Mục Lục
[1] [2] [3]
[4] [5] [6] [7]
[8] [9] [10] [11]
[12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19]
[20] [21] [22]
1 Các Vua 1 chọn
đoạn khác
1. Vua Ða-vít đã
già; tuổi cao; và mặc dầu người ta đắp áo cho người, cũng không thể ấm
được.
2. Các tôi tớ người nói với người rằng: Xin tìm cho vua chúa tôi
một gái trẻ đồng trinh, để hầu hạ vua và săn sóc vua. Nàng sẽ nằm trong
lòng vua, thì vua chúa tôi có thể ấm được.
3. Vậy người ta tìm trong
khắp địa phận Y-sơ-ra-ên một người gái trẻ đẹp, và gặp được A-bi-sác,
người Su-nem, dẫn nàng đến cùng vua.
4. Người gái trẻ này rất là lịch
sự. Nàng săn sóc và hầu hạ vua; nhưng vua không thân cận nàng.
5. Vả,
A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, tự tôn mà rằng: Ta sẽ làm vua. Người sắm xe
và quân kỵ, cùng năm mươi người chạy trước mặt mình.
6. Cha người chẳng
hề phiền lòng người mà hỏi rằng: Cớ sao mầy làm như vậy? Vả lại,
A-đô-ni-gia rất đẹp, sanh ra kế sau Áp-sa-lôm.
7. Người bàn tính với
Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia và với thầy tế lễ A-bia-tha; hai người theo
phe A-đô-ni-gia và giúp đỡ người.
8. Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc và
Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, Na-than, thầy tiên tri, Si-mê-i, Rê-i,
và các dõng sĩ của Ða-vít không theo phe A-đô-ni-gia.
9. A-đô-ni-gia
dâng những chiên, bò, và bò con mập bên hòn đá Xô-hê-lết, ở cạnh giếng
Ên-Rô-ghên; rồi mời anh em mình, là các con trai của vua, và hết thảy
những người Giu-đa phục sự vua.
10. Nhưng người chẳng mời Na-than, là
đấng tiên tri, Bê-na-gia, các dõng sĩ, cùng Sa-lô-môn, em mình.
11. Bấy
giờ, Na-than nói với Bát-Sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn, mà rằng: Bà há chẳng hay
rằng A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đã làm vua, mà Ða-vít, chúa ta, chẳng
hay biết sao?
12. Thế thì, bây giờ, hãy nghe; tôi sẽ cho bà một kế để
bà cứu mạng sống mình và mạng sống của Sa-lô-môn.
13. Hãy đi ra mắt vua
Ða-vít, và tâu rằng: Ôi vua, chúa tôi! chúa há chẳng có thề cùng con đòi
của chúa rằng: Con trai ngươi là Sa-lô-môn ắt sẽ trị vì?
14. Trong lúc
bà tâu với vua như vậy, thì chính tôi cũng sẽ đi vào sau, làm cho quả
quyết các lời của bà.
15. Vậy, Bát-Sê-ba đi đến cùng vua, tại trong
phòng. Vua đã già lắm có A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ người.
16.
Bát-Sê-ba cúi mình xuống và lạy trước mặt vua. Vua hỏi rằng: Ngươi muốn
chi?
17. Bà tâu rằng: Chúa tôi ôi! chúa đã nhơn danh Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời chúa thề cùng con đòi của chúa rằng: Sa-lô-môn con trai ngươi sẽ trị
vì kế ta, và nó sẽ ngồi trên ngôi ta.
18. Ôi vua chúa tôi! nhưng bây
giờ, A-đô-ni-gia làm vua, mà chúa chẳng biết chi đến.
19. Người lại có
giết bò đực, bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cũng có mời hết thảy các vương
tử với A-bia-tha, thầy tế lễ, và Giô-áp, quan tổng binh; nhưng người không
mời Sa-lô-môn, kẻ tôi tớ vua.
20. Ôi vua chúa tôi! cả Y-sơ-ra-ên đều
xây mắt về vua, đợi vua cho họ biết ai là người kế vua phải ngồi trên ngai
của vua, là chúa tôi.
21. Chẳng vậy, khi vua chúa tôi an giấc với các
tổ phụ, thì tôi và con trai tôi là Sa-lô-môn sẽ bị xử như kẻ có
tội.
22. Bà đương còn tâu với vua, thì tiên tri Na-than đến.
23.
Người ta đến thưa cùng vua rằng: Nầy có tiên tri Na-than. Na-than ra mắt
vua, sấp mình xuống trước mặt người mà lạy.
24. và nói rằng: Ôi vua
chúa tôi! có phải vua đã phán rằng: A-đô-ni-gia sẽ trị vì kế ta và ngồi
trên ngai ta, chăng?
25. Thật vậy, ngày nay, người đã đi xuống giết bò,
bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cùng mời hết thảy các vương tử, quan tướng,
và thầy tế lễ A-bia-tha; kìa, họ ăn uống tại trước mặt người, và la lên
rằng: A-đô-ni-gia vạn tuế!
26. Còn tôi là kẻ tôi tớ vua, thầy tế lễ
Xa-đốc, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, và Sa-lô-môn, tôi tớ vua, thì
người chẳng có mời.
27. Việc này há phải bởi vua chúa tôi mà ra? Và lại
vua không cho các tôi tớ vua biết ai là người kế vua, phải ngồi trên ngai
của vua chúa tôi.
28. Vua Ða-vít đáp rằng: Hãy gọi Bát-Sê-ba cho ta. Bà
vào và đứng trước mặt vua.
29. Ða-vít bèn thề mà rằng: Nguyện Ðức
Giê-hô-va hằng sống, là Ðấng đã giải cứu mạng sống ta khỏi các hoạn
nạn!
30. Ta nhơn danh Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề
cùng ngươi rằng: Quả hẳn Sa-lô-môn, con trai ngươi, sẽ trị vì kế ta, nó sẽ
ngồi trên ngai thế cho ta; thì ngày nay ta sẽ làm hoàn thành điều
đó.
31. Bát-Sê-ba cúi mặt xuống đất và lạy trước mặt vua, mà tâu rằng:
Nguyện vua Ða-vít, chúa tôi, vạn tuế!
32. Ðoạn, vua Ða-vít nói: Hãy gọi
cho ta thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, và Bê-na-gia, con trai của
Giê-hô-gia-đa. Mấy người ấy bèn ra mắt vua.
33. Rồi vua nói với họ
rằng: Hãy đem các đầy tớ của chủ các ngươi theo, đỡ Sa-lô-môn, con trai
ta, lên cỡi con la của ta, rồi đưa nó đến Ghi-hôn.
34. Ở đó, thầy tế lễ
Xa-đốc và tiên tri Na-than phải xức dầu cho người làm vua Y-sơ-ra-ên.
Ðoạn, các ngươi hãy thổi kèn lên mà họ rằng:
35. Vua Sa-lô-môn vạn tuế!
Các ngươi sẽ theo sau người mà ta đã lập làm vua của Y-sơ-ra-ên và
Giu-đa.
36. Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa tâu cùng vua rằng: A-men!
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của vua chúa tôi, cũng phán định như vậy.
37.
Ðức Giê-hô-va đã ở cùng vua chúa tôi thể nào, nguyện Ngài cũng ở cùng
Sa-lô-môn thể ấy, và khiến ngôi người còn cao trọng hơn ngôi của vua
Ða-vít, là chúa tôi!
38. Ðoạn, thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than,
Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít,
đều đi xuống, đỡ Sa-lô-môn lên cỡi con la của vua Ða-vít rồi đưa người đến
Ghi-hôn.
39. Thầy tế lễ Xa-đốc lấy cái sừng dầu trong Ðền tạm, và xức
cho Sa-lô-môn. Người ta thổi kèn, cả dân sự đều hô lên rằng: Vua Sa-lô-môn
vạn tuế!
40. Chúng đều theo người đi lên, thổi sáo, và vui mừng khôn
xiết, đến nỗi đất rúng động bởi tiếng la của họ.
41. A-đô-ni-gia và hết
thảy kẻ dự tiệc với mình đều nghe tiếng này khi vừa ăn xong. Lúc Giô-áp
nghe tiếng kèn, thì nói: Sao trong thành có tiếng xôn xao ấy?
42. Người
hãy còn nói, kìa Giô-na-than, con trai thầy tế lễ A-bia-tha, chợt đến.
A-đô-ni-gia nói với người rằng: Hãy vào, vì ngươi là một tay dõng sĩ, chắc
ngươi đem những tin lành.
43. Nhưng Giô-na-than đáp với A-đô-ni-gia
rằng: Thật trái hẳn. Vua Ða-vít, chúa chúng ta, đã lập Sa-lô-môn làm
vua.
44. Vua có sai thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con
trai Giê-hô-gia-đa, người Kê-rê-thít cùng người Phê-lê-nít đi theo người,
và họ đã đỡ người lên cỡi con la của vua.
45. Ðoạn, tại Ghi-hôn, thầy
tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than đã xức dầu cho người làm vua; họ đã từ đó
trở lên cách reo mừng, và cả thành đều vang động. Ðó là tiếng xôn xao mà
các ông đã nghe.
46. Lại, Sa-lô-môn đã ngồi trên ngôi nước;
47. các
tôi tớ của vua đến chúc phước cho vua Ða-vít, chúa chúng ta, mà tâu rằng:
Nguyện Ðức Chúa Trời của vua làm cho danh Sa-lô-môn tôn vinh hơn danh của
vua, và khiến cho ngôi người cao trọng hơn ngôi của vua! Rồi cúi lạy nơi
giường mình;
48. và có nói như vầy: Ðáng khen ngợi thay Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì ngày nay Ngài có ban một người để ngồi trên
ngôi của tôi mà mắt tôi xem thấy.
49. Bấy giờ, hết thảy các người dự
tiệc với A-đô-ni-gia đều bắt sợ hãi, đứng dậy, ai đi đường nấy.
50.
A-đô-ni-gia cũng sợ Sa-lô-môn hay điều đó, rằng: Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua
Sa-lô-môn; kìa người đã nắm các sừng bàn thờ.
51. Có người đến thuật
cho Sa-lô-môn hay điều đó, rằng: Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua Sa-lô-môn; kìa
người đã nắm các sừng bàn thờ, mà nói rằng: Hôm nay, vua Sa-lô-môn hãy thề
với tôi rằng vua sẽ không giết đầy tớ người bằng gươm.
52. Sa-lô-môn
đáp rằng: Nếu người ăn ở ra người tử tế, thì chẳng một sợi tóc nào của
người sẽ rụng xuống đất; bằng có thấy sự ác nơi người, ắt người sẽ
chết.
53. Vua Sa-lô-môn sai kẻ đem người xuống khỏi bàn thờ.
A-đô-ni-gia đến sấp mình xuống trước mặt Sa-lô-môn; Sa-lô-môn bèn nói với
người rằng: Hãy trở về nhà ngươi.
1 Các Vua 2 chọn
đoạn khác
1. Khi ngày của
Ða-vít hầu trọn, người truyền lịnh cho Sa-lô-môn, con trai mình, mà
rằng:
2. Ta hầu đi con đường chung của thế gian, khá mạnh dạn và nên
người trượng phu!
3. Hãy giữ điều Giê-hô-va Ðức Chúa Trời muốn con giữ,
để đi trong đường lối Ngài, gìn giữ những luật pháp, điều răn, mạng lịnh,
và sự dạy dỗ của Ngài, y như đã chép trong luật pháp của Môi-se, hầu cho
con làm điều chi hay là đi nơi nào cũng đều được thành công,
4. và Ðức
Giê-hô-va sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về ta, rằng: Nhược bằng các
con trai ngươi cẩn thận về đường lối mình, hết lòng, hết ý theo lẽ thật mà
đi ở trước mặt ta, thì ngươi sẽ chẳng hề thiếu người ngồi trên ngôi
Y-sơ-ra-ên.
5. Con biết sự Giô-áp, con trai Xê-ru-gia, đã làm cho cha,
sự nó đã làm cho hai quan tướng của Y-sơ-ra-ên, là Áp-ne, con trai của
Nê-rơ, và A-ma-sa, con trai của Giê-the, là hai người nó đã giết, làm đổ
huyết ra trong lúc hòa bình như trong cơn chiến trận, và khiến cho huyết
đổ ra trong chiến trận dính vào đai nó thắt lưng, cùng vào giày nó mang
nơi chơn.
6. Con hãy cứ sự khôn ngoan con mà cư xử, chớ để đầu bạc nó
xuống âm phủ cách bình yên.
7. Con hãy ở với các con trai Bát-xi-lai,
người Ga-la-át, cách nhơn từ cho họ ăn đồng bàn cùng con; vì chính chúng
nó đã đãi cha như vậy, mà đến đón rước cha, lúc cha chạy trốn trước mặt
Áp-sa-lôm, anh con.
8. Nầy còn kẻ ở với con, là Si-mê-i, con trai
Ghê-ra, người Bên-gia-min, ở A-hu-rim, là kẻ lấy những lời độc ác mà
nguyền rủa cha trong ngày cha đi đến Ma-ha-na-im; nhưng nó xuống đón cha
tại Giô-đanh, thì cha đã nhơn danh Ðức Giê-hô-va mà thề với nó rằng: Ta sẽ
chẳng giết ngươi bằng gươm.
9. Bây giờ, con chớ để nó khỏi phạt, vì con
là khôn ngoan, biết thế nào phải xử nó: con khá làm cho đầu bạc nó dính
máu mà xuống âm phủ.
10. Ða-vít an giấc với các tổ phụ mình, và được
chôn trong thành Ða-vít.
11. Những ngày Ða-vít trị vì trên Y-sơ-ra-ên
là bốn mươi năm: người trị vì bảy năm tại Hếp-rôn, và ba mươi ba năm tại
Giê-ru-sa-lem.
12. Ðoạn, Sa-lô-môn ngồi trên ngai Ða-vít, cha mình, và
nước người được lập rất vững bền.
13. A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít,
đến cùng Bát-sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn. Bà nói: Ngươi đến có ý bình an chớ?
Người thưa rằng: Phải, có ý bình an.
14. Người lại rằng: Tôi có một lời
nói cùng bà. Bà đáp: Hãy nói.
