng biệt riêng ra thánh sáu
trăm con bò đực và ba ngàn con trừu.
34. Song thầy tế lễ chỉ có ít quá,
không đủ lột da các con sinh dùng về của lễ thiêu vì vậy anh em họ, là
người Lê-vi, bèn giúp đỡ họ cho đến khi xong công việc, và những thầy tế
lễ đã dọn mình thánh sạch; vì người Lê-vi có lòng thành dọn mình thánh
sạch hơn những thầy tế lễ.
35. Lại cũng có nhiều của lễ thiêu, mỡ của
lễ thù ân, và lễ quán cặp theo mỗi của lễ thiêu. Vậy, cuộc tế lễ trong đền
Ðức Giê-hô-va đã lập lại rồi.
36. Ê-xê-chia và cả dân sự đều vui mừng
về điều Ðức Chúa Trời đã sắm sửa cho dân sự; bởi công việc ấy thình lình
mà làm thành.
2 Sử-Ký
30 chọn
đoạn khác
1. Ê-xê-chia sai sứ đến cả Y-sơ-ra-ên
và Giu-đa, cũng viết thơ cho người Ép-ra-im và người Ma-na-se, đòi chúng
tới đền Ðức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, đặng giữ lễ Vượt qua cho
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
2. Vua và các quan trưởng cùng
cả hội chúng ở Giê-ru-sa-lem hội nghị nhau, định dự lễ Vượt qua trong
tháng hai;
3. vì chúng không thể dự lễ trong lúc ấy, bởi số thầy tế lễ
dọn mình thánh sạch không đủ, và dân sự chưa nhóm lại tại
Giê-ru-sa-lem.
4. Vua và cả hội chúng đều lấy việc ấy làm phải;
5.
bèn nhất định rao truyền khắp xứ Y-sơ-ra-ên, từ Bê-e-Sê-ba cho đến Ðan,
khiến người ta đến dự lễ Vượt qua của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, tại Giê-ru-sa-lem; vì từ lâu nay chúng không có dự lễ ấy như
đã chép trong luật lệ.
6. Vậy, các trạm vâng mạng đem thơ của vua và
của các quan trưởng đi khắp xứ Y-sơ-ra-ên và xứ Giu-đa, thơ rằng: Hỡi con
cháu Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham,
của Y-sác và của Y-sơ-ra-ên, hầu cho Ngài trở lại cùng những kẻ còn sót
lại trong các ngươi mà được thoát khỏi tay các vua A-si-ri.
7. Chớ nên
giống như tổ phụ và anh em các ngươi đã phạm tội cùng Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của tổ phụ họ, đến đỗi Ngài phó chúng vào sự hư bại, như các ngươi đã
thấy.
8. Bây giờ, chớ cứng cổ như tổ phụ các ngươi hãy giơ tay mình ra
cho Ðức Giê-hô-va, vào trong nơi thánh mà Ngài đã biệt riêng ra thánh đời
đời, và hầu việc Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi, để cơn giận phừng
của Ngài xây khỏi các ngươi.
9. Vì nếu các ngươi trở lại cùng Ðức
Giê-hô-va, thì anh em và con cái của các ngươi sẽ được ơn trước mặt những
kẻ bắt họ làm phu tù, và họ sẽ được trở về trong xứ này; bởi Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của các ngươi có lòng nhân từ và hay thương xót, sẽ không xây
mặt khỏi các ngươi, nếu các ngươi trở lại cùng Ngài.
10. Các trạm thành
này qua thành kia, trong khắp xứ Ép-ra-im, Ma-na-xe, và cho đến đất
Sa-nu-lôn; song người ta chê cười nhạo báng chúng
11. Dầu vậy, cũng có
mấy người trong A-se, Ma-na-se, và Sa-bu-lôn chịu hạ mình xuống và đến
Giê-ru-sa-lem.
12. Ðức Chúa Trời cũng cảm động người Giu-đa, đồng lòng
vâng mạng lịnh của vua và các quan trưởng đã truyền ra, theo lời của Ðức
Giê-hô-va.
13. Tháng hai, có nhiều người nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem,
một hội rất đông đảo, đặng giữ lễ bánh không men.
14. Chúng chổi dậy,
cất hết các bàn thờ ở trong Giê-ru-sa-lem, và những bình đốt hương, rồi
đem liệng nó trong khe Xết-rôn.
15. Ngày mười bốn tháng hai, người ta
giết con sinh về lễ Vượt qua; còn những thầy tế lễ và người Lê-vi, thì lấy
làm hổ thẹn, bèn dọn mình thanh sạch, và đem những của lễ thiêu vào trong
đền Ðức Giê-hô-va.
16. Chúng đều đứng trong chỗ mình, theo thường lệ đã
định trong luật pháp của Môi-se, người của Ðức Chúa Trời; và những thầy tế
lễ nhận lấy huyết nơi tay người Lê-vi mà rảy ra.
17. Trong hội chúng
còn nhiều người chưa dọn mình thanh sạch; vì vậy người Lê-vi phải giết
dâng con sinh về lễ Vượt qua thế cho mỗi người không thanh sạch, để làm họ
nên thanh sạch cho Ðức Giê-hô-va.
18. Vì trong dân sự, nhất là trong
dân Ép-ra-im, Ma-na-se, Y-sa-ca, và Sa-bu-lôn có nhiều người không dọn
mình thanh sạch, lại ăn lễ Vượt qua, chẳng theo lệ đã chép; vì Ê-xê-chia
có cầu nguyện cho chúng, mà rằng:
19. Nguyện Ðức Giê-hô-va là Ðấng nhân
từ, tha tội cho những người đã hết lòng tìm kiếm Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của tổ phụ họ, mặc dầu không theo lệ tẩy uế của đền thánh mà dọn mình cho
thanh sạch.
20. Ðức Giê-hô-va dủ nghe lời cầu nguyện của Ê-xê-chia và
chữa lành cho dân sự.