15. Người tiếp: Bà biết rằng nước vốn
thuộc về tôi, và cả Y-sơ-ra-ên đều mong thấy tôi trị vì; nhưng ngôi nước
đã trở nên của em tôi, vì do nơi Ðức Giê-hô-va mà thuộc về người.
16.
Vậy bây giờ, tôi có một sự xin với bà, chớ từ chối. Bà đáp: Hãy
nói.
17. Người nói: Xin bà hãy nói với vua Sa-lô-môn (vì người chẳng
chối gì với bà), và cầu người cho tôi lấy A-bi-sác, người Su-nem, làm
vợ.
18. Bát-Sê-ba đáp: Ðược, ta sẽ nói với vua giùm cho ngươi.
19.
Bát-Sê-ba đi đến vua Sa-lô-môn, để nói với người giùm cho A-đô-ni-gia. Vua
đứng dậy đi đón bà, cúi xuống lạy bà; đoạn, người ngồi trên ngai mình, và
sai đặt một ngai khác cho mẹ mình; bà bèn ngồi bên tay hữu vua.
20. Bà
nói với vua rằng: Mẹ có một việc nhỏ xin con, con chớ từ chối. Vua đáp: Mẹ
ôi! xin hãy nói; vì tôi sẽ chẳng từ chối với mẹ đâu.
21. Bà tiếp: Hãy
ban A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ A-đô-ni-gia, là anh con.
22. Nhưng
vua Sa-lô-môn thưa cùng mẹ mình rằng: Cớ sao mẹ xin A-bi-sác, người
Su-nem, cho A-đô-ni-gia? Cũng hãy xin nước cho người luôn, vì người là anh
cả tôi; hãy xin cho người, cho thầy tế lễ A-bia-tha, và cho Giô-áp, con
trai Xê-ru-gia.
23. Vua Sa-lô-môn bèn chỉ Ðức Giê-hô-va mà thề rằng:
A-đô-ni-gia có nói lời đó nghịch với mạng sống mình; bằng chẳng, nguyện
Ðức Chúa Trời xử tôi cách nặng nề!
24. Bây giờ, tôi chỉ Ðức Giê-hô-va
hằng sống, là Ðấng đã làm cho tôi vững vàng, và khiến tôi ngồi trên ngai
của Ða-vít, cha tôi, cùng lập một nhà cho tôi y như lời Ngài đã hứa, mà
thề rằng: A-đô-ni-gia sẽ bị xử tử chính ngày hôm nay.
25. Vua Sa-lô-môn
bèn truyền lịnh cho Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, xông đánh
A-đô-ni-gia, thì người chết.
26. Ðoạn, vua nói với thầy tế lễ A-bia-tha
rằng: Hãy lui về A-na-tốt, trong đất ngươi, vì ngươi đáng chết. Song ngày
nay ta không giết ngươi, vì ngươi có khiêng hòm giao ước của Chúa
Giê-hô-va, trước mặt Ða-vít, là cha ta, và bởi vì ngươi đã bị hoạn nạn
trong các sự hoạn nạn của cha ta.
27. Như vậy, Sa-lô-môn đuổi A-bia-tha
ra đi không cho làm thầy tế lễ của Ðức Giê-hô-va nữa, hầu cho lời của Ðức
Giê-hô-va đã phán về nhà Hê-li, tại Si-lô, được ứng nghiệm.
28. Tin này
thấu đến Giô-áp. (Vả Giô-áp đã theo phe A-đô-ni-gia, dầu không có theo phe
của Áp-sa-lôm). Người liền trốn đến Ðền tạm của Ðức Giê-hô-va, và nắm sừng
của bàn thờ.
29. Người ta đến tâu với vua Sa-lô-môn rằng: Giô-áp đã
trốn đến Ðền tạm của Ðức Giê-hô-va, và kìa người đứng bên cạnh bàn thờ.
Sa-lô-môn bèn sai Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, mà dặn rằng: Hãy đi
đánh giết hắn đi.
30. Bê-na-gia đi đến Ðền tạm của Ðức Giê-hô-va, nói
cùng Giô-áp rằng: Vua có nói như vầy: Hãy ra khỏi đó. Giô-áp đáp: Không;
ta muốn chết tại đây. Bê-na-gia đi thuật lại cho vua, và tâu rằng: Giô-áp
đã nói và đáp lại như vậy.
31. Vua nói rằng: Hãy làm y như hắn nó. Hãy
giết hắn và chôn đi. Như vậy, ngươi sẽ cất khỏi ta và khỏi nhà cha ta
huyết mà Giô-áp đã đổ ra vô cớ.
32. Ðức Giê-hô-va sẽ khiến huyết hắn đổ
lại trên đầu hắn, vì hắn đã xông vào hai người công bình hơn, tốt hơn hắn,
và giết họ bằng gươm, mà Ða-vít, cha ta, không hay đến chi cả: ấy là
Áp-ne, con trai của Nê-rơ, quan tướng của đạo binh Y-sơ-ra-ên, và A-ma-sa,
con trai Giê-the.
33. Huyết hai người ấy sẽ đổ lại trên đầu Giô-áp và
trên đầu của dòng dõi nó cho đến đời đời; còn phần Ða-vít và dòng dõi
người, nhà và ngôi nước người sẽ nhờ Ðức Giê-hô-va mà được bình yên mãi
mãi.
34. Vậy, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, trở lên xông vào
Giô-áp và giết người. Người được chôn ở nhà người, tại nơi đồng
vắng.
35. Vua đặt Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, làm quan tổng binh
thay cho Giô-áp, và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ thay cho A-bia-tha.
36.
Ðoạn, vua sai đòi Si-mê-i, và nói với người rằng: Hãy cất cho ngươi một
cái nhà tại Giê-ru-sa-lem, và ở đó; chớ ra đặng đi đầu này đầu kia.
37.
Vì khá biết rằng ngày nào ngươi ra khỏi đó, và đi qua khe Xết-rôn, thì
chắc ngươi sẽ chết: huyết ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.
38. Si-mê-i
thưa với vua rằng: Lời ấy phải lắm, vua chúa tôi phán dặn điều gì, kẻ tôi
tớ vua sẽ làm điều đó. Vậy, Si-mê-i ở lâu ngày tại Giê-ru-sa-lem.
39.
Cuối ba năm, xảy có hai kẻ tôi tớ của Si-mê-i trốn đến nhà A-kích, con
trai Ma-a-ca, vua của Gát. Người ta đến thuật điều đó cho Si-mê-i mà rằng:
Kìa, hai kẻ tôi tớ ông ở tại Gát.
40. Si-mê-i chổi dậy, thắng lừa mình,
đi đến Gát, nơi nhà A-kích, đặng tìm hai kẻ tôi tớ mình. Gặp đoạn, bèn dẫn
chúng nó về.
41. Người ta thuật cho Sa-lô-môn rằng Si-mê-i ở
Giê-ru-sa-lem đã đi đến Gát, rồi trở về.
42. Vua sai đòi Si-mê-i mà
phán rằng: Ta há chẳng có bắt ngươi chỉ Ðức Giê-hô-va mà thề, và bảo ngươi
trước rằng: Khá biết rằng ngày nào ngươi ra, và đi đầu này đầu kia, thì
ngươi chắc sẽ chết sao? Và ngươi có thưa cùng ta rằng: Lời tôi đã nghe,
thậm phải?
43. Vậy, cớ sao ngươi không giữ lời chỉ Ðức Giê-hô-va mà
thề, và mạng lịnh Ðức Giê-hô-va truyền cho ngươi?
44. Vua lại nói với
Si-mê-i rằng: Ngươi biết mọi sự ác ngươi đã làm cho Ða-vít, là cha ta, mà
lòng ngươi vẫn còn nhớ lắm. Vậy nên Ðức Giê-hô-va sẽ khiến sự ác của ngươi
đổ lại tên đầu ngươi.
45. Nhưng vua Sa-lô-môn sẽ được phước, và ngôi
của Ða-vít sẽ được lập vững bền đến đời đời.
46. Ðoạn, vua truyền lịnh
cho Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa; người bèn đi ra đánh giết Si-mê-i.
Như vậy, ngôi nước được vững bền trong tay Sa-lô-môn.
1 Các Vua 3
chọn
đoạn khác
1. Sa-lô-môn kết thân với Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, cưới con
gái người, rước nàng về thành Ða-vít, đợi xây cất xong cung điện riêng
mình, đền của Ðức Giê-hô-va, và tường thành chung quanh
Giê-ru-sa-lem.
2. Dân sự hãy còn dâng của lễ trên các nơi cao, vì cho
đến bấy giờ chưa có xây cất đền nào cho danh Ðức Giê-hô-va.
3.
Sa-lô-môn kính mến Ðức Giê-hô-va, và đi theo các luật lệ của Ða-vít, cha
mình; song người dâng của lễ và xông hương tại trên nơi cao.
4. Vua đi
đến Ga-ba-ôn đặng dâng của lễ tại đó, vì nơi cao ấy là trọng nhất; trên
bàn thờ đó Sa-lô-môn dâng một ngàn con sinh làm của lễ thiêu.
5. Tại
Ga-ba-ôn, lúc ban đêm, Ðức Giê-hô-va hiện đến cùng Sa-lô-môn trong cơn
chiêm bao, và phán với người rằng: Hãy xin điều gì ngươi muốn ta ban cho
ngươi.
6. Sa-lô-môn thưa rằng: Chúa đã lấy ơn lớn đãi kẻ tôi tớ Chúa,
là Ða-vít, cha tôi, theo như người lấy sự trung tín, sự công bình và lòng
ngay trọn vẹn mà đi trước mặt Ðức Giê-hô-va; lại Chúa có giữ ơn lớn ấy cho
người, mà ban cho người một con trai ngồi trên ngai của người, y như đã có
ngày nay.
7. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ôi! bây giờ Chúa đã khiến kẻ tôi
tớ Chúa trị vì kế Ða-vít, là cha tôi; nhưng tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ
chẳng biết phải ra vào làm sao.
8. Kẻ tôi tớ Chúa ở giữa dân của Chúa
chọn, là một dân đông vô số, không thể đếm được.
9. Vậy, xin ban cho kẻ
tôi tớ Chúa tấm lòng khôn sáng, để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều
lành điều dữ; vì ai có thể đoán xét dân rất lớn này của Chúa?
10. Lời
của Sa-lô-môn đẹp lòng Chúa, vì người đã cầu xin sự đó.
11. Ðức Chúa
Trời phán với người rằng: Bởi vì ngươi đã cầu xin điều này, mà không xin
sự sống lâu, không xin sự giàu có, cũng không xin mạng của những kẻ thù
nghịch ngươi, nhưng xin sự thông minh để biết xét đoán,
12. nầy, ta đã
làm theo lời cầu xin của ngươi, ban cho ngươi tấm lòng khôn ngoan thông
sáng đến đỗi trước ngươi chẳng có ai bằng, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có
ai ngang.
13. Vả lại, ta cũng đã ban cho ngươi những điều ngươi không
xin, tức là sự giàu có và sự vinh hiển, đến đỗi trọn đời ngươi, trong vòng
các vua, sẽ chẳng có ai giống như ngươi.
14. Lại nếu ngươi đi trong
đường lối ta, như Ða-vít, cha ngươi, đã đi, thì ta sẽ khiến cho ngươi được
sống lâu ngày thêm.
15. Bấy giờ, Sa-lô-môn thức dậy, thấy là một điềm
chiêm bao. Người trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước mặt hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va, dâng của lễ thiêu cùng của lễ thù ân, và đãi tiệc cho hết thảy
tôi tớ mình.
16. Bấy giờ, có hai con bợm đến cùng vua, đứng trước mặt
vua.
17. Một đứa nói: Chúa tôi ôi! người đờn bà này và tôi ở chung nhau
một nhà, và tôi đẻ bên người trong nhà đó.
18. Sau bà ngày, người này
cũng đẻ; chúng tôi ở chung nhau, chẳng một người lạ nào ở với chúng tôi
trong nhà; chỉ có hai chúng tôi ở đó mà thôi.
19. Lúc ban đêm, con trai
của người nầy chết, bởi vì người đã nằm đè trên nó.
20. Ðêm khuya người
chổi dậy, và trong khi con đòi vua ngủ, thì người lấy con trai tôi khỏi
bên tôi, mà để nó nằm trong lòng mình; rồi đặt con trai chết của nó nằm
trong lòng tôi.
21. Sáng sớm, tôi thức dậy đặng cho con trai tôi bú,
thì thấy nó đã chết; nhưng sáng rõ, tôi nhìn nó kỹ càng, thấy chẳng phải
là con trai tôi đã đẻ.
22. Người đờn bà kia trả lời rằng: Không phải
vậy; vì đứa sống là con trai tao, đứa chết là con trai mầy. Song đờn bà
này nói: Không phải vậy đâu; đứa chết là con trai mầy, còn đứa sống là con
trai tao. Hai người cãi nhau như vậy trước mặt vua.
23. Vua bèn phán
rằng: Người này nói: Ðứa còn sống là con trai tao, và đứa chết là con trai
mầy. Người kia nói: Không phải vậy đâu; song con trai mầy ấy là đứa chết,
và con trai tao ấy là đứa sống.
24. Vua bèn tiếp rằng: Vậy, hãy đem cho
ta một cây gươm. Người ta đem cho vua một cây gươm.
25. Vua lại phán:
Hãy chia đứa trẻ sống làm hai; phân nửa cho người nầy và phân nửa cho
người kia.
26. Nhưng mẹ của đứa trẻ sống, vì gan ruột cảm động thương
yêu con mình, bèn tâu với vua rằng: Ôi chúa tôi! Xin hãy cho người kia con
trẻ sống, chớ giết nó. Nhưng người kia nói rằng: Nó sẽ chẳng thuộc về tao,
cũng chẳng thuộc về mầy; hãy chia nó đi.
27. Bấy giờ, vua cất tiếng
phán rằng: Hãy cho người nầy đứa trẻ sống, chớ giết nó ấy là mẹ nó.
28.
Cả Y-sơ-ra-ên đều nghe sự đoán xét mà vua đã làm, thì bắt kính sợ vua, vì
thấy trong lòng người có sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời đặng xử đoán công
bình.