21. Những người Y-sơ-ra-ên ở tại Giê-ru-sa-lem
giữ lễ bánh không men trong bảy ngày cách vui vẻ; người Lê-vi và những
thầy tế lễ ngày này sang ngày kia, dùng nhạc khí hát mừng ngợi khen Ðức
Giê-hô-va.
22. Ê-xê-chia nói an ủi lòng những người Lê-vi thông sáng
hiểu biết cuộc thờ phượng Ðức Giê-hô-va. Chúng ăn lễ trong bảy ngày, dâng
những của lễ thù ân, và cảm tạ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ phụ
mình.
23. Cả hội chúng bèn quyết định giữ lễ thêm bảy ngày; rồi chúng
vui vẻ giữ thêm bảy ngày nữa.
24. Vì Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã ban cho
hội chúng một ngàn con bò đực và bảy ngàn con chiên; các quan trưởng cũng
ban cho hội chúng một ngàn con bò đực và mười ngàn con chiên lại có nhiều
thầy tế lễ dọn mình ra thanh sạch.
25. Cả hội chúng Giu-đa với những
thầy tế lễ, người Lê-vi, và hội chúng đến từ Y-sơ-ra-ên, cùng những người
ngoại bang, kẻ thì kiều ngụ trong xứ Y-sơ-ra-ên, người thì kiều ngụ trong
xứ Giu-đa, thảy đều vui mừng.
26. Ấy vậy, ở Giê-ru-sa-lem có sự vui
mừng cả thể; vì từ đời Sa-lô-môn, con trai Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, tại
thành Giê-ru-sa-lem chẳng có sự gì như vậy.
27. Ðoạn, những thầy tế lễ
và người Lê-vi đứng dậy chúc phước cho dân sự; tiếng của chúng được nhậm,
lời cầu nguyện chúng thấu đến nơi ngự thánh của Ðức Giê-hô-va trên các
từng trời.
2 Sử-Ký 31
chọn
đoạn khác
1. Khi các việc ấy đã xong, những người
Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đi ra các thành Giu-đa, đập bể những trụ thờ,
đánh đổ các thần A-sê-ra, phá dỡ những nơi cao, và các bàn thờ trong khắp
đất Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im, và Ma-na-se, cho đến khi đã phá hủy hết
thảy. Ðoạn, hết thảy dân Y-sơ-ra-ên ai nấy đều trở về thành mình, về nơi
sản nghiệp mình.
2. Ê-xê-chia lập lại các ban thứ của những thầy tế lễ
và của người Lê-vi, tùy theo phần việc của mỗi người đặng dâng của lễ
thiêu và của lễ thù ân, đặng phụng sự, cảm tạ, và hát ngợi khen Chúa tại
nơi các cửa trại của Ðức Giê-hô-va.
3. Người cũng định phần vua phải
lấy trong tài sản mình đặng dùng làm của lễ thiêu về buổi sớm mai và buổi
chiều, cùng dùng về những của lễ thiêu trong ngày sa-bát, ngày mồng một,
và trong các này lễ trọng thể, y như đã chép trong luật pháp của Ðức
Giê-hô-va.
4. Người cũng truyền cho dân sự ở tại Giê-ru-sa-lem, phải
cung cấp phần của những thầy tế lễ và người Lê-vi, hầu cho chúng chuyện lo
gìn giữ luật pháp của Ðức Giê-hô-va.
5. Khi chỉ dụ của vua mới truyền
ra, thì dân Y-sơ-ra-ên đem đến rất nhiều sản vật đầu mùa về ngũ cốc, rượu,
dầu, mật, và những thổ sản khác; chúng đem đến một phần mười của mọi vật
thật rất nhiều.
6. Người Y-sơ-ra-ên và người Giu-đa ở trong các thành
xứ Giu-đa, cũng đều đem đến nộp một phần mười về bò và chiên, cùng một
phần mười về các vật đã biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của chúng, rồi để ra từng đống.
7. Tháng thứ ba, chúng khởi gom lại
từng đống, và qua đến tháng bảy mới xong.
8. Khi Ê-xê-chia và các quan
trưởng đến, thấy các đống ấy, thì ngợi khen Ðức Giê-hô-va, và chúc phước
cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
9. Ê-xê-chia hỏi thăm những thầy tế lễ và
người Lê-vi về tích những đống ấy.
10. A-xa-ria, thầy tế lễ cả về dòng
Xa-đốc, thưa lại cùng người mà rằng: Từ khi dân sự khởi đem lễ vật vào
trong đền Ðức Giê-hô-va, thì chúng tôi có ăn được đầy đủ, và còn dư lại
nhiều; vì Ðức Giê-hô-va đã ban phước cho dân sự Ngài; còn số nhiều này, ấy
là phần dư lại.
11. Ê-xê-chia truyền dọn dẹp các phòng trong đền Ðức
Giê-hô-va; người ta bèn dọn dẹp,
12. rồi đem vào cách ngay thẳng các lễ
vật, thuế một phần mười, và các vật thánh. Cô-na-nia, người Lê-vi, cai
quản những vật ấy, và Si-mê-i, em người, làm phó;
13. còn Giê-hi-ên,
A-xa-xia, Na-hát, A-sa-ên, Giê-ri-mốt, Giô-sa-bát, Ê-li-ên, Gít-ma-kia,
Ma-hát, và Bê-na-gia, đều làm kẻ coi sóc dưới quyền Cô-na-nia và Si-mê-i,
em người, cứ theo lịnh của vua Ê-xê-chia và A-xa-ria, là người cai trị đền
Ðức Chúa Trời.
14. Cô-rê, con trai của Dim-na, người Lê-vi, là kẻ giữ
cửa phía đông, được đặt cai quản các lễ vật lạc ý dâng cho Ðức Chúa Trời,
đặng phân phát các lễ vật dâng cho Ðức Giê-hô-va và những vật rất
thánh.
15. Dưới tay người có Ê-đen, Min-gia-min, Giê-sua, Sê-ma-gia,
A-ma-ria, và Sê-ca-nia, ở trong các thành thầy tế lễ, đặng phân phát lễ
vật ấy cách công bình cho anh em mình, hoặc nhỏ hay lớn, thao ban thứ của
họ.