1 Các Vua 4
chọn
đoạn khác
1. Vua Sa-lô-môn trị vì trên cả
Y-sơ-ra-ên.
2. Nầy là các triều thần của người: A-xa-ria, con trai thầy
tế lễ Xa-đốc;
3. Ê-li-ô-rếp và A-hi-gia, con trai của Si-na, làm ký
lục; Giê-hô-sa-phát, con trai A-hi-lút, làm thủ bộ;
4. Bê-na-gia, con
trai Giê-hô-gia-đa, làm tổng binh, Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế
lễ.
5. A-xa-ria, con trai na-than, làm đầu các quan lại; Xa-bút, con
trai Na-than, làm tể tướng và là bạn của vua;
6. A-hi-sa, làm quan cai
cung điện; và A-đô-ni-ram, con trai Áp-đa, coi việc cống thuế.
7.
Sa-lô-môn có mười hai người làm đầu quan lại cai trị cả Y-sơ-ra-ên, để
cung cấp lương thực cho vua và cho nhà vua: mỗi người trong một năm phải
cung cấp một tháng.
8. Nầy là các tên họ: Con trai Hu-rơ, coi về trong
núi Ép-ra-im;
9. con trai Ðê-kem coi về Ma-kát, Sa-an-bim, Bết-Sê-mết,
và Ê-lôn của Bết-Ha-na;
10. con trai Hê-sết, coi về A-ru-bốt người coi
luôn Sô-cô và cả xứ Hê-phe.
11. Con trai A-bi-na-đáp coi cả đồng cao
Ðô-rơ; Ta-phát, con gái của Sa-lô-môn, là vợ người.
12. Ba-a-na, con
trai A-hi-lút, coi Tha-a-nác, Mê-ghi-đô, và cả xứ Bết-Sê-an, ở gần Xạt-han
dưới Gít-ê-ên, từ Bết-Sê-an cho đến A-bên-Mê-hô-la và cho đến khỏi bên kia
Giốc-mê-am.
13. Con trai Ghê-be ở tại Ra-mốt của Ga-la-át; người coi
thôn Giai-rơ, Giai-rơ là con trai của Ma-na-se; người cũng cai trị miền
Ạt-gốp, trong Ba-san, sáu mươi thành lớn có tường thành và then cửa
đồng.
14. A-hi-na-đáp, con trai Y-đô, ở tại Ma-ha-na-im;
15.
A-hi-mát, trong địa phận Nép-ta-li; người cũng cưới một con gái của
Sa-lô-môn làm vợ, tên là Bách-mát.
16. Ba-a-na, con trai Hu-sai, ở
trong xứ A-se và A-lốt;
17. Giê-hô-sa-phát, con trai Pha-ru-ác coi về
Y-sa-ca;
18. Si-mê-i, con trai Ê-la, coi về Bên-gia-min;
19. Ghê-be,
con trai U-ri, coi về xứ Ga-la-át, thuở xưa vốn là xứ của Si-hôn, vua dân
A-mô-rít và của Óc, vua Ba-san. Chỉ có một mình người làm đầu quan lại coi
về cả miền này.
20. Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đông như cát trên bờ biển,
ăn uống và vui chơi.
21. Sa-lô-môn cai trị trên các nước, từ sông cái
cho đến xứ Phi-li-tin, cho đến ranh Ê-díp-tô. Các nước ấy đều tiến cống và
phục Sa-lô-môn trọn đời người.
22. Lương thực của nhà Sa-lô-môn cần
dùng trong mỗi ngày là: ba mươi cô-rơ bột miến lọc, và sáu mươi cô-rơ bột
miến thường,
23. mười con bò mập, hai mươi con bò nơi đồng cỏ, và một
trăm con chiên, không kể nai đực, hoàng dương, cá tong, và vịt gà nuôi
mập.
24. Vả lại, Sa-lô-môn cai trị trên các xứ ở bên này sông, trên các
vua của mấy xứ đó, từ Típ-sắc cho đến Ga-xa và người hòa hảo với các dân ở
bốn phía.
25. Trọn đời vua Sa-lô-môn trị vì, dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên
ăn ở yên ổn vô sự từ Ðan cho đến Bê-e-Sê-ba, ai nấy đều ở dưới cây nho và
cây vả mình.
26. Sa-lô-môn có bốn vạn tàu để ngựa gác xe, và một vạn
hai ngàn lính kỵ.
27. Các người làm đầu quan lại, mỗi người một tháng,
lo sắm sửa đồ cần dùng cho vua Sa-lô-môn và cho hết thảy những người được
nhận tiếp nơi bàn vua, chẳng thiếu chi hết.
28. Họ theo phiên mình, mỗi
người sắm sửa đem đến nơi vua ở, lúa mạch và rơm cho ngựa dùng để kéo và
để cỡi.
29. Ðức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan, sự thông
sáng rất cao, cùng lòng rộng rãi như cát trên bờ biển.
30. Sự khôn
ngoan của Sa-lô-môn trổi hơn sự khôn ngoan của mọi người phương đông, và
sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô.
31. Người khôn ngoan hơn mọi người,
khôn ngoan hơn Ê-than, người Ếch-ra-hít, hơn Hê-man, Canh-côn, và Ðạt-đa,
là các con trai Ma-hôn; danh tiếng người đồn ra trong các dân tộc chung
quanh.
32. Người nói ba ngàn câu châm ngôn, và làm một ngàn năm, bài
thơ.
33. Người luận về cây cối, từ cây bá hương của Li-ban cho đến chùm
kinh giới mọc ra nơi vách; người cũng có luận về loài vật, chim, loài công
trùng, và cá.
34. Có lẽ từ các dân tộc đến nghe sự khôn ngoan của
Sa-lô-môn, và các vua ở thế gian mà đã nghe nói về sự khôn ngoan của
người, đều sai sứ đến.
1 Các Vua 5 chọn
đoạn khác
1. Hi-ram, vua
Ty-rơ, hay Sa-lô-môn đã được xức dầu làm vua đặng kế vị cha người, bèn sai
tôi tớ mình đến cùng người; vì Hi-ram vẫn yêu mến Ða-vít luôn.
2.
Sa-lô-môn sai sứ nói với Hi-ram rằng:
3. Vua biết rằng Ða-vít, thân phụ
tôi, không cất được một cái đền cho danh Giê-hô-va Ðức Chúa Trời người, vì
cớ chinh chiến thù nghịch vây tứ phía người, cho đến ngày Ðức Giê-hô-va đã
khiến chúng nó phục dưới chơn người.
4. Nhưng bây giờ, Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời tôi đã ban cho tôi bằng yên tứ phía, chẳng còn cừu địch, chẳng
còn tai họa.
5. Vậy, tôi tính cất một cái đền cho danh Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời tôi, theo như Ðức Giê-hô-va đã phán cùng Ða-vít, cha tôi, mà
rằng: Con trai ngươi, mà ta sẽ khiến ngồi trên ngai ngươi kế vị ngươi, sẽ
cất một cái đền cho danh ta.
6. Vậy bây giờ, xin vua hãy truyền cho đầy
tớ của vua đốn cho tôi cây bá hương trên núi Li-ban; tôi cũng sẽ truyền
cho các đầy tớ tôi giúp đỡ các đầy tớ vua, và tôi sẽ phát cho vua công giá
của họ, tùy theo vua sẽ định vì vua biết rằng chẳng ai trong chúng ta thạo
đốn gỗ như dân Si-đôn.
7. Khi Hi-ram nghe lời của Sa-lô-môn, thì mừng
lắm, mà rằng: Ngày nay đáng khen ngợi thay Ðức Giê-hô-va, vì đã ban cho
Ða-vít một con trai khôn ngoan, để trị vì dân sự lớn này!
8. Hi-ram bèn
sai sứ đáp lời cho Sa-lô-môn rằng: Tôi đã nghe được lời vua sai nói với
tôi; mọi điều vua ước ao về gỗ bá hương và gỗ tòng, thì tôi sẽ làm
hết.
9. Các đầy tớ tôi sẽ kéo gỗ ấy từ Li-ban đến biển, đóng bè thả
biển cho đến nơi vua sẽ chỉ cho. Ở đó tôi sẽ sả nó ra, và vua sẽ nhận lấy
đem đi. Còn vua, sẽ làm cho thỏa ý tôi mà cấp lương thực cho nhà
tôi.
10. Vậy, Hi-ram cấp cho Sa-lô-môn gỗ bá hương và gỗ tòng, bao
nhiêu tùy người muốn.
11. Còn Sa-lô-môn cấp cho Hi-ram hai vạn cô-rơ
lúa mạch, dùng làm lương thực cho nhà người, và hai mươi cô-rơ dầu rất
trong. Ðó là số Sa-lô-môn cấp cho Hi-ram mỗi năm.
12. Như vậy, Ðức
Giê-hô-va ban sự khôn ngoan cho Sa-lô-môn y như Ngài đã hứa với người.
Hi-ram và Sa-lô-môn hòa nhau và lập giao ước với nhau.
13. Vua
Sa-lô-môn chiêu mộ trong cả Y-sơ-ra-ên những người làm xâu, số là ba vạn
người,
14. sai họ đi đến Li-ban, thay phiên mỗi tháng mười ngàn người
họ ở một tháng tại Li-ban, thay phiên mỗi tháng mười ngàn người họ ở một
tháng tại Li-ban và hai tháng nơi nhà mình; A-đô-ni-gia quản xuất người
làm xâu.
15. Sa-lô-môn còn có bảy vạn người khiêng gánh, và tám vạn
người đẽo đá trong
16. không kể những đốc công, số là ba ngàn ba trăm
người, mà Sa-lô-môn đã đặt coi sóc công việc và sai khiến dân làm
việc.
17. Vua truyền họ lấy đá lớn, đá quí giá mà đẽo đi, đặng dùng làm
nền của đền thờ.
18. Các thợ của Sa-lô-môn và của Hi-ram với người
Ghi-bê-lít, đẽo đá và dọn cây cùng đá đặng cất đền.
1 Các Vua 6
chọn
đoạn khác
1. Xảy ra năm bốn trăm tám mươi, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra
khỏi xứ Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn trị vì trên Y-sơ-ra-ên, nhằm
tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì người cất đền của Ðức
Giê-hô-va.
2. Cái đền mà vua Sa-lô-môn cất cho Ðức Giê-hô-va, bề dài có
sáu mươi thước, bề ngang hai mươi thước.
3. Cái hiên cửa ở trước đền bề
dài hai mươi thước, bằng bề ngang của đền, và rộng mười thước ở trước
đền.
4. Vua cũng làm cho đến những cửa sổ có song, khuôn cây.
5.
Người cất những từng lầu, dựa vào vách từ phía đền, tức là dựa vào vách
chung quanh đền thờ và nơi thánh; cũng làm những phòng chung quanh
đền.
6. Từng dưới rộng năm thước, từng giữa rộng sáu thước; và từng
trên rộng bảy thước, vì vua cất sụt lui các vách vòng ngoài nhà, đặng
tránh sườn xà hoành đâm vào vách đền.
7. Khi cất đền, người ta dùng đá
đã đẽo sẵn nơi hầm, nên không nghe tiếng búa, rìu hay là khí dụng khác
bằng sắt tại nơi đền đương khi cất.
8. Cửa vào các phòng từng thứ nhì,
ở bên phía hữu của đền; người ta đi lên từng giữa bởi một cái thang khu
ốc; rồi từ từng giữa lên từng thứ ba.
9. Khi cất đền xong; thì
Sa-lô-môn lợp nó bằng đòn tay và ván gỗ bá hương,
10. cũng cất những
từng lầu năm thước dựa vào tứ phía đền, dính với nhà bởi cây đà bá
hương.
11. Bấy giờ có lời Ðức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn rằng:
12.
về nhà này mà ngươi đương xây cất, nếu ngươi vâng theo các luật lệ ta, noi
theo các mạng lịnh ta, giữ và đi trong hết thảy các điều răn của ta, thì
ta sẽ vì ngươi làm hoàn thành lời ta đã hứa cùng Ða-vít, cha ngươi.
13.
Ta sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên, chẳng hề bỏ Y-sơ-ra-ên, là dân ta.
14.
Ấy vậy, Sa-lô-môn xây đền và làm cho hoàn thành.
15. Người lấy ván bá
hương đóng vách phía trong đền, từ đất cho đến trần, và lót nền đất bằng
ván cây tùng.
16. Từ cuối phía trong đền hai mươi thước, người đóng
ngăn bằng ván bá hương, từ nền cho đến trần, đặng làm nơi chí
thánh.
17. Còn bốn mươi thước kia, làm tiền đường của đền thờ.
18. Ở
phía trong đền, có gỗ bà hương chạm hình dưa ác và hoa mới nở; toàn là gỗ
bá hương, không thấy đá.
19. Còn nơi chí thánh, Sa-lô-môn đặt ở phía
trong đền, tận cuối trong, đặng để hòm giao ước của Ðức Giê-hô-va tại
đó.
20. Phía trong nơi chí thánh có hai mươi thước bề dài, hai mươi
thước bề ngang, bọc nó bằng vàng ròng, và cũng bọc vàng bàn thờ bằng cây
bá hương nữa.
21. Sa-lô-môn bọc vàng ròng tuồng trong của nhà, và lấy
xiềng vàng giăng trước nơi chí thánh và bọc bằng vàng.
22. Người cũng
bọc vàng toàn cả nhà; người cũng lót vàng khắp mặt bàn thờ ở đằng trước
nơi chí thánh.
23. Người làm cho nơi chí thánh hai chê-ru-bin bằng gỗ
ô-li-ve, bề cao mười thước.
24. Cánh này và cánh kia của mỗi chê-ru-bin
có năm thước, thế là mười thước từ chót cánh này tới chót cánh kia.
25.
Chê-ru-bin thứ nhì cũng có mười thước. Hai chê-ru-bin đều đồng một cỡ và
một dáng với nhau.
26. Chê-ru-bin này có mười thước bề cao, và
chê-ru-bin kia cũng vậy.
27. Sa-lô-môn để hai chê-ru-bin tại nơi chí
thánh, ở trong cùng của đền cánh của chê-ru-bin thứ nhất đụng nhau tại
giữa nơi chí thánh.