16. Ngoại trừ những nam đinh đã biên tên vào gia phổ từ ba tuổi sắp
lên, tức những kẻ theo ban thứ mình mà vào đền Ðức Giê-hô-va đặng phụng sự
trong chức mình, làm việc ngày nào theo ngày nấy;
17. lại phân phát cho
những thầy tế lễ đã theo tông tộc mình mà ghi tên vào gia phổ, và cho
người Lê-vi từ hai mươi tuổi sắp lên, tùy theo chức phận và ban thứ của
họ;
18. cùng phân phát cho hết thảy con nhỏ của họ, vợ họ, con trai và
con gái họ, tức cả hội chúng ghi tên vào gia phổ; vì chúng thành tín biệt
mình riêng ra đặng nên thánh.
19. Còn về con cháu A-rôn, tức là những
thầy tế lễ ở trong đồng ruộng, rải rác nơi địa hạt các thành của họ, thì
có đặt trong mỗi thành những người gọi từng tên, đặng phân phát phần cho
hết thảy người nam trong những thầy tế lễ và cho những kẻ trong vòng người
Lê-vi đã ghi tên vào gia phổ.
20. Trong khắp Giu-đa, Ê-xê-chia làm như
vậy. Người làm những điều lành, ngay thẳng và chơn thành, tại trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của người.
21. Trong các việc người làm, hoặc
quản lý sự phục dịch nơi đền của Ðức Chúa Trời, hoặc theo luật pháp hay là
điều răn đặng tìm kiếm Ðức Chúa Trời của người, thì người hết lòng mà làm,
và được hanh thông.
2
Sử-Ký 32 chọn
đoạn khác
1. Sau các việc này và sự thành
tín này, thì San-chê-ríp loán đến trong xứ Giu-đa, vây các thành bền vững,
có ý hãm lấy nó.
2. Khi Ê-xê-chia thấy San-chê-ríp đã đến, toan hãm
đánh Giê-ru-sa-lem,
3. thì người hội nghị với các quan trưởng và những
người mạnh dạn đặng ngăn nước suối ở ngoài thành; họ bèn giúp đỡ
người.
4. Dân sự nhóm lại đông, chận các suối và các khe chảy giữ xứ,
mà rằng: Làm gì để cho vua A-si-ri đến, thấy có nước nhiều?
5. Người tự
can đảm, xây đắp vách thành đã bị hư lủng, xây nó lên đến tận tháp; rồi
lại xây một cái vách khác ở phía ngoài; người làm cho vững chắc Mi-lô ở
trong thành Ða-vít và chế nhiều cây lao cùng khiên.
6. Người lập những
quan tướng trên dân sự, rồi hiệp lập chúng lại gần mình tại phố bên cửa
thành, nói động lòng chúng, mà rằng:
7. Khá vững lòng bền chí, chớ sợ,
chớ kinh hãi trước mặt vua A-si-ri và đám quân đông đảo theo người; vì có
một Ðấng ở cùng chúng ta thắng hơn kẻ ở với họ:
8. với người chỉ một
cánh tay xác thịt; còn với chúng ta có Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của chúng
ta đặng giúp đỡ và chiến tranh thế cho chúng ta. Dân sự bèn nương cậy nơi
lời của Ê-xê-chia, vua Giu-đa.
9. Sau việc ấy, San-chê-ríp, vua
A-si-ri, với cả đạo binh của người hãy còn vây La-ki, có sai các đầy tớ
người đến Ê-xê-chia và dân Giu-đa ở tại Giê-ru-sa-lem, mà nói rằng:
10.
San-chê-ríp, vua A-si-ri, nói như vầy: Các ngươi nương cậy điều gì, mà
chịu ở vậy trong thành Giê-ru-sa-lem như thế?
11. Ê-xê-chia nói rằng:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay vua
A-si-ri, ấy há chẳng phải người dỗ dành các ngươi đặng phó các ngươi đói
khát cho chết hay sao?
12. Chớ thì chẳng phải chính Ê-xê-chia này đã
cất những nơi cao và bàn thờ của Ngài, rồi biểu dân Giu-đa và
Giê-ru-sa-lem rằng: Các ngươi khá thờ lạy trước một bàn thờ, và chỉ xông
hương tại trên đó mà thôi?
13. Các ngươi há chẳng biết điều ta và tổ
phụ ta đã làm cho các dân thiên hạ sao? Các thần của những dân tộc thiên
hạ, há giải cứu xứ chúng nó được khỏi tay ta ư?
14. Nội trong các thần
của những dân tộc mà tổ phụ ta đã diệt hết đi, há có thần nào giải cứu dân
mình cho khỏi tay ta chăng? Dễ có một mình Thần các ngươi giải cứu các
ngươi được khỏi tay ta chớ!
15. Vậy bây giờ, chớ để Ê-xê-chia phỉnh
gạt, khuyên dụ các ngươi như thế, và các ngươi chớ tin người; vì chẳng có
thần của dân nào nước nào giải cứu dân mình được khỏi tay ta hay là khỏi
tay tổ phụ ta; huống chi Ðức Chúa Trời các ngươi giải cứu các ngươi khỏi
tay ta!
16. Các đầy tớ người lại còn nói nghịch cùng Giê-hô-va là Ðức
Chúa Trời thật, và nghịch cùng Ê-xê-chia, là tôi tớ Ngài.
17. Người
cũng viết thơ sỉ nhục Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và nói phạm
đến Ngài mà rằng: Hễ thần của các dân tộc thiên hạ chẳng giải cứu dân mình
khỏi tay ta thế nào, thì thần của Ê-xê-chia cũng chẳng giải cứu được dân
sự người khỏi tay ta thế ấy.
18. Chúng la lớn lên, nói bằng tiếng
Giu-đa cho dân Giê-ru-sa-lam ở trên vách thành, đặng làm cho chúng sợ
hoảng, để hãm lấy thành.
19. Chúng lại nói về Ðức Chúa Trời của
Giê-ru-sa-lem, như thể các thần của dân thiên hạ đều là công việc của tay
người ta làm ra.