28. Người cũng bọc vàng cho hai chê-ru-bin.
29.
Bốn phía vách đền, phía trong và phía ngoài, Sa-lô-môn khiến chạm nổi lên
hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở;
30. cũng phủ đất nhà bằng vàng,
bề trong và bề ngoài.
31. Tại chỗ vào nơi chí thánh, người làm một cái
cửa hai cánh bằng gỗ ô-li-ve; thanh và cột choán một phần năm của mặt
tiền.
32. Người khiến chạm nổi lên trên hai cánh cửa bằng gỗ ô-li-ve ấy
những hình chê-ru-bin, cây chà là và hoa nở; rồi bọc bằng vàng, tráng vàng
ra trên hình chê-ru-bin và hình cây chà là.
33. Về cửa đền thờ, người
cũng làm cột bằng gỗ ô-li-ve, choán hết một phần tư của vách,
34. lại
làm hai cánh cửa bằng gỗ tòng; mỗi cánh có hai miếng trá khép lại
được.
35. Sa-lô-môn khiến chạm nổi lên những hình chê-ru-bin, cây chà
là và hoa nở; rồi bọc bằng vàng, tráng vàng ra trên các vật chạm
trổ.
36. Người xây tường hành lang phía trong bằng ba hàng đá chạm, và
một hàng cây xà gỗ bá hương.
37. Năm thứ tư, năm tháng Xíp, cái nền của
đền thờ Ðức Giê-hô-va đã đặt;
38. năm thứ mười một, nhằm tháng Bu-lơ,
nghĩa là tháng tám, đền thờ hoàn thành trong mọi phần nó, theo kiểu đã ra.
Sa-lô-môn cất đền hết bảy năm.
1 Các Vua 7 chọn
đoạn khác
1. Sa-lô-môn cũng
cất cung điện mình, xong mọi việc trong mười ba năm.
2. Người lại cất
cái cung rừng Li-ban, bề dài một trăm thước, bề ngang năm mươi thước và bề
cao ba mươi thước, đặt trên bốn hàng cột bằng gỗ bá hương có những xà
ngang bằng gỗ bá hương để trên những cột.
3. Trần của các phòng bởi cột
chống đỡ, số là bốn mươi lăm cây, mười lăm cây mỗi dãy, đều đóng bằng ván
gỗ bá hương.
4. Có ba dãy phòng, cửa sổ đối ngang nhau.
5. Hết thảy
cửa và cột đều vuông, và các cửa sổ của ba dãy phòng đều đối mặt
nhau.
6. Người cất hiên cửa có trụ, bề dài năm mươi thước: trước hiên
này có một hiên khác cũng có trụ và bực.
7. Sa-lô-môn cũng xây hiên để
ngai, là nơi người xét đoán, và gọi là hiên xét đoán; rồi dùng ván gỗ bá
hương lót từ nền đến trần.
8. Cung của Sa-lô-môn ở trong sân thứ nhì
phía sau cửa hiên, cũng xây một cách giống như vậy. Cũng xây cho con gái
Pha-ra-ôn mà Sa-lô-môn đã cưới, một cái cung như kiểu của hiên này.
9.
Các cung điện này đều xây bằng đá quí, đục theo thước tấc, cưa xẻ, hoặc bề
trong hay bề ngoài, từ nền đến cổ bồng cây cột, và cho đến vách cửa sân
lớn đều cũng vậy.
10. Cái nền thì bằng đá quí và lớn, có hòn thì mười
thước, hòn thì tám thước.
11. Trên các nền này, lại còn những đá quí
đục theo thước tấc và gỗ bá hương.
12. Vách hành lang lớn, tứ vi có ba
hàng đá chạm và một hàng cây đà bằng gỗ bá hương, y như hàng lang phía
trong của đền Ðức Giê-hô-va, và y như cửa hiên đền.
13. Vua Sa-lô-môn
sai người đòi Hi-ram ở Ty-rơ đến.
14. Người là con trai của một đờn bà
góa về chi phái Nép-ta-li, còn cha là người Ty-rơ, làm thợ đồng. Hi-ram
đầy sự khôn ngoan, thông hiểu, có tài làm các thứ công việc bằng đồng.
Người đến vua Sa-lô-môn, và làm mọi công việc người.
15. Người làm hai
cây trụ bằng đồng, cây thứ nhất cao mười tám thước, và một sợi dây mười
hai thước đo bề tròn của cây thứ nhì.
16. Người đúc hai đầu trụ bằng
đồng, đặt nó trên chót trụ, bề cao đầu trụ này là năm thước.
17. Những
mặt võng xe lại và những dây hoa trèo như chuyền nhỏ trang điểm đầu trụ
đặt ở trên chót trụ; có bảy dây hoa cho đầu trụ này, và bảy dây hoa cho
đầu trụ kia.
18. Hi-ram vấn chung quanh mặt võng này hai hàng trái lựu
đặng trang sức cho đầu trụ này, và cũng làm như vậy cho đầu kia.
19.
Những đầu trụ ở trên các cây trụ trong hiên cửa, đều có hoa huệ ở chót,
cao bốn thước.
20. Những đầu trụ ở trên trụ nẩy ra liền thân trên nơi
hầu bên phía kia mặt võng: có hai trăm trái lựu sắp hai hàng vòng chung
quanh hai đầu trụ.
21. Hi-ram dựng những cây trụ trong hiên cửa đền
thờ. Người dựng cây trụ bên hữu, và đặt tên là Gia-kin; đoạn dựng cây trụ
bên tả, đặt tên là Bô-ách.
22. Trên chót trụ, thì chế hình hoa huệ.
Công việc làm những cây trụ đều hoàn thành là như vậy.
23. Người cũng
làm biển đúc, hình tròn, cao năm thước; từ mép này đến mép kia có mười
thước, một sợi dây ba mươi thước đo vòng tròn của nó.
24. Dưới mép biển
có hai hàng dưa ác vây chung quanh, cứ mỗi thước mười trái, đúc liền một
với biển.
25. Biển để kê trên mười hai con bò, ba con hướng về bắc, ba
con hướng về tây, ba con hướng về nam, và ba con hướng về đông. Biển thì
đặt trên lưng các con bò ấy, và phía sau thân con bò đều xây vào
trong.
26. Biển đầy một gang tay và mép làm giống mép chén và cách như
bông huệ; nó đựng hai ngàn bát.
27. Người cũng làm mười viên táng đồng,
mỗi viên bốn thước bề dài, bốn thước bề ngang, và ba thước bề cao.
28.
Các viên táng làm cách này: Có những miếng trám đóng vào khuông.
29.
Trên các trám đóng vào khuông này có hình sư tử, bò, và chê-ru-bin; nơi
triêng trên, cũng có như vậy. Còn nơi triêng dưới sư tử và bò, có những
dây hoa thòng.
30. Mỗi viên táng có bốn bánh xe đồng với cốt đồng, và
nơi bốn góc có những cái đế đúc để chịu cái chậu và những dây hoa ở bên
mỗi cái đế.
31. Giữa viên táng trên đầu trụ có một miệng tròn sâu một
thước, và rộng một thước rưỡi. Cái miệng này cũng có hình chạm trổ. Còn
các miếng trám thì vuông, chớ không phải tròn.
32. Bốn bánh xe đều ở
dưới những miếng trám; và xác cốt bánh xe thì đóng vào viên táng. Mỗi bánh
xe cao một thước rưỡi.
33. Bánh làm như bánh của cái cộ: Trục, vành,
căm, và tum nó, đều đúc cả.
34. Có bốn con bọ ở nơi bốn góc của mỗi
viên táng và liền với táng.
35. Ðầu viên táng hình tròn nhọn, và cao
nửa thước; nó cũng có biên và trám.
36. Trên mặt biên và trám của đế,
tại nơi trống của mỗi biên và trám chừa ra, Hi-ram chạm những chê-ru-bin,
sư tử, cây chà là, và dây hoa chung quanh.
37. Người theo kiểu này mà
làm mười viên táng, đúc một thứ, một cỡ, và một dáng với nhau.
38.
Người cũng làm mười cái thùng bằng đồng, mỗi cái chứa bốn mươi bát. Mỗi
thùng có bốn thước và để trên một táng của mười cái thùng bằng đồng, mỗi
cái chứa bốn mươi bát. Mỗi thùng có bốn thước và để trên một táng của mười
cái táng.
39. Người sắp đặt táng như vầy: băm cái về bên hữu đền, và
năm cái về bên tả. Còn biển, người để nơi bên hữu đền, về hướng nam
đông.
40. Người cũng làm chảo, vá, và ảng. Vậy, Hi-ram làm xong mọi
công việc cho Sa-lô-môn trong đền của Ðức Giê-hô-va:
41. tức là hai cây
trụ, hai đầu trụ tròn trên đỉnh trụ, hai tấm mặt võng bao hai đầu trụ
tròn, luôn với đỉnh trụ;
42. bốn trăm trái lựu sắp hai hàng vòng chung
quanh mặt võng bao hai đầu trụ tròn nơi đỉnh trụ;
43. mười viên táng và
mười cái bồn trên táng;
44. biển đúc nguyên miếng một và mười hai con
bò để dưới biển;
45. chảo, vá, và ảng. Các khí dụng này mà Hi-ram làm
cho Sa-lô-môn trong đền Ðức Giê-hô-va, đều bằng đồng đánh bóng.
46. Vua
biểu đúc các vật đó tại đống bằng Giô-đanh, trong một nơi đất sét, giữa
Su-cốt, và Sát-than.
47. Sa-lô-môn không cân một món nào trong các khí
dụng ấy, bởi vì nhiều quá; người không xét sự nặng của đồng.
48.
Sa-lô-môn lại làm những khí dụng cho đền Ðức Giê-hô-va: là bàn thờ vàng,
những bàn bằng vàng, để bánh trần thiết;
49. chơn đèn bằng vàng ròng
đặt trước nơi chí thánh, năm cái ở bên hữu và năm cái ở bên tả cùng hoa,
thếp đèn, và cái nỉa bằng vàng;
50. những chén, dao, muỗng, và đồ đựng
tro bằng vàng ròng; những chốt cửa hoặc dùng cho cửa của nhà phía trong,
hoặc nơi chí thánh, hay là dùng cho cửa của đền thờ, thì đều bằng
vàng.
51. Các công việc mà Sa-lô-môn làm cho nhà Ðức Giê-hô-va, đều
được hoàn thành là như vậy. Ðoạn, Sa-lô-môn sai đem các vật mà Ða-vít, ca
người, đã biệt ra thánh, tức là bạc, vàng, các thứ khí dụng, và để trong
kho tàng của đền Ðức Giê-hô-va.
1 Các Vua 8 chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ,
Sa-lô-môn vời đến mình, ở tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng lão Y-sơ-ra-ên,
hết thảy các quan trưởng của chi phái, và những trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên,
đặng rước hòm giao ước của Ðức Giê-hô-va từ thành của Ða-vít, tức là
Si-ôn.
2. Trong lúc lễ, nhằm tháng Ê-tha-ninh, là tháng bảy, hết thảy
người nam của Y-sơ-ra-ên đều nhóm lại cùng vua Sa-lô-môn.
3. Khi các
trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến, thì những thầy tế lễ lấy hòm của Ðức
Giê-hô-va,
4. dời đi luôn với Ðền tạm. Những thầy tế lễ và người Lê-vi
khiêng các đồ đó lên.
5. Vua Sa-lô-môn và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã
hiệp với người, và đứng trước hòm, giết bò và chiên làm của lễ rất nhiều,
không thế đếm được.
6. Những thầy tế lễ đem hòm giao ước của Ðức
Giê-hô-va đến nơi nó, trong nơi chí thánh, dưới cánh chê-ru-bin.
7. Vì
các chê-ru-bin giương cánh ra trên nơi để hòm, che thân trên hòm và các
đòn khiêng.
8. Các đòn khiêng dài, đến nỗi người ta, từ nơi thánh ở
trước nơi chí thánh, có thể thấy được, nhưng ở ngoài thì chẳng thấy. Các
đòn ấy ở đó cho đến ngày nay.
9. Trong hòm chỉ có hai bảng đá mà Môi-se
đã để, tại núi Hô-rếp, khi Ðức Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên,
lúc họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
10. Xảy ra khi những thầy tế lễ đã ra khỏi
nơi thành, bèn có mây đầy dẫy nhà của Ðức Giê-hô-va,
11. đến nỗi những
thầy tế lễ vì có mây ấy không thể đứng đó mà hầu việc được, vì sự vinh
quang của Ðức Giê-hô-va đầy dẫy đền của Ðức Giê-hô-va.
12. Bấy giờ,
Sa-lô-môn nguyện rằng: Ðức Giê-hô-va có phán rằng Ngài ngự trong nơi tối
tăm mờ mịt.
13. Hỡi Ðức Chúa Trời! tôi đã cất xong một cái đền dùng làm
nơi ngự của Ngài, tức một nơi Ngài ở đời đời.
14. Ðoạn, vua xây lại, và
chúc phước cho hội chúng Y-sơ-ra-ên. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đều
đứng.
15. Người nói rằng: Ðáng ngợi khen Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên, vì từ miệng Ngài có phán hứa với Ða-vít, cha ta, và bởi tay
Ngài đã làm ứng nghiệm lời ấy; Ngài phán rằng:
16. Từ ngày ta đã đem
Y-sơ-ra-ên ta ra khỏi Ê-díp-tô, ta không chọn thành nào trong các chi phái
Y-sơ-ra-ên đặng cất tại đó một cái nhà cho danh ta ngự; nhưng ta đã chọn
Ða-vít để người trị vì dân Y-sơ-ra-ên ta.
17. Vả, Ða-vít, cha ta, có ý
cất một cái đền cho danh Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên.
18. Nhưng Ðức Giê-hô-va có phán với Ða-vít, cha ta, rằng:
Khi ngươi có ý xây đền cho danh ta, thì lấy làm thậm phải;
19. song
ngươi sẽ chẳng cất đền ấy đâu, bèn là con trai ngươi, do lòng ngươi sanh
ra, sẽ cất đền cho danh ta.