20. Vua Ê-xê-chia, và tiên tri Ê-sai, con trai A-mốt,
cầu nguyện về việc này, và kêu la thấu đến trời.
21. Ðức Giê-hô-va bèn
sai một thiên sứ diệt những người mạnh dạn, các quan trưởng và các quan
tướng ở trong trại quân của vua A-si-ri. người trở về trong xứ mình, mặt
hổ thẹn; và khi người vào trong miễu thần mình, có những kẻ bởi lòng người
sanh ra đều lấy gươm giết người tại đó.
22. Như vậy Ðức Giê-hô-va cứu
Ê-xê-chia và dân cư thành Giê-ru-sa-lem khỏi tay San-chê-ríp, vua A-si-ri,
và khỏi tay mọi người khác, cùng phù hộ cho chúng bốn bên.
23. Có nhiều
người đem những lễ vật đến dâng cho Ðức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, và
những vật quí báu cho Ê-xê-chia, vua Giu-đa; nên từ khi ấy về sau, người
được tôn cao trước mặt các nước.
24. Trong lúc ấy, Ê-xê-chia bị đau
hòng chết; người cầu nguyện Ðức Giê-hô-va, Ðức Giê-hô-va phán cùng người,
và ban cho người một dấu lạ.
25. Nhưng Ê-xê-chia chẳng báo đáp lại ơn
Chúa mà người đã lãnh, vì lòng người tự cao; bèn có cơn thạnh nộ của Chúa
nổi lên cùng người, cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
26. Song Ê-xê-chia hạ
sự tự cao trong lòng mình xuống, người và dân cư Giê-ru-sa-lem cũng vậy,
nên trong đời Ê-xê-chia, cơn thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va không giáng trên
chúng.
27. Ê-xê-chia được rất giàu rất sang; người cất những kho để trử
bạc, vàng, đá quí, thuốc thơm, khiên, và các thứ khí giới tốt đẹp;
28.
những lẫm đặng chứa ngũ cốc, rượu, và dầu; những chuồng để nhốt các thứ
thú vật, bầy chiên, và bầy bò.
29. Người cũng xây những thành, có nhiều
bầy chiên và bò; vì Ðức Chúa Trời ban cho người rất nhiều của cải.
30.
Ấy là Ê-xê-chia này lấp nguồn trên của nước Ghi-hôn, và dẫn nó chảy ngầm
dưới đất qua phía tây của thành Ða-vít. Trong mọi việc Ê-xê-chia được hanh
thông.
31. Song khi sứ giả mà vua Ba-by-lôn sai đến người đặng hỏi thăm
dấu lạ đã xảy ra trong xứ, thì Ðức Chúa Trời tạm lìa bỏ người đặng thử
người, để cho biết mọi điều ở trong lòng người.
32. Các công việc khác
của Ê-xê-chia, và những việc thiện của người, đều chép trong sách dị tượng
của Ê-sai, đấng tiên tri, con trai của A-mốt, và trong sách các vua Giu-đa
và Y-sơ-ra-ên.
33. Ê-xê-chia an giấc cùng tổ phụ mình, người ta chôn
người trong lăng tẩm cao của con cháu Ða-vít; cả Giu-đa và Giê-ru-sa-lem
đều tôn kính người lúc người thác; Ma-na-se, con trai người, cai trị thế
cho người.
2 Sử-Ký 33
chọn
đoạn khác
1. Ma-na-se được mười hai tuổi khi người
lên làm vua, và người cai trị năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem.
2.
Người làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, theo những sự gớm ghiếc của các
dân tộc mà Ðức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
3.
Người cất lại các nơi cao mà Ê-xê-chia, cha người, đã phá dỡ, dựng lên
những bàn thờ cho Ba-anh, làm các tượng A-sê-ra, thờ lạy cả cơ binh trên
trời, và hầu việc chúng nó.
4. Người xây những bàn thờ tại trong đền
Ðức Giê-hô-va, là về nơi ấy mà Ðức Giê-hô-va đã phán rằng: Danh ta sẽ ngự
nơi Giê-ru-sa-lem đời đời.
5. Người cũng lập những bàn thờ cho các cơ
binh trên trời, tại trong hai hành lang của đến Ðức Giê-hô-va,
6. và
đưa con cái mình qua lửa, tại trong trũng con Hi-nôm; người xem bói; ếm
chú, dùng pháp thuật, ham theo những kẻ cầu vong và thầy phù thủy: người
làm điều ác thái quá tại trước mặt Ðức Giê-hô-va đặng chọc giận
Ngài.
7. Người đặt hình tượng chạm mà mình đã làm trong đền của Ðức
Chúa Trời, là về đền ấy mà Ðức Chúa Trời có phán với Ða-vít và Sa-lô-môn,
con trai người, rằng: Trong đền này và tại Giê-ru-sa-lem, thành ta đã chọn
trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, ta sẽ đặt danh ta ở đời đời;
8. nếu
Y-sơ-ra-ên gìn giữ làm theo các luật pháp, điều răn, và mạng lịnh, mà ta
đã cậy Môi-se phán dạy chúng nó, thì ta sẽ chẳng cất chơn của chúng nó
khỏi đất ta đã ban cho tổ phụ chúng nó.
9. Ma-na-se quyến dụ Giu-đa và
dân sự Giê-ru-sa-lem, đến đỗi chúng làm điều ác hơn các dân tộc mà Ðức
Giê-hô-va đã hủy diệt khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
10. Ðức Giê-hô-va
phán bảo Ma-na-se và dân sự người; song chúng không chủ ý đến.
11. Vì
cớ ấy, Ðức Giê-hô-va khiến các quan tướng đạo binh của vua A-si-ri đến hãm
đánh chúng; các quan ấy bắt đóng cùm Ma-na-se, xiềng người lại, rồi dẫn về
Ba-by-lôn.
12. Khi người bị hoạn nạn, bèn cầu khẩn Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của người và hạ mình xuống lắm trước mặt Ðức Chúa Trời của tổ phụ
người.