20. Vậy, Ðức Giê-hô-va đã làm ứng nghiệm
lời Ngài phán; vì ta kế vị Ða-vít, cha ta, ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên, y
như Ðức Giê-hô-va đã hứa, và ta đã cất đền này cho danh Giê-hô-va, là Ðức
Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
21. Tại đó, ta đã dọn một chỗ để hòm; trong
hòm có sự giao ước mà Ngài đã lập với tổ phụ chúng ta, khi Ngài đem họ ra
khỏi xứ Ê-díp-tô.
22. Kế đó, Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ của Ðức
Giê-hô-va, đối mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, bèn giơ tay lên trời, mà
rằng:
23. Lạy Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! hoặc trên trời
cao kia, hoặc dưới đất thấp này, chẳng có một thần nào giống như Chúa.
Chúa giữ sự giao ước và lòng nhơn từ với kẻ tôi tớ Chúa, là kẻ nào hết
lòng đi ở trước mặt Chúa.
24. Ðối cùng tôi tớ Chúa, là Ða-vít, cha tôi,
Chúa có giữ lời Ngài đã hứa với người. Thật, hễ điều chi miệng Chúa phán,
thì tay Chúa đã làm hoàn thành, y như chúng tôi thấy ngày nay.
25. Vậy,
hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! ngày nay xin làm trọn lời Chúa
đã hứa cùng tôi tớ Chúa, là Ða-vít, cha tôi, rằng: Nếu con cháu ngươi cẩn
thận các đường lối mình, đi ở trước mặt ta, y như ngươi đã đi, thì trước
mặt ta sẽ chẳng hề thiếu một kẻ hậu tự ngươi đặng ngồi trên ngôi nước
Y-sơ-ra-ên đâu.
26. Hỡi Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! xin hãy làm cho
ứng nghiệm lời Chúa đã hứa cùng kẻ tôi tớ Chúa, là Ða-vít, cha tôi.
27.
Nhưng quả thật rằng Ðức Chúa Trời ngự trên đất này chăng? Kìa, trời, dầu
đến đỗi trời của các từng trời chẳng có thể chứa Ngài được thay, phương
chi cái đền này tôi đã cất!
28. Dầu vậy, hỡi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
tôi! xin hãy đoái đến lời cầu nguyện và sự nài xin của kẻ tôi tớ Chúa.
đặng nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện mà kẻ tôi tớ Chúa cầu trước mặt
Chúa ngày nay.
29. Nguyện mắt của Chúa ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là
chỗ mà Chúa đã phán rằng: Danh ta sẽ ngự tại đó, đặng nghe lời cầu nguyện
của tôi tớ Chúa hướng nơi này mà cầu.
30. Phàm điều gì tôi tớ Chúa và
dân Y-sơ-ra-ên của Chúa sẽ hướng về nơi này mà khẩn cầu, xin Chúa hãy dủ
nghe; phải, ở nơi ngự của Chúa, tại trên các từng trời, xin Chúa dủ nghe,
nhậm lời, và tha thứ cho.
31. Khi ai phạm tội cùng kẻ lân cận mình, và
người ta bắt đi đó phải thề, nếu người đến thề trước bàn thờ của Chúa, tại
trong đền này,
32. thì xin Chúa ở trên trời hãy nghe, đối đãi và xét
đoán tôi tớ Chúa, mà lên án cho kẻ dữ, khiến đường lối nó đổ lại trên đầu
nó, và xưng công bình cho người công bình, và thưởng ngươi tùy theo sự
công bình của người.
33. Khi dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, vì cớ phạm tội
với Chúa, bị kẻ tù nghịch đánh được; nếu chúng nó trở lại với Chúa, nhận
biết danh Ngài và cầu nguyện nài xin với Chúa trong đền này,
34. thì
xin Chúa ở trên trời hãy dủ nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, và
khiến họ trở về đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ.
35. Nếu các từng trời
bị đóng chặt, không có mưa, bởi vì chúng nó đã phạm tội với Chúa, nếu
chúng nó hướng về nơi này mà cầu nguyện, nhận biết danh Chúa, xây bỏ tội
lỗi mình, sau khi Chúa đã đoán phạt họ,
36. thì xin Chúa ở trên trời
hãy dủ nghe, tha tội cho các tôi tớ Chúa, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
Xin hãy chỉ cho họ con đường thiện mà họ phải đi, và giáng mưa trên đất
của Chúa đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.
37. Khi trong xứ xảy có
đói kém, ôn dịch, hạn hán, ten sét, cào cào, châu chấu, hoặc có quân thù
nghịch vây các thành của địa phận họ, hay là có tai vạ chi, tật bịnh
gì;
38. nếu có một người hoặc cả dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, ai nấy đã
nhận biết tai họa của lòng mình, mà giơ tay ra hướng về đền này, và cầu
nguyện, khẩn xin vô luận điều gì,
39. thì xin Chúa ở trên trời, là nơi
Chúa ngự, dủ nghe, và tha thứ cho, đối đãi, báo ứng mỗi người tùy theo
công việc họ, vì Chúa thông biết lòng của họ (thật chỉ một mình Chúa biết
lòng của con cái loài người),
40. để khiến họ kính sợ Chúa trọn đời họ
sống ở trên đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ chúng tôi.
41. Vả lại, về
khách lạ, là người chẳng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì danh
Ngài từ xứ xa đến
42. (vì người ngoại bang sẽ nghe nói về danh lớn của
Chúa, về cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của Chúa), khi người đến cầu
nguyện trong nhà này,
43. xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, dủ
nghe và làm theo mọi điều người khách lạ sẽ cầu xin Chúa để cho muôn dân
của thế gian nhận biết danh Chúa, kính sợ Chúa, y như dân Y-sơ-ra-ên của
Ngài, và cho biết rằng danh Chúa xưng ra trên đền này mà tôi đã xây
cất.
44. Khi dân của Chúa đi chiến trận cùng quân thù nghịch mình, theo
con đường Chúa đã sai đi, nếu họ cầu khẩn Ðức Giê-hô-va xây mặt hướng về
thành Chúa đã chọn, và về đền tôi đã cất cho danh Ngài,
45. thì xin
Chúa ở trên trời, hãy dủ nghe các lời cầu nguyện nài xin của chúng, và
binh vực quyền lợi cho họ.
46. Khi chúng nó phạm tội cùng Chúa (vì
không có người nào chẳng phạm tội) và Chúa nổi giận, phó chúng nó cho kẻ
thù nghịch; khi họ bị bắt làm phu tù đến xứ của kẻ thù nghịch, hoặc xa
hoặc gần,
47. ví bằng trong xứ mà họ bị tù, họ nghĩ lại, ăn năn, và nài
xin Chúa mà rằng: "Chúng tôi có phạm tội, làm điều gian ác, và cư xử cách
dữ tợn;"
48. nhược bằng tại trong xứ mà thù nghịch đã dẫn họ đến làm
phu tù, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa, cầu nguyện cùng Ngài, mặt
hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Chúa đã chọn, và về
đền mà tôi đã xây cất cho danh Chúa,
49. thì xin Chúa ở trên trời, tức
nơi Chúa ngự, hãy dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, và binh vực quyền
nài xin của họ, và binh vực quyền lợi cho họ;
50. tha cho dân Chúa tội
lỗi và các sự trái mạng mà họ đã phạm cùng Ngài; xin Chúa khiến những kẻ
bắt họ làm phu tù có lòng thương xót họ,
51. vì dân Y-sơ-ra-ên vốn là
dân sự Chúa, cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đã đem ra khỏi Ê-díp-tô, tức khỏi
giữa lò sắt.
52. Nguyện Chúa đoái xem kẻ tôi tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên
của Ngài, dủ nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, mỗi lần họ kêu cầu cùng
Chúa.
53. Hỡi Chúa Giê-hô-va ôi! Chúa đã phân cách họ khỏi các dân tộc
trên đất, để họ làm cơ nghiệp Chúa, y như Chúa đã phán bởi miệng Môi-se,
là tôi tớ Chúa, khi Chúa đem tổ phụ chúng tôi ra khỏi Ê-díp-tô.
54. Khi
Sa-lô-môn đã cầu với Ðức Giê-hô-va những lời khẩn nguyện nài xin này xong,
bèn đứng dậy trước bàn thờ Ðức Giê-hô-va, khỏi nơi người đã quì, tay giơ
lên trời.
55. Người đứng chúc phước lớn tiếng cho cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên, mà rằng:
56. Ðáng khen ngợi Ðức Giê-hô-va, là Ðấng đã ban
sự bình yên cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, tùy theo các lời Ngài đã hứa! Về
các lời tốt lành mà Ngài đã cậy miệng Môi-se, kẻ tôi tớ Ngài, phán ra,
chẳng có một lời nào không ứng nghiệm.
57. Nguyện Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời chúng tôi ở với chúng tôi, như Ngài đã ở cùng tổ phụ chúng tôi, chớ
lìa, chớ bỏ chúng tôi;
58. nguyện Ngài giục lòng chúng tôi hướng về
Ngài, hầu chúng tôi đi trong mọi đường lối Ngài, giữ những điều răn, luật
pháp, và mạng lịnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng tôi.
59. Ước gì
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta ngày đêm dủ lòng nhớ đến các lời ta đã
nài xin trước mặt Ngài, hầu cho tùy việc cần ngày nào theo ngày nấy, Ðức
Giê-hô-va binh vực quyền lợi của tôi tớ Ngài và của dân Y-sơ-ra-ên;
60.
hầu cho muôn dân của thế gian biết rằng Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời, chớ
chẳng có ai khác.
61. Vậy, các ngươi khá lấy lòng trọn lành đối với
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta, để đi theo luật lệ Ngài và giữ gìn điều
răn của Ngài, y như các ngươi đã làm ngày nay.
62. Vua và cả Y-sơ-ra-ên
đều dâng các của lễ tại trước mặt Ðức Giê-hô-va.
63. Sa-lô-môn dâng của
lễ thù ân cho Ðức Giê-hô-va, hai muôn hai ngàn con bò đực và mười hai muôn
con chiên. Vua và cả dân Y-sơ-ra-ên đều dự lễ khánh thành đền của Ðức
Giê-hô-va là như vậy.
64. Trong ngày đó, vua biệt riêng ra nơi chính
giữa của hành lang ở trước đền thờ của Ðức Giê-hô-va, vì tại đó người dâng
các của lễ thiêu, của lễ chay, và mỡ về của lễ thù ân; bởi vì bàn thờ bằng
đồng để trước đền của Ðức Giê-hô-va là nhỏ quá, đựng các của lễ thù ân
không đặng.
65. Trong lúc đó, Sa-lô-môn và cả dân Y-sơ-ra-ên, một hội
chúng rất lớn, ở từ miền Ha-mát cho đến khe Ê-díp-tô, hiệp tại trước mặt
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng ta, mà giữ lễ trong bảy ngày, lại bảy ngày
khác nữa, cộng mười bốn ngày.
66. Ngày thứ tám, vua cho dân sự về; dân
chúc phước cho vua, đi trở về trại mình, lấy làm mừng rỡ vui lòng về mọi
sự tốt lành mà Ðức Giê-hô-va đã làm cho Ða-vít, kẻ tôi tớ Ngài, và cho
Y-sơ-ra-ên, dân sự của Ngài.
1 Các Vua 9 chọn
đoạn khác
1. Khi Sa-lô-môn đã
cất xong nhà của Ðức Giê-hô-va, cung điện và mọi sự người muốn cất,
2.
thì Ðức Giê-hô-va hiện đến cùng người lần thứ nhì, y như Ngài đã hiện ra
cùng người tại Ga-ba-ôn.
3. Ðức Giê-hô-va phán với người rằng: Ta đã
nhậm lời cầu nguyện nài xin của ngươi thưa trước mặt ta; ta đã biệt riêng
ra thánh cái đền này mà ngươi đã cất, để cho danh ta ngự tại đó đời đời;
mắt và lòng ta sẽ thường ở đó mãi mãi.
4. Còn ngươi, nếu ngươi đi trước
mặt ta, như Ða-vít, cha ngươi, đã đi, lấy lòng trọn lành và ngay thẳng mà
làm theo các điều ta đã phán dặn ngươi, giữ những luật lệ và mạng lịnh của
ta,
5. bấy giờ ta sẽ làm cho ngôi nước ngươi kiên cố đến đời đời trên
Y-sơ-ra-ên, y như ta đã hứa cùng Ða-vít, cha ngươi, mà rằng: Ngươi sẽ
chẳng hề thiếu kẻ hậu tự ngươi ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên.
6. Nhưng nếu
ngươi và con cháu các ngươi xây bỏ ta, không giữ các điều răn và luật lệ
ta đã truyền cho các ngươi, đi hầu việc những thần khác và thờ lạy chúng
nó,
7. thì ta sẽ truất Y-sơ-ra-ên khỏi đất ta đã ban cho chúng nó, trừ
bỏ khỏi trước mắt ta cái đền này mà ta đã vì danh ta biệt riêng ra thánh,
và Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên lời tục ngữ và trò cười giữa muôn dân.
8. Còn
đền này, dầu cao dường nào, ai đi ngang qua gần nó cũng lấy làm lạ lùng,
chê bai, mà rằng: Cớ sao Ðức Giê-hô-va có làm cho xứ này và đền này như
vậy?
9. Người ta sẽ đáp rằng: Ấy vì chúng nó đã lìa bỏ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời chúng nó, là Ðấng đem tổ phụ họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô; họ theo các
thần khác, thờ lạy các thần ấy, và hầu việc chúng nó; vì cớ đó, Ðức
Giê-hô-va đã giáng trên họ các tai họa này.
10. Xảy ra vừa chẵn hai
mươi năm khi Sa-lô-môn đã xây xong hai cái nhà, tức là đền của Ðức
Giê-hô-va và cung điện vua,
11. thì bấy giờ, vua Sa-lô-môn ban cho
Hi-ram, vua Ty-rơ, hai mươi thành ở xứ Ga-li-lê; vì Hi-ram có cấp cho
Sa-lô-môn gỗ bá hương, gỗ tùng, và vàng, tùy người muốn bao nhiêu.