13. Ma-na-se cầu nguyện cùng Ngài; Ngài nhậm người, dủ nghe lời
nài xin của người, dẫn người về Giê-ru-sa-lem trong nước người; khi ấy
Ma-na-se nhìn biết Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời.
14. Sau việc ấy, người
xây vách ngoài thành Ða-vít, về phía tây Ghi-hôn trong trũng, đến lối vào
cửa cá, và chung quanh Ô-phên, xây nó rất cao rồi người đặt những quan
tướng trong các thành bền vững xứ Giu-đa.
15. Người cất khỏi đền Ðức
Giê-hô-va những thần ngoại bang, hình tượng, và bàn thờ mà người đã xây
trên núi của đền Ðức Giê-hô-va và tại Giê-ru-sa-lem, rồi quăng nó ra ngoài
thành.
16. Ðoạn, người sửa sang bàn thờ của Ðức Giê-hô-va, dâng của lễ
bình an và của lễ thù ân tại đó; người truyền dạy dân Giu-đa phục sự
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
17. Dầu vậy, dân sự còn tế lễ
cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của mình mà thôi.
18. Các công việc khác
của Ma-na-se, lời người cầu nguyện cùng Ðức Chúa Trời người, và các lời
của đấng tiên kiến nhân danh Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà
phán với người, đều đã chép trong sách các vua Y-sơ-ra-ên.
19. Bài cầu
nguyện người, và làm sao Ðức Chúa Trời nhậm lời người, các tội lỗi, và
gian ác người đã phạm, những chỗ người lập nơi cao, dựng lên thần A-sê-ra
và tượng chạm, trước khi người chưa hạ mình xuống, kìa, thảy đều chép
trong truyện Hô-xai.
20. Ma-na-xe an giấc cùng tổ phụ mình, được chôn
trong cung điện người; A-môn con trai người, cai trị thế cho người.
21.
A-môn được hai mươi hai tuổi khi người lên ngôi làm vua; người cai trị hai
năm tại Giê-ru-sa-lem.
22. Người làm điều ác tại trước mặt Ðức
Giê-hô-va y như Ma-na-se, cha người, đã làm, cúng tế cho các tượng chạm mà
Ma-na-se, cha người, đã làm, và hầu việc chúng nó.
23. Người không hạ
mình xuống trước mặt Ðức Giê-hô-va như Ma-na-se, cha người, đã làm; nhưng
người càng thêm phạm tội.
24. Các đầy tớ người mưu phản, giết người tại
trong cung điện người.
25. Còn dân sự của xứ lại giết các kẻ đã mưu
phản giết vua A-môn; rồi lập Giô-si-a, con trai người, làm vua thế cho
người.
2 Sử-Ký 34
chọn
đoạn khác
1. Giô-si-a được tám tuổi khi người lên
ngôi làm vua, và cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem.
2. Người
làm điều thiện trước mặt Ðức Giê-hô-va, và đi theo con đường của Ða-vít,
tổ phụ người, không xây về bên hữu hay là bên tả.
3. Năm thứ tám đời
người trị vì, khi người hãy còn trẻ tuổi, thì người khởi tìm kiếm Ðức Chúa
Trời của Ða-vít, tổ phụ người; năm thứ mười hai, người khởi dọn sạch
Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, trừ bỏ những nơi cao, thần A-sê-ra, tượng chạm và
tượng đúc.
4. Trước mặt vua, người ta phá dỡ các bàn thờ Ba-anh, đánh
đổ những trụ thờ mặt trời ở trên cao bàn thờ ấy; còn thần A-sê-ra, tượng
chạm và tượng đúc, thì bẻ gãy, nghiền nát nó ra, rồi rải trên mồ mả của
những kẻ đã cúng tế nó.
5. Người cũng thiêu hài cốt của những thầy tế
lễ tại trên bàn thờ các thần ấy, và dọn sạch Giu-đa và
Giê-ru-sa-lem.
6. Trong các thành của Ma-na-se, của Ép-ra-im, và của
Si-mê-ôn, cho đến Nép-ta-li khắp chung quanh các nơi đổ nát,
7. người
phá dỡ các bàn thờ và nghiền nát ra bụi những thần A-sê-ra, tượng chạm và
tượng đúc, đánh đổ các trụ thờ mặt trời ở trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên; rồi
người trở về Giê-ru-sa-lem.
8. Năm thứ mười tám đời người trị vì, sau
khi đã dọn sạch xứ và đền thờ rồi, thì người sai Sa-phan, con trai
A-sa-lia, Ma-a-xê-gia, quan cai thành, và Giô-a, con trai Giô-a-cha, quan
thái sử, đặng sửa sang đền của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời người.
9. Các
người ấy đi đến cùng Hinh-kia, thầy tế lễ thượng phẩm, giao cho người tiền
bạc đã đem vào đền Ðức Chúa Trời, tức tiền bạc mà người Lê-vi, kẻ giữ cửa,
đã nhận nơi tay người Ma-na-se, người Ép-ra-im, và nơi những kẻ còn sót
lại trong Y-sơ-ra-ên, cùng nhận nơi cả Giu-đa, Bên-gia-min và những dân cư
thành Giê-ru-sa-lem.
10. Chúng giao bạc ấy nơi tay những người coi sóc
công việc của đền Ðức Giê-hô-va; họ phát cho các thợ đặng tu bổ, sửa sang
đền thờ:
11. tức giao cho các nhà thuộc về đền mà các vua Giu-đa đã phá
hủy.
12. Các thợ ấy đều làm công việc cách thành tâm. Kẻ quản đốc các
thợ ấy là Gia-hát và Ô-ba-đia, hai người Lê-vi thuộc về dòng Mê-ra-ri;
Xa-cha-ri và Mê-su-lam về dòng Kê-hát, cùng mấy người Lê-vi khác, đánh
nhạc khí giỏi.
13. Chúng cũng quản đốc kẻ khiêng gánh, và coi sóc những
người làm đủ mọi thứ công việc; còn những ký lục, quan cai và kẻ canh cửa
đều là người Lê-vi.