12.
Hi-ram từ Ty-rơ đến đặng xem các thành mà Sa-lô-môn đã ban cho mình, nhưng
các thành đó chẳng đẹp lòng người,
13. và người nói rằng: Hỡi anh,
những thành mà anh cho em đó là cái gì? Rồi người gọi các thành ấy là xứ
Ca-bun, hãy còn gọi như vậy đến ngày nay.
14. Vả, Hi-ram đã gởi cho vua
Sa-lô-môn một trăm hai mươi ta lâng vàng.
15. Nầy, là cớ sao Sa-lô-môn
đã bắt xâu đặng xây cất đền Ðức Giê-hô-va và cung điện mình, luôn với
Mi-lô, vách thành Giê-ru-sa-lem, Hát-so, Mê-ghi-đô, và Ghê-xe.
16.
Pha-ra-ôn, vua của Ê-díp-tô, đã đi lên chiếm lấy Ghê-xe, thiêu đốt nó, và
giết những dân Ca-na-an ở trong thành, rồi ban thành ấy làm của vu qui cho
con gái mình, là vợ Sa-lô-môn.
17. Vậy, Sa-lô-môn xây thành Ghê-xe,
Bết-Hô-rôn dưới,
18. Ba-lát, và Tát-mốt, tại trong đất rừng của
xứ;
19. lại xây các thành có những kho trữ lương phạn của Sa-lô-môn,
những thành để xe cộ, những thành cho quân kị, và mọi điều gì đẹp lòng
Sa-lô-môn xây cất tại Giê-ru-sa-lem, trong Li-ban và trong cả xứ phục dưới
quyền người.
20. Hết thảy những người còn sống lại trong dân A-mô-rít,
dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít, không thuộc về dân
Y-sơ-ra-ên,
21. tức là các con cháu của chúng nó còn lại ở trong xứ mà
dân Y-sơ-ra-ên không đủ sức diệt hết được, thì Sa-lô-môn bắt phụ làm xâu
dịch cho đến ngày nay.
22. Nhưng Sa-lô-môn không bắt dân Y-sơ-ra-ên làm
tôi mọi; song họ làm binh chiến, tôi tớ, quan trưởng, quan tướng, quan cai
xe, và lính kỵ của người.
23. Còn về các quan trưởng đặt lên coi sóc
các công việc của Sa-lô-môn, số là năm trăm năm mươi người; họ cai trị dân
làm công việc.
24. Con gái Pha-ra-ôn ở thành Ða-vít đi lên cung mà
Sa-lô-môn đã xây cất cho nàng; bấy giờ, người xây cất Mi-lô.
25. Mỗi
năm ba lần, Sa-lô-môn dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân trên bàn thờ mà
người đã đóng cho Ðức Giê-hô-va, và xông hương trên bàn thờ đã đặt ở trước
mặt Ðức Giê-hô-va. Người xây xong đền thờ là như vậy.
26. Vua Sa-lô-môn
cũng sắm sửa một đoàn tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be, gần Ê-lốt, trên mé Biển đỏ,
trong xứ Ê-đôm.
27. Hi-ram sai những tôi tớ mình, tức những thủy thủ,
thông thạo về nghề đi biển, đến trong đoàn tàu đó, đặng giúp tôi tớ của
Sa-lô-môn.
28. Họ đi Ô-phia đem về cho Sa-lô-môn bốn trăm hai mươi ta
lâng vàng.
1 Các Vua 10
chọn
đoạn khác
1. Khi nữ vương Sê-ba nghe nói về danh
tiếng của Sa-lô-môn và về danh của Ðức Giê-hô-va, bèn đến thử Sa-lô-môn
nhiều câu đố.
2. Bà đến Giê-ru-sa-lem có hầu hạ theo rất đông, lạc đà
chở thuốc thơm, nhiều vàng và ngọc. Bà đến cùng Sa-lô-môn, nói với người
mọi điều có trong lòng mình.
3. Sa-lô-môn đáp các câu hỏi của bà, chẳng
câu nào ẩn bí quá cho vua, mà vua không giải nghĩa nổi cho bà.
4. Khi
nữ vương Sê-ba thấy mọi sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện người
cất,
5. những món ăn trên bàn người, nhà cửa của tôi tớ người, thứ tự
công việc của các quan, và đồ ăn mặc của họ, các quan chước tửu, và các
của lễ thiêu người dâng trong đền Ðức Giê-hô-va, thì mất vía.
6. Rồi bà
nói rằng: Ðiều tôi nghe nói trong xứ tôi về lời nói và sự khôn ngoan của
vua, thì thật lắm.
7. Song trước khi tôi chưa đến đây, và chưa thấy tận
mắt những điều này, thì tôi chẳng tin; và kìa, người ta chẳng nói đến được
phân nửa! Sự khôn ngoan và oai nghi của vua trổi hơn tiếng đồn tôi đã
nghe.
8. Các tôi tớ vua thật có phước thay! Các tôi tớ vua hằng đứng
chầu trước mặt vua, nghe sự khôn ngoan của vua, lấy làm có phước
thay!
9. Ðáng khen ngợi thay Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của vua, vì Ngài
đẹp lòng vua, đặt vua trên ngôi của Y-sơ-ra-ên! Bởi vì Ðức Giê-hô-va yêu
dấu Y-sơ-ra-ên mãi mãi, nên Ngài đã lập vua làm vua đặng cai trị theo sự
ngay thẳng và công bình.
10. Ðoạn nữ vương dâng cho vua một trăm hai
mươi ta lâng vàng và rất nhiều thuốc thơm cùng ngọc quí. Từ đó nhẫn nay,
chẳng hề có ai đem thuốc thơm đến số nhiều bằng của nữ vương nước Sê-ba
dâng cho vua Sa-lô-môn.
11. Ðoàn tàu Hi-ram chở vàng Ô-phia, cũng chở
cây bạch đàn rất nhiều, và ngọc quí.
12. Vua dùng cây bạch đàn này mà
làm bao lơn cho đền thờ Ðức Giê-hô-va và cho nhà vua, cùng những đờn cầm
và đơn sắt cho con hát. Từ đó, chẳng hề có ai đem đến Giê-ru-sa-lem cây
bạch đàn dường ấy nữa, không ai thấy lại cho đến ngày nay.
13. Vua
Sa-lô-môn ban cho nữ vương Sê-ba mọi đều người ước và xin, chẳng kể những
vật mà Sa-lô-môn đã ban cho bà, tùy lệ thường của vua. Ðoạn, bà và các tôi
tớ bà lên đường trở về xứ mình.
14. Vàng mà vua Sa-lô-môn thâu nhận mỗi
năm cân đến sáu trăm bảy mươi sáu ta lâng,
15. không kể vàng người thâu
lấy nơi người buôn bán dông, và nơi sự đổi chác của kẻ thương mại, cùng
vàng mà các vua A-ra-bi, và các quan tổng đốc của xứ đem nộp.
16. Vua
Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn bằng vàng đánh giác, cứ mỗi cái dùng
sáu trăm siếc lơ vàng;
17. lại làm ba trăm cái khiên nhỏ, bằng vàng
đánh giác, cứ mỗi cái dùng ba min vàng. Vua để các khiên ấy trong đền rừng
Li-ban.
18. Vua cũng làm một cái ngai lớn bằng ngà, bọc vàng
ròng.
19. Ngai này có sáu nấc; thân cao ngai phía sau thì tròn; mỗi
phía ngai có thanh nâng tay, và hai con sư tử đứng kề.
20. Lại có mười
hai con khác đứng trên sáu nấc, nơi hữu và tả: chẳng có nước nào làm ngai
giống như vậy.
21. Hết thảy các chén uống của vua Sa-lô-môn đều bằng
vàng, và những khí dụng trong cung rừng Li-ban đều cũng bằng vàng ròng.
Chẳng có chi là bằng bạc: trong đời vua Sa-lô-môn, người ta chẳng kể bạc
là chi.
22. Vì đoàn tàu Ta-rê-si của vua mỗi ba năm một lần vượt biển
với đoàn tàu của Hi-ram, đem về vàng, bạc, ngà voi, con khỉ, và con
công.
23. Ấy vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn các vua thế gian về sự giàu có
và sự khôn ngoan.
24. Cả thiên hạ đều tìm kiếm mặt Sa-lô-môn đặng nghe
sự khôn ngoan mà Ðức Chúa Trời đã để trong lòng người.
25. Cứ hằng năm,
theo lệ định, mọi người đều đem đến dâng vật mình tiến cống cho vua, nào
chậu bằng bạc và bằng vàng, áo xống, binh khí, thuốc thơm, ngựa, và
la.
26. Sa-lô-môn cũng nhóm xe và lính kị; có một ngàn bốn trăm xe và
mười hai ngàn lính kị, để trong các thành chứa xe, và tại Giê-ru-sa-lem,
gần bên vua.
27. Tại Giê-ru-sa-lem vua làm cho bạc ra thường như đá, và
cây bá hương nhiều như cây sung mọc nơi đồng bằng.
28. Vua Sa-lô-môn do
nơi Ê-díp-tô mà được ngựa; một đoàn con buôn của vua đi kiếm mua từng bầy,
giá phải chăng.
29. Mỗi cỗ xe mua ở xứ Ê-díp-tô và dẫn về
Giê-ru-sa-lem, giá đáng sáu trăm siếc lơ bạc, còn mỗi con ngựa giá đáng
một trăm năm mươi siếc lơ. Các vua dân Hê-tít và vua Sy-ri cũng theo giá
ấy, nhờ những con buôn của vua mua về.
1 Các Vua 11 chọn
đoạn khác
1.
Ngoài con gái của Pha-ra-ôn, vua Sa-lô-môn lại còn thương mến nhiều người
nữ của dân ngoại; tức là người nữ Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Si-đôn, và
Hê-tít.
2. Chúng nó thuộc về các dân tộc mà Ðức Giê-hô-va có phán với
dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi và chúng nó chớ đi lại giao thông với nhau;
vì chúng nó hẳn sẽ quyến dụ lòng các ngươi hướng theo các thần chúng nó.
Sa-lô-môn tríu mến những người nữ ấy.
3. Người có bảy trăm hoàng hậu,
và ba trăm cung nữ; chúng nó bèn làm cho người trở lòng.
4. Trong buổi
già yếu, các hoàng hậu của Sa-lô-môn dụ lòng người đi theo các thần khác:
Ðối cùng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời mình, lòng người chẳng trọn lành như thể
lòng của Ða-vít, là cha người.
5. Vì Sa-lô-môn cúng thờ Át-tạt-tê, nữ
thần của dân Si-đôn, và thần Minh-côm, là thần đáng gớm ghiếc của dân
Am-môn.
6. Như vậy, Sa-lô-môn làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va,
chẳng vâng theo Ðức Giê-hô-va cách trọn lành như Ða-vít, cha người, đã
làm.
7. Bấy giờ, Sa-lô-môn lại xây cất tại trên núi đối ngang
Giê-ru-sa-lem, một nơi cao cho Kê-móc, vật đáng gớm ghiếc của dân Mô-áp,
và cho Mo-lóc, vật đáng gớm ghiếc của dân Am-môn.
8. Vua cũng làm như
vậy cho hết thảy các hoàng hậu ngoại của mình, xông hương và tế lễ cho
thần của chúng nó.
9. Ðức Giê-hô-va nổi giận cùng Sa-lô-môn, bởi vì
lòng người trở bỏ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Ðấng đã hai
lần hiện đến cùng người,
10. phán bảo người rằng chớ theo các thần
khác; nhưng người không vâng theo lịnh của Ðức Giê-hô-va.
11. Ðức
Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn rằng: Bởi vì ngươi đã làm điều này, không giữ
giao ước và luật pháp ta truyền cho ngươi, nên ta chắc sẽ đoạt lấy nước
khỏi ngươi, cho kẻ tôi tớ ngươi.
12. Song vì cớ Ða-vít, cha ngươi, ta
sẽ chẳng làm điều đó trong đời ngươi. Ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay con
trai ngươi.
13. Lại ta chẳng đoạt lấy cả nước khỏi nó; song vì cớ
Ða-vít, đầy tớ ta và vì cớ Giê-ru-sa-lem mà ta đã chọn, ta sẽ để lại một
chi phái cho con trai ngươi.
14. Vậy, Ðức Giê-hô-va khiến dấy lên một
kẻ thù nghịch cùng Sa-lô-môn, là Ha-đát, người Ê-đôm vốn dòng dõi vua
Ê-đôm.
15. Vả, trong lúc Ða-vít đánh dẹp Ê-đôm, thì Giô-áp là tổng
binh, đi lên chôn các kẻ thác, và giết hết thảy người nam trong
Ê-đôm.
16. Giô-áp và cả Y-sơ-ra-ên ở lại đó sáu tháng, cho đến khi
người đã giết hết thảy người trong Ê-đôm.
17. Lúc bấy giờ, Ha-đát chạy
trốn cùng mấy người Ê-đôm, là tôi tớ của cha người, đặng đến ở Ê-díp-tô;
Ha-đát hãy còn thơ ấu.
18. Chúng đi từ Ma-đi-an đến Pha-ran; đoạn bắt
mấy người Pha-ran theo mình mà đi đến Ê-díp-tô, ra mắt Pha-ra-ôn, vua xứ
Ê-díp-tô. Vua cấp cho Ha-đát nhà ở, lương thực và đất ruộng.
19. Ha-đát
được ơn nhiều trước mặt Pha-ra-ôn; vua bèn gả em vợ mình cho người, tức là
em của hoàng hậu Tác-bê-ne.
20. Em của Tác-bê-ne sanh cho Ha-đát một
con trai tên là Ghê-nu-bát; Tác-bê-ne dứt sữa nó tại trong đền Pha-ra-ôn.
Như vậy, Ghê-nu-bát ở tại trong đền Pha-ra-ôn, giữa các con trai của
vua.
21. Khi Ha-đát ở Ê-díp-tô hay rằng Ða-vít đã an giấc cùng các tổ
tiên người, và Giô-áp, quan tổng binh, đã thác, thì người tâu cùng
Pha-ra-ôn rằng: Xin hãy để cho tôi đi trở về trong xứ tôi.
22.
Pha-ra-ôn đáp với người rằng: Ngươi ở nơi ta có thiếu gì sao, nên ao ước
trở về trong xứ mình như vậy? Người thưa rằng: Chẳng thiếu chi. Dầu vậy,
xin cho tôi đi.
23. Ðức Chúa Trời lại khiến dấy lên một kẻ thù nghịch
khác, là Rê-xôn, con trai Ê-li-gia-đa, đã chạy trốn khỏi chúa mình là
Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba.
24. Khi Ða-vít giết quân vua Xô-ba, thì người
ấy nhóm người ta chung quanh mình, và làm đầu bọn đó, đi đến thành
Ða-mách, bèn ở tại đó, và quản trị thành ấy.
25. Rê-xôn làm kẻ cừu địch
cùng Y-sơ-ra-ên trọn đời Sa-lô-môn, ngoài ra sự bại mà Ha-đát đã làm;
người cai trị nước Sy-ri, và ghen ghét Y-sơ-ra-ên.
26. Giê-rô-bô-am,
con trai của Nê-bát, người Ép-ra-im, ở đất Xê-rê-đa, là tôi tớ của
Sa-lô-môn, cũng dấy nghịch với người. Mẹ người góa bụa, tên là
Xê-ru-ha.
27. Này là duyên cớ mà người phản nghịch với vua: Sa-lô-môn
xây cất Mi-lô, lấp vá lại nơi hư lủng của thành Ða-vít, là cha
người.
28. Vả, Giê-rô-bô-am là một người mạnh dạn và tài năng;
Sa-lô-môn thấy người tuổi trẻ có tài nghề, bèn đặt người làm đầu xâu cho
cả nhà Giô-sép.
29. Xảy trong lúc đó, Giê-rô-bô-am ở Giê-ru-sa-lem đi
ra, gặp tiên tri A-hi-gia ở Si-lô tại giữa đường, mặc cái áo tơi mới. Chỉ
có hai người ở ngoài đồng mà thôi.
30. A-hi-gia bèn nắm áo mới người
mặc trong mình mà xé ra làm mười miếng.
31. Ðoạn, người nói với
Giê-rô-bô-am rằng: Hãy lấy mười miếng về phần ngươi, vì Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vậy: Kìa, ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay
Sa-lô-môn và trao cho ngươi mười chi phái của nước ấy.
32. Nhưng vì cớ
Ða-vít, kẻ tôi tớ ta, và vì cớ Giê-ru-sa-lem, thành ta đã chọn giữa các
chi phái Y-sơ-ra-ên, nên sẽ có một chi phái cứ ở trung tín cùng
người.
33. Ấy, bởi vì chúng nó đã từ bỏ ta, đi thờ lạy Át-tạ-tê, nữ
thần của dân Si-đôn, thần xứ Mô-áp, và Minh-côm, thần của dân Am-môn.
Chúng nó không đi theo các đường lối ta, đặng làm điều ngay thẳng tại
trước mặt ta, và cũng chẳng giữ luật lệ và điều răn ta, y như Ða-vít, cha
của Sa-lô-môn, đã làm.
34. Nhưng ta sẽ chẳng cất lấy cả nước khỏi tay
Sa-lô-môn; song vì Ða-vít, kẻ tôi tớ ta, ta đã chọn, ta sẽ lập người làm
vua trọn đời người sống, bởi vì Ða-vít đã giữ các điều răn và luật lệ
ta.
35. Nhưng ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay con trai người, mà trao cho
ngươi mười chi phái.
36. Ta sẽ để lại một chi phái cho con trai người,
để cho tại Giê-ru-sa-lem, thành ta đã chọn đặng đặt danh ta ở đó, Ða-vít,
kẻ tôi tớ ta, hằng có một ngọn đèn trước mặt ta luôn luôn.
37. Vậy, ta
sẽ chọn ngươi và lập làm vua Y-sơ-ra-ên; ngươi sẽ cai trị theo ý muốn lòng
ngươi.
38. Và, nếu ngươi vâng theo lịnh ta, đi trong các đường lối ta,
làm điều thiện trước mặt ta, giữ gìn luật lệ và điều răn ta, y như Ða-vít,
tôi tớ ta, đã làm, thì ta sẽ ở cùng ngươi,
39. lập cho ngươi một nhà
vững chắc, y như ta đã lập cho Ða-vít, và ta sẽ ban Y-sơ-ra-ên cho ngươi.
Như vậy, ta sẽ làm sỉ nhục dòng dõi Ða-vít, nhưng chẳng phải đời
đời.
40. Sa-lô-môn tìm thế giết Giê-rô-bô-am; nhưng Giê-rô-bô-am chạy
trốn qua Ê-díp-tô, đến cùng Si-sắc, vua Ê-díp-tô; rồi người ở tại Ê-díp-tô
cho đến chừng Sa-lô-môn băng hà.
41. Còn các điều khác về chuyện
Sa-lô-môn, mọi việc người, sự khôn ngoan của người, thảy đều đã chép trong
sách hành trạng của Sa-lô-môn.
42. Sa-lô-môn ở Giê-ru-sa-lem cai trị
trên cả Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm.
43. Ðoạn, Sa-lô-môn an giấc cùng
các tổ phụ người, và được chôn trong thành Ða-vít, cha người. Rô-bô-am,
con trai người, cai trị thế cho người.
1 Các Vua 12 chọn
đoạn khác
1.
Rô-bô-am đến Si-chem vì cả Y-sơ-ra-ên đã hiệp lại tại Si-chem đặng tôn
người làm vua.
2. Khi Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, hay điều đó,
thì còn ở Ê-díp-tô, là nơi người trốn để thoát khỏi vua Sa-lô-môn.
3.
Người ta sai tìm người tại đó. Giê-rô-bô-am cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên
đều đến tâu với Rô-bô-am rằng:
4. Thân phụ vua đã làm cho ách chúng tôi
nặng quá nhưng bây giờ vua hãy giảm nhẹ sự phục dịch khó nhọc và cái ách
nặng mà thân phụ vua đã gán cho chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục dịch
vua.
5. Người đáp với chúng rằng: Hãy lui về, trong ba ngày sẽ trở lại
cùng ta. Dân sự bèn lui về.
6. Vua Rô-bô-am bàn với các trưởng lão đã
hầu hạ Sa-lô-môn, cha mình, trong lúc người còn sống, mà rằng: Các ngươi
bàn luận cho ta phải đáp với dân sự này làm sao?
7. Chúng thưa lại
rằng: Nếu ngày nay vua làm như người đầy tớ của dân sự này, phục sự họ,
đáp lời, trò chuyện tử tế cùng họ, thì họ sẽ làm tôi tớ vua mãi mãi.
8.
Nhưng Rô-bô-am không theo mưu của các trưởng lão đã bàn cho mình; bàn nghị
cùng các kẻ trai trẻ đồng lớn lên với mình, và hầu hạ mình,
9. mà rằng:
Dân sự này đã tâu với ta rằng: Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ vua đã gán
cho chúng tôi; vậy, các ngươi bàn luận cho ta phải đáp với chúng nó làm
sao?
10. Các gã trai trẻ đồng lớn lên với người đáp rằng: dân sự này đã
tâu với vua rằng: Thân phụ vua khiến ách chúng tôi nặng vua hãy làm cho nó
ra nhẹ; vua phải đáp lại cùng chúng như vầy: Ngón tay út ta cón lớn hơn
lưng của cha ta.
11. Vậy, cha ta đã gác một cái ách nặng cho các ngươi,
ta sẽ làm cái ách các ngươi thêm nặng hơn nữa; cha ta sửa phạt các ngươi
bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.
12. Ngày thứ ba,
Giê-rô-bô-am và cả dân sự đều đi đến Rô-bô-am, y như vua đã biểu rằng: Hãy
trở lại cùng ta trong ba ngày.
13. Vua đáp lời với dân sự cách xẳng
xớm, không kể các lời bàn luận của các trưởng lão,
14. và theo mưu các
kẻ trai trẻ mà đáp lại cùng chúng rằng: Cha ta đã khiến cho ách các ngươi
nặng nề; ta sẽ làm ách các ngươi càng nặng nề hơn nữa. Cha ta có sửa phạt
các ngươi bằng roi da, ta sẽ sửa phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.
15.
Như vậy, vua không khứng nghe lời dân sự, vì điều đó bởi Ðức Giê-hô-va dẫn
đến, đặng làm cho ứng nghiệm lời Ngài cậy A-hi-gia ở Si-lô mà phán cho
Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát.
16. Khi cả Y-sơ-ra-ên thấy vua không
khứng nghe lời họ, bèn đáp cùng người rằng: Chúng ta có phần gì cùng
Ða-vít? Chúng ta chẳng có cơ nghiệp chi với con trai Y-sai. Hỡi
Y-sơ-ra-ên! hãy trở về trại mình đi. Ớ Ða-vít! từ rày ngươi khá coi chừng
nhà của ngươi. Như vậy Y-sơ-ra-ên đều rút về các trại của họ.
17. Nhưng
về dân Y-sơ-ra-ên ở tại các thành Giu-đa, thì Rô-bô-am cai trị họ.
18.
Bấy giờ, Rô-bô-am sai A-đô-ram là người coi sóc việc cống thuế đến cùng
chúng; nhưng cả Y-sơ-r-ên ném đá người chết. Vua Rô-bô-am lật đật lên xe,
trốn về Giê-ru-sa-lem.
19. Ấy vậy, Y-sơ-ra-ên phản nghịch nhà Ða-vít
cho đến ngày nay.
20. Khi dân Y-sơ-ra-ên hay rằng Giê-rô-bô-am đã trở
về, bèn sai sứ mời người đến hội mình, và lập người làm vua trên
Y-sơ-ra-ên. Chỉ có chi phái Giu-đa cứ theo nhà Ða-vít mà thôi.
21.
Rô-bô-am đến Giê-ru-sa-lem nhóm hết thảy nhà Giu-đa và chi phái
Bên-gia-minh, số là một tăm tám mươi ngàn người lính chiến kén chọn, toan
tranh chiến cùng nhà Y-sơ-ra-ên đặng bắt nước phục lại Rô-bô-am, con trai
Sa-lô-môn.
22. Nhưng Ðức Chúa Trời phán cùng Sê-ma-gia, người của Ðức
Chúa Trời, rằng:
23. Hãy nói cùng Rô-bô-am, con trai Sa-lô-môn, vua
Giu-đa, cùng hết thảy nhà Giu-đa, Bên-gia-min, và phần dân sự còn lại, mà
rằng:
24. Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi chớ đi lên đánh anh em
mình, là dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi người hãy trở về nhà mình, vì sự này bởi ta
mà xảy đến. Chúng vâng theo lời Ðức Giê-hô-va mà trở về theo mạng lịnh của
Ngài.
25. Giê-rô-bô-am bèn xây cất Si-chem trên núi Ép-ra-im, và ở tại
đó. Ðoạn từ đó người đi ra xây cất Phê-nu-ên.
26. Bấy giờ, Giê-rô-bô-am
nói thầm rằng: Hoặc nước sẽ trở về nhà Ða-vít chăng.
27. Nếu dân sự này
đi lên Giê-ru-sa-lem đặng tế lễ tại trong đền của Ðức giê-hô-va, thì lòng
họ chắc sẽ trở về chúa của họ, là Rô-bô-am, vua Giu-đa; người ta sẽ giết
ta đi và trở về với Rô-bô-am, vua Giu-đa.
28. Vậy, vua bàn định, rồi
truyền làm hai con bò con bằng vàng, và nói với dân sự rằng: Các ngươi đi
lên Giê-ru-sa-lem thật khó thay! Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần ngươi, đã
đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
29. Người đặt con này tại Bê-tên, và con
kia tại Ðan.
30. Việc đó thành nên tội lỗi, vì dân chúng đi đến Ðan
đặng thờ lạy bò con ấy.
31. Giê-rô-bô-am cũng cất chùa miễu trên các
nơi cao, chọn lấy người trong vòng dân chúng lập làm thầy tế lễ, không
thuộc về chi phái Lê-vi.
32. Người lại định lập trong tuần tháng tám
ngày rằm, một lễ giống như lễ người ta thường dự trong xứ Giu-đa, và người
dâng các của lễ trên bàn thờ. Người cũng làm như vậy tại Bê-tên, tế lễ cho
hai bò con mà người đã làm nên; lại để tại Bê-tên những thầy tế lễ của các
nơi cao mà người đã cất.
33. Ngày rằm tháng tám, tức là tháng người tự
chọn lấy, Giê-rô-bô-am đi lên bàn thờ mình đã cất tại Bê-tên. Người lập
một lễ cho dân Y-sơ-ra-ên, rồi đi lên bàn thờ đặng xông
hương.
1 Các Vua 13
chọn
đoạn khác
1. Ðương khi Giê-rô-bô-am đứng gần bàn
thờ, đặng xông hương, kìa, có một người của Ðức Chúa Trời ở Giu-đa, vâng
mạng Ðức Giê-hô-va mà đến Bê-tên.
2. Người vâng theo lời phán của Ðức
Giê-hô-va, quở trách bàn thờ mà nói rằng: Hỡi bàn thờ, bàn thờ! Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Một đứa con trai sẽ sanh ra cho nhà Ða-vít, tên nó
là Giô-si-a. Nó sẽ dâng trên mầy những thầy tế lễ của các nơi cao, là
người xông hương trên mầy, và người ta sẽ thiêu trên mầy hài cốt của người
chết.
3. Trong ngày đó, thầy tiên tri tỏ một dấu lạ, rằng: Nầy là dấu
lạ mà Ðức Giê-hô-va đã phán: Bàn thờ sẽ nứt, tro trên bàn thờ sẽ đổ xuống
đất.
4. Khi vua Giê-rô-bô-am nghe lời hăm dọa mà người của Ðức chúa
Trời nói nghịch cùng bàn thờ tại Bê-tên, thì người giơ tay ra trên bàn thờ
mà bảo rằng: Hãy bắt nó đi. Nhưng cánh tay vua giơ ra đối cùng tiên tri
bèn trở nên khô, không thế co lại vào mình được.