14. Khi người ta đem bạc đã đem vào đền Ðức
Giê-hô-va ra, thì Hinh-kia, thầy tế lễ, tìm được cuốn sách luật pháp của
Ðức Giê-hô-va truyền lại bởi Môi-se.
15. Hinh-kia cất tiếng lên nói với
thơ ký Sa-phan rằng: Ta có tìm được cuốn sách luật pháp ở trong đền của
Ðức Giê-hô-va. Rồi Hinh-kia giao sách ấy cho Sa-phan.
16. Sa-phan đem
sách đó cho vua; rồi người cũng tâu với vua rằng: Mọi việc giao nơi tay
các tôi tớ vua thì họ đương làm.
17. Chúng đã lấy bạc tìm được trong
đền Ðức Giê-hô-va ra, và đã giao nơi tay các đốc công và những người làm
công việc.
18. Thơ ký Sa-phan lại tâu với vua rằng: Thầy tế lễ Hinh-kia
có trao cho tôi một cuốn sách. Sa-phan bèn đọc tại trước mặt vua.
19.
Xảy khi vua nghe các lời luật pháp rồi, thì xé áo mình.
20. Vua truyền
lịnh cho Hinh-kia, A-hi-cam, con trai của Sa-phan, Áp-đôn, con trai của
Mi-ca, Sa-phan, thơ ký, và A-sa-gia, quan cận thần vua, mà rằng:
21.
Hãy vì ta, vì các người Y-sơ-ra-ên và vì người Giu-đa còn sót lại, mà đi
cầu vấn Ðức Giê-hô-va về các lời phán của sách này đã tìm lại được vì cơn
giận của Ðức Giê-hô-va đã giáng trên chúng ta thật lớn thay, bởi các tổ
phụ ta không gìn giữ lời phán của Ðức Giê-hô-va, và chẳng làm theo các
điều đã chép trong sách này.
22. Hinh-kia và các kẻ vua sai đi đến
Hun-đa, nữ tiên tri, vợ của Sa-lum, là người giữ áo lễ, con trai của
Tô-cát, cháu Hát-ra; bà ở tại Giê-ru-sa-lem trong quận thứ nhì; chúng nói
với bà theo các lời vua đã phán.
23. Bà bèn nói với chúng rằng:
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-r-ên phán như vầy: Hãy nói cùng người đã
sai các ngươi đến cùng ta rằng:
24. Ðức Giê-hô-va phán như vầy: nầy ta
sẽ khiến các tai vạ giáng trên chỗ này và trên dân ở chỗ này, tức là các
sự rủa sả chép trong sách mà người ta đã đọc trước mặt vua Giu-đa.
25.
Bởi vì chúng đã lìa bỏ ta, xông hương cho các tà thần, lấy các công việc
tay chúng nó làm mà chọc giận ta; nên cơn thạnh nộ ta sẽ đổ ra trên chỗ
này, không hề nguôi.
26. Còn vua Giu-đa đã sai các ngươi đi cầu vấn Ðức
Giê-hô-va, các ngươi hãy nói cho người như vầy: Về các lời ngươi đã nghe,
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy:
27. Khi ngươi
nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ này, và nghịch cùng dân cư nó, thì ngươi
có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt ta, xé áo ngươi, và khóc lóc tại
trước mặt ta; bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi.
28. Kìa, ta sẽ
khiến ngươi về cùng tổ phụ ngươi, ngươi sẽ được chôn bình an, và mắt ngươi
sẽ chẳng thấy các tai vạ ta toan giáng xuống trên chốn này cùng trên dân
cư nó. Chúng bèn tâu lại cho vua những lời ấy.
29. Vua bèn sai người
nhóm các trưởng lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
30. Ðoạn, vua đi lên đền
Ðức Giê-hô-va, có hết thảy người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, những thầy
tế lễ, người Lê-vi, và cả dân sự, từ nhỏ đến lớn, đều đi theo người; người
đọc cho chúng nghe các lời của sách giao ước đã tìm được trong đền của Ðức
Giê-hô-va,
31. Vua đứng tại chỗ mình, lập giao ước trước mặt Ðức
Giê-hô-va, hứa đi theo Ðức Giê-hô-va, hết lòng hết ý gìn giữ các điều răn,
chứng cớ, và luật lệ của Ngài, đặng làm trọn lời giao ước giao ước đã chép
trong sách ấy.
32. Người cũng khiến những người ở Giê-ru-sa-lem và
Bên-gia-min ưng theo giao ước ấy. Vậy, dân cư Giê-ru-sa-lem đều làm theo
giao ước của Ðức Chúa Trời, là Ðức Chúa Trời của tổ phụ họ.
33.
Giô-si-a cất hết thảy sự gớm ghiếc khỏi các xứ thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, và
buộc hết thảy những người ở xứ Y-sơ-ra-ên phải phục sự Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của họ. Trọn đời Giô-si-a, chúng hằng theo Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của tổ phụ họ, chẳng lìa bỏ Ngài.
2 Sử-Ký 35 chọn
đoạn khác
1. Giô-si-a giữ lễ
Vượt qua cho Ðức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem ngày mười bốn tháng giêng, họ
giết con sinh về lễ Vượt qua.
2. Người cắt những thầy tế lễ giữ chức
phận mình, và khuyên giục chúng về việc của đền Ðức Giê-hô-va.
3. Người
phán cùng những người Lê-vi vẫn dạy dỗ cả Y-sơ-ra-ên, và đã biệt mình
riêng ra thánh cho Ðức Giê-hô-va, mà rằng: Hãy để hòm thánh tại trong đền
mà Sa-lô-môn, con trai của Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, đã xây cất; các ngươi
không còn khiêng hòm ấy trên vai. Bây giờ, hãy phục sự Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của các ngươi và giúp việc cho Y-sơ-ra-ên là dân sự của Ngài;
4.
các ngươi hãy tùy tông tộc và ban thứ các ngươi, mà dọn mình cho sẵn,
chiếu theo lệ luật mà Ða-vít, vua Y-sơ-ra-ên, và Sa-lô-môn, con trai
người, đã chép.
5. Ðoạn hạy đứng trong nơi thánh, theo thứ tự tông tộc
của anh em các ngươi, là dân Y-sơ-ra-ên, và theo thứ tự tông tộc của anh
em các ngươi, là dân Y-sơ-ra-ên, và theo thứ tự tông tộc của người
Lê-vi.
6. Các ngươi hãy giết con sinh về lễ Vượt qua, biệt mình riêng
ra thánh và sắm sửa lễ Vượt qua thế cho anh em các ngươi, để làm y như lời
của Ðức Giê-hô-va cậy Môi-se phán.
7. Giô-si-a ban cho dân sự những súc
vật nhỏ, số là ba vạn chiên con và dê con, cùng ba ngàn con bò đực, dùng
trọn về lễ Vượt qua cho các người có mặt tại đó; các thú đó đều bắt nơi
sản vật của vua.
8. Các quan trưởng cũng đều đành lòng ban súc vật cho
dân sự, cấp cho thầy tế lễ và người Lê-vi. Hinh-kia, Xa-cha-ri, và
Giê-hi-ên, là các người quản đốc đền Ðức Chúa Trời, cấp cho những thầy tế
lễ, hai ngàn sáu trăm con chiên, và ba trăm con bò để dùng về lễ Vượt
qua.
9. Cô-na-nia, Sê-ma-gia, Na-tha-na-ên, và các anh em người,
Ha-sa-bia, Giê-i-ên, và Giô-xa-bát, là các quan trưởng của người Lê-vi,
đều cấp cho người Lê-vi năm ngàn con chiên, và năm trăm con bò để dùng về
lễ Vượt qua.
10. Vậy, việc tế lễ đã sắp đặt rồi, những thầy tế lễ đều
đứng tại chỗ mình, và người lê-vi cứ theo ban thứ mình, y theo mạng lịnh
của vua.
11. Người Lê-vi giết con sinh về lễ Vượt qua, và những thầy tế
lễ nhận lấy huyết nơi tay chúng mà rảy nó ra; còn người Lê-vi thì lột da
con sinh.
12. Chúng để những của lễ thiêu riêng ra, đặng phân phát cho
dân sự, theo thứ tự tông tộc của họ, để dâng cho Ðức Giê-hô-va, tùy theo
điều đã chép trong sách của Môi-se; họ cũng làm như vậy về các con bò
đực.
13. Chúng theo lệ định, mà quay thịt con sinh về lễ Vượt qua; còn
những vật thánh thì nấu trong cái nồi, cái vạc, và cái chảo, rồi hối hả
đem phân phát cho cả dân sự.
14. Kế sau, chúng lo sắm sửa vật dùng cho
mình và cho những thầy tế lễ; vì những thầy tế lễ, là con cháu A-rôn, đều
mắc việc dâng của lễ thiêu và mỡ cho đến chiều tối; vì vậy người Lê-vi sắm
sửa vật dùng cho mình và cho những thầy tế lễ, là con cháu của
A-rôn.
15. Những người ca hát, là con cháu của A-sáp, đều ở tại chỗ
mình, tùy theo lệ của Ða-vít, A-sáp, Hê-man, và Giê-đu-thun, đấng tiên
kiến của vua, đã định; các người canh cửa đều ở tại mỗi cửa, không cần rời
khỏi việc mình, vì anh em của họ, là người Lê-vi, sắm sửa vật dùng cho
họ.
16. Nội ngày đó, các cuộc thờ phượng Ðức Giê-hô-va đã sắp đặt rồi,
để giữ lễ Vượt qua, và dâng những của lễ thiêu trên bàn thờ của Ðức
Giê-hô-va, tùy theo mạng lịnh của vua Giô-si-a.
17. Những người
Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đều giữ lễ Vượt qua trong lúc ấy, và giữ lễ bánh
không men trong bảy ngày.
18. Từ đời tiên tri Sa-mu-ên, trong
Y-sơ-ra-ên, người ta không có giữ lễ Vượt qua giống như vậy; cũng chẳng có
vua nào trong các vua Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt qua giống như lễ Vượt qua mà
Giô-si-a với những thầy tế lễ, người Lê-vi, cả dân Giu-đa, và Y-sơ-ra-ên
có mặt tại đó, đã giữ.
19. Người ta giữ lễ Vượt qua này nhằm năm thứ
mười tám đời Giô-si-a trị vì.
20. Sau các việc ấy, khi Giô-si-a đã sửa
sang đền thờ rồi, thì Nê-cô, vua Ê-díp-tô, đi lên hãm đánh Cạt-kê-mít,
trên bờ sông Ơ-phơ-rát; Giô-si-a kéo ra đón người.
21. Nê-cô sai sứ đến
nói với người rằng: Hỡi vua Giu-đa, ta với ngươi có điều gì chăng? Ngày
nay ta chẳng đến đặng hãm đánh ngươi đâu, nhưng ta ra đánh nhà thù nghịch
nước ta; Ðức Chúa Trời đã phán biểu ta khá vội vàng; vậy, hãy thôi, chớ
chống cự Ðức Chúa Trời, là Ðấng ở cùng ta, e Ngài hủy diệt ngươi
chăng.
22. Dầu vậy, Giô-si-a chẳng khứng thối lại, chẳng chịu nghe lời
Ðức Chúa Trời cậy Nê-cô mà phán ra; nhưng lại ăn mặc giả dạng đặng đối
địch cùng người bèn đến đánh giặc tại trũng Mê-ghi-đô.
23. Các lính cầm
cung bắn nhằm vua Giô-si-a; vua nói với đầy tớ mình rằng: hãy đem ta ra
khỏi đây vì ta bị thương nặng.
24. Các đầy tớ người đem người khỏi xe,
để người trong một cái xe thứ nhì mà người có sẵn, rồi đem người về
Giê-ru-sa-lem. Người thác, được chôn tại trong mồ mả của tổ phụ người. Cả
Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đều thương khóc người.
25. Giê-rê-mi đặt bài ai
ca về Giô-si-a; lại các kẻ ca xướng, năm và nữ, hãy còn hát về Giô-si-a
trong bài ai ca của mình cho đến ngày nay; người ta lập điều đó như một
thường lệ trong Y-sơ-ra-ên; kìa, các chuyện ấy đã chép trong sách ai
ca.
26. Các công việc khác của Giô-si-a, những việc thiện người làm cứ
theo điều đã chép trong sách luật pháp của Ðức Giê-hô-va và các sự người,
từ đầu đến cuối,
27. kìa, đã ghi chép trong sách các vua Y-sơ-r-ên và
Giu-đa.
2 Sử-Ký 36
chọn
đoạn khác
1. Dân sự của xứ bèn lập Giô-a-cha, con
trai Giô-si-a, làm vua thay vì cha người tại Giê-ru-sa-lam.
2.
Giô-a-cha được hai mươi ba tuổi khi lên ngôi làm vua, và cai trị ba tháng
tại Giê-ru-sa-lem.
3. Vua Ê-díp-tô truất ngôi người tại Giê-ru-sa-lem,
và bắt vạ xứ một trăm ta lâng bạc và một ta lâng vàng.
4. Ðoạn, vua
Ê-díp-tô lập Ê-li-a-kim, em Giô-a-cha, làm vua của Giu-đa và
Giê-ru-sa-lem, và đổi tên người ra là Giê-hô-gia-kim. Nê-cô bắt Giô-a-cha,
anh của Giê-hô-gia-kim, đem người về xứ Ê-díp-tô.
5. Giê-hô-gia-kim
được hai mươi lăm tuổi khi người lên ngôi làm vua; người cai trị mười một
năm tại Giê-ru-sa-lem, và làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của người.
6. Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đi lên hãm đánh người,
xiềng người lại, và dẫn người qua Ba-by-lôn.
7. Nê-bu-cát-nết-sa cũng
đoạt lấy đem về Ba-by-lôn những khí dụng của đền Ðức Giê-hô-va, rồi để vào
trong miễu người tại Ba-by-lôn.
8. Các công việc khác của
Giê-hô-gia-kim những sự gớm ghiếc người đã làm, và sự đã tìm được trong
lòng người, thảy đều chép trong sách các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa
Giê-hô-gia-kin, con trai người, cai trị thế cho người.
9.
Giê-hô-gia-kin được mười tám tuổi khi người lên ngôi làm vua, và cai trị
ba tháng mười ngày tại Giê-ru-sa-lem. Người làm điều ác tại trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
10. Sang đầu năm, vua Nê-bu-cát-nết-sa sai bắt người dẫn về
Ba-by-lôn, cùng đoạt lấy đem về các vật tốt đẹp của đền Ðức Giê-hô-va, rồi
lập Sê-đê-kia, em người, làm vua Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
11. Sê-đê-kia
được hai mươi mốt tuổi, khi người lên ngôi làm vua, và cai trị mười một
năm tại Giê-ru-sa-lem.
12. Người làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của người, không hạ mình xuống trước mặt Giê-rê-mi, là đấng tiên
tri vâng mạng Ðức Giê-hô-va mà khuyên bảo người.
13. Người cũng dấy lên
nghịch cùng vua Nê-bu-cát-nết-sa, là vua đã buộc người chỉ Ðức Chúa Trời
mà thề; song người lại cứng cổ rắn lòng, không khứng trở về cùng Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
14. Những thầy tế lễ cả và dân sự đều
theo những sự gớm ghiếc của các dân ngoại bang mà phạm tội lỗi nhiều quá
đỗi; làm cho ô uế đền của Ðức Giê-hô-va mà Ngài đã biệt riêng ra thánh tại
Giê-ru-sa-lem.
15. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của tổ phụ chúng, vì có lòng
thương xót dân sự và đền của Ngài; nên hằng sai sứ giả đến cùng
chúng;
16. nhưng chúng nhạo báng sứ giả của Ðức Chúa Trời, khinh bỉ các
lời phán Ngài, cười nhạo những tiên tri của Ngài, cho đến đỗi cơn thạnh nộ
của Ðức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự Ngài, chẳng còn phương chữa
được.
17. Vì vậy, Ðức Chúa Trời khiến vua dân Canh-đê lên hãm đánh
chúng, người dùng gươm giết những trai trẻ của chúng tại đền thánh họ;
người chẳng thương xót đến, hoặc trai trẻ, nữ đồng trinh, già cả, hay là
kẻ đầu bạc: Ngài phó hết thảy vào tay của vua Canh-đê.
18. Các khí dụng
nhỏ và lớn của đền Ðức Chúa Trời, các bửu vật của vua và của các quan
trưởng vua, cả thảy đều bị đem qua Ba-by-lôn.
19. Chúng đốt đền Ðức
Chúa Trơi, đánh đổ vách thành Giê-ru-sa-lem, lấy lửa đốt các cung điện, và
phá hủy các khí dụng tốt đẹp của nó.
20. Phàm ai thoát khỏi gươm, thì
người bắt đem qua Ba-by-lôn; chúng làm tôi mọi cho người và cho con trai
người cho đến đời nước Phe-rơ-sơ hưng khởi;
21. để cho ứng nghiệm lời
của Ðức Giê-hô-va đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, tức cho đến khi xứ
được hưởng các năm sa-bát của nó; vì trọn lúc xứ bị bỏ hoang, thì dường
như giữ sa-bát, cho đến khi mãn hạn bảy mươi năm.
22. Năm thứ nhất đời
Si-ru, vua Phe-rơ-sơ trị vì, Ðức Giê-hô-a muốn làm cho ứng nghiệm lời Ngài
đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, bèn cảm động lòng Si-ru, vua Phe-rơ-sơ,
rao truyền trong khắp nước mình, và cũng ra chiếu chỉ, mà rằng:
23.
Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy: Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đã ban cho ta
các nước thế gian, và biểu ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại
Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân sự
Ngài, hãy trở lên Giê-ru-sa-lem; nguyện Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của người
ấy ở cùng người!