5. Bàn thờ cũng nứt
ra, và tro ở trên đổ xuống, y như dấu lạ mà người của Ðức Chúa Trời đã
vâng mạng Ðức Giê-hô-va tỏ ra.
6. Bấy giờ, vua cất tiếng nói với người
của Ðức Chúa Trời rằng: Xin hãy nài xin Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi và
cầu nguyện cho ta, hầu cho tay ta được lại như cũ. Người của Ðức Chúa Trời
cầu khẩn Ðức Giê-hô-va, thì tay vua bèn co vào được, trở lại y như
trước.
7. Vua bèn nói cùng người của Ðức Chúa Trời rằng: Ngươi hãy về
cung với ta đặng bổ sức lại, và ta sẽ dâng cho ngươi một lễ vật.
8.
Người của Ðức Chúa Trời đáp lại cùng vua rằng: Dẫu vua ban cho tôi phân
nửa gia sản vua, tôi cũng chẳng vào cung với vua, hoặc ăn bánh hay là uống
nước tại nơi này;
9. vì Ðức Giê-hô-va đã phán dặn ta như vầy, rằng:
Ngươi chớ ăn bánh, chớ uống nước, chớ noi con đường ngươi đã đi mà trở
về.
10. Ấy vậy, người đi đường khác, chẳng trở lại đường người đã bắt
đi đến Bê-tên.
11. Vả, có một tiên tri già ở tại Bê-tên. Một con trai
người đến học lại cho người mọi điều người của Ðức Chúa Trời đã làm tại
Bê-tên trong ngày đó, và các lời người đã nói với vua. Người cha nghe lời
thuật này, thì hỏi con mình rằng:
12. Người ấy đi đường nào? Các con
trai người chỉ con đường mà người của Ðức Chúa Trời ở Giu-đa đã noi đi
về.
13. Người bèn nói cùng các con trai mình rằng: Hãy thắng lừa ta;
chúng bèn thắng lừa, rồi người lên cỡi,
14. đi theo người của Ðức Chúa
Trời, gặp người ngồi dưới gốc cây thông, thì nói rằng: Có phải ngươi là
người của Ðức Chúa Trời ở Giu-đa đến chăng? Người đáp: Ấy là tôi.
15.
Tiên tri già tiếp rằng: Hãy đến nhà với ta đặng dùng bữa.
16. Nhưng
người đáp lại rằng: Tôi chẳng thể trở về với ông, cũng chẳng thể vào nhà
ông, hoặc ăn bánh hay là uống nước với ông tại nơi này cũng không
đặng;
17. vì Ðức Giê-hô-va đã phán dặn tôi rằng: Ngươi chớ ăn bánh, chớ
uống nước tại nơi đó, và cũng đừng trở lại theo con đường ngươi đã bắt
đặng đi đến.
18. Người kia lại tiếp rằng: Ta cũng là tiên tri như
ngươi. Vả, một thiên sứ vâng lịnh Ðức Giê-hô-va có phán với ta rằng: hãy
dẫn nó vào nhà với ngươi, hầu cho ăn bánh và uống nước. Nhưng người tiên
tri này nói dối người.
19. Người của Ðức Chúa Trời bèn trở lại với
người, ăn và uống tại nhà người.
20. Khi hai người đương ngồi bàn, có
lời của Ðức Giê-hô-va phán với tiên tri đã đem người về;
21. người liền
kêu la cùng người của Ðức Chúa Trời ở Giu-đa đến mà rằng: Ðức Giê-hô-va
phán như vầy: Bởi vì ngươi phản nghịch lời của của Ðức Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời ngươi đã truyền cho ngươi,
22. nhưng đã trở lại ăn bánh uống nước
tại đó, thì xác chết ngươi sẽ chẳng được chôn trong mồ mả của tổ phụ
ngươi.
23. Khi đã ăn uống xong, tiên tri già bèn thắng lừa cho tiên tri
mình đã dẫn về.
24. Người liền đi: dọc đường người gặp một con sư tử và
bị nó giết đi. Thây người nằm sải trên đường, có con lừa đứng một bên, còn
sư tử cũng đứng gần bên thây.
25. Có người đi ngang qua thấy thây nằm
sải trên đường, và con sư tử đứng kế bên, thì đi đến trong thành của tiên
tri già ở, thuật lại đều mình đã thấy.
26. Khi tiên tri già, là người
đã khiến người của Ðức Chúa Trời trở bước lại, nghe điều ấy, bèn nói rằng:
Ấy là người của Ðức Chúa Trời đã phản nghịch lời của Ðức Giê-hô-va. Bởi
vậy cho nên Ðức Giê-hô-va đã phó người cho sư tử phân xé và giết đi, y như
lời Ðức Giê-hô-va đã phán.
27. Ðoạn, người biểu các con trai mình rằng:
Hãy thắng lừa ta. Chúng bèn thắng lừa.
28. Người đi, gặp xác chết nằm
trên đường, con lừa và con sư tử ở hai bên. Con sư tử không ăn xác chết và
không phân xé con lừa.
29. Tiên tri già cất xác của người Ðức Chúa Trời
lên, chở trên con lừa, đem về vào trong thành mình, đặng than khóc và chôn
người.
30. Người chôn xác ấy trong mộ mình, rồi khóc người mà rằng:
Thương ôi! anh ôi!
31. Sau khi chôn xác rồi, người nói với các con trai
mình rằng: Khi nào ta chết, các con hãy chôn ta vào mả đã chôn người của
Ðức Chúa Trời, để hài cốt ta ở bên hài cốt người.
32. Vì các lời hăm
dọa người vâng mạng Ðức Giê-hô-va mà nói nghịch cùng bàn thờ tại Bê-tên và
nghịch cùng các chùa miễu tại trên những nơi cao ở trong các thành
Sa-ma-ri, hẳn sẽ được ứng nghiệm.
33. Sau việc ấy, Giê-rô-bô-am không
trở lại con đường ác mình, nhưng người lại lập cho các nơi cao những thầy
tế lễ chọn trong đám dân sự; phàm ai tình nguyện, thì được người biệt
riêng ra làm thầy tế lễ tại các nơi cao.
34. Nhân vì cớ ấy nhà
Giê-rô-bô-am phạm tội, đến đỗi bị diệt khỏi mặt đất.
1 Các Vua 14
chọn
đoạn khác
1. Trong lúc đó, A-bi-gia, con trai của Giê-rô-bô-am,
đau.
2. Giê-rô-bô-am nói với vợ mình rằng: Ta xin ngươi hãy chổi dậy,
giả dạng khác đi, cho người ta không biết người là vợ ta. Ngươi hãy đi đến
Si-lô, tại đó có tiên tri A-hi-gia, là đấng đã nói trước về ta rằng ta sẽ
làm vua của dân sự này.
3. Ngươi phải lấy đem theo mười ổ bánh, những
bánh ngọt, và một bình mật ong, rồi hãy đi đến người; người sẽ nói cho
ngươi đều phải xảy đến cho con trẻ.
4. Vợ Giê-rô-bô-am làm theo vậy,
đứng dậy đi đến Si-lô, và tới nhà A-hi-gia. Vả, A-hi-gia không thấy được,
bởi vì tuổi già làm cho mắt người mù lòa.
5. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán
với người rằng: Kìa, vợ của Giê-rô-bô-am đến cầu hỏi ngươi về con trai nó
đương đau. Ngươi sẽ đáp lời cùng nó thể này, thể này. Khi đến, nàng sẽ giả
dạng làm một người khác.
6. Khi nàng bước qua ngạch cửa cái, A-hi-gia
nghe tiếng bước người, thì nói rằng: Hỡi vợ vua Giê-rô-bô-am, hãy vào; cớ
sao ngươi giả làm người khác? Ta chịu sai báo cho ngươi một tin dữ: Hãy đi
tâu với Giê-rô-bô-am:
7. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán
như vầy: Ta đã cất ngươi lên từ giữa dân sự, lập ngươi làm vua trên dân
Y-sơ-ra-ên ta.
8. Ta đã đoạt lấy nước khỏi nhà Ða-vít, kẻ tôi tớ ta, là
người gìn giữ các điều răn ta, hết lòng theo ta, chỉ làm điều thiện tại
trước mặt ta.
9. Ngươi đã làm điều ác hơn các kẻ tiên bối ngươi, đi lập
cho mình những thần khác và hình tượng đúc đặng chọc giận ta, và đã chối
bỏ ta.
10. Bởi cớ đó, ta sẽ giáng tai họa trên nhà Giê-rô-bô-am, các
nam đinh của nó, bất luận kẻ nô lệ hay là người tự do, ta sẽ diệt hết khỏi
trong Y-sơ-ra-ên, và quét sạch nhà nó, như người ta quét phân, cho đến
chẳng còn sót chi hết.
11. Phàm người của nhà Giê-rô-bô-am chết tại
trong thành, đều sẽ bị chó ăn nuốt, còn người nào chết ngoài đồng, thì sẽ
bị chim trời cắn rỉa ăn đi; vì Ðức Giê-hô-va đã phán vậy.
12. Thế thì,
hãy đứng dậy trở về nhà ngươi; vừa khi ngươi đặt chơn vào thành, thì con
ngươi sẽ chết.
13. Cả Y-sơ-ra-ên sẽ than khóc và chôn nó; trong nhà
Giê-rô-bô-am chỉ một mình nó sẽ được chôn nơi mồ mả, vì trong gia quyến
Giê-rô-bô-am chỉ thấy nơi nó có chút lòng tốt đối cùng Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên.
14. Trong ngày đó, Ðức Giê-hô-va sẽ dấy lên một
vua trên Y-sơ-ra-ên, người diệt hết nhà Giê-rô-bô-am. Mà sao? Việc đã xảy
đến rồi.
15. Ðức Giê-hô-va sẽ hành hại Y-sơ-ra-ên, như một cây sậy bị
nước đưa đi, truất Y-sơ-ra-ên khỏi xứ tốt đẹp này mà Ngài đã ban cho tổ
phụ họ, và làm tản lạc họ phía bên kia sông cái, bởi vì họ đã lấy hình
tượng chọc giận Ðức Giê-hô-va.
16. Vì cớ tội Giê-rô-bô-am đã phạm, tức
tội khiến cho dân Y-sơ-ra-ên can phạm nên Ðức Giê-hô-va sẽ phó Y-sơ-ra-ên
vào tay thù nghịch.
17. Vợ của Giê-rô-bô-am đứng dậy đi và đến Tiệt-sa.
Nàng vừa đặt chơn trên ngạch cửa nhà, thì đứa trẻ đã chết.
18. Người ta
chôn nó, và cả Y-sơ-ra-ên đều than khóc nó, theo như lời của Ðức Giê-hô-va
đã cậy miệng tôi tớ Ngài, là A-hi-gia, đấng tiên tri, mà phán.
19. Mọi
công việc khác của Giê-rô-bô-am làm, tức là sự tranh chiến và cuộc trị vì
của người, đều đã chép trong sách sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
20.
Giê-rô-bô-am trị vì hai mươi hai năm; đoạn, người an giấc cùng các tổ phụ
mình, và Na-đáp, con trai người, kế vị người. Ðời Rô-bô-am trị vì
21.
Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, cai trị Giu-đa. Khi lên ngôi, người đã
được bốn mươi mốt tuổi; người trị vì mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, là
thành Ðức Giê-hô-va đã chọn trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng đặt danh
Ngài ngự tại đó. Mẹ người tên là Na-a-ma, người Am-môn.
22. Dân Giu-đa
làm điều ác tại trước mặt Ðức Giê-hô-va; vì cớ tội phạm, chúng nó chọc cho
Ðức Giê-hô-va phân bì hơn là các tổ phụ mình đã làm.
23. Vì những người
Giu-đa cũng xây cất cho mình những nơi cao, trụ thờ và tượng Át-tạt-tê tại
trên các gò nổng cao và dưới những cây rậm.
24. Cũng có những bợm vĩ
gian ở trong xứ. Chúng bắt chước làm theo những sự gớm ghiếc của các dân
tộc mà Ðức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
25. Năm thứ
năm đời Rô-bô-am trị vì, Si-sắc, vua Ê-díp-tô, đi lên đánh
Giê-ru-sa-lem,
26. lấy các châu báu của đền Ðức Giê-hô-va và của cung
vua; người cũng đoạt lấy hết thảy những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã
làm.
27. Vua Rô-bô-am bèn truyền làm những khiên bằng đồng đặng thế cho
các khiên ấy, giao cho các quan làm đầu thị vệ canh cửa cung vua.
28.
Hễ vua đi vào đền Ðức Giê-hô-va, có những thị vệ cầm các khiên ấy; đoạn,
họ đem cất nó lại trong phòng thị vệ.
29. Các công việc khác của
Rô-bô-am, và mọi việc người đã làm, đều chép trong sách sử ký của các vua
Giu-đa.
30. Vả, Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am đánh giặc nhau luôn
luôn.
31. Rô-bô-am an giấc với tổ phụ người, và được chôn với họ tại
trong thành Ða-vít. Mẹ người tên là Na-a-ma, người Am-môn, A-bi-giam, con
trai người, kế vị người.
1 Các Vua 15 chọn
đoạn khác
1. Năm thứ mười
tám đời vua Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, thì A-bi-giam lên ngôi làm vua
Giu-đa.
2. Người trị vì ba năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ người tên là
Ma-a-ca, con gái của A-bi-sa-lôm.
3. Người đi trong các tội lỗi của cha
người đã phạm trước người; và lòng người không trọn lành với Giê-ho-va Ðức
Chúa Trời người như thể lòng Ða-vít, tổ phụ người.
4. Nhưng vì cớ
Ða-vít, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của người dành cho người một ngọn đèn
trong Giê-ru-sa-lem, lập con trai người làm kẻ kế vị người, và khiến cho
Giê-ru-sa-lem còn hoài;
5. vì Ða-vít làm điều thiện trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và ngoài việc U-ri, người Hê-tít, trọn đời người không xây bỏ
điều gì của Ðức Giê-hô-va đã truyền cho.
6. Vả, Rô-bô-am và
Giê-rô-bô-am đánh giặc nhau trọn đời mình.
7. Các công việc khác của
A-bi-giam, mọi việc người làm, đều chép trong sách sử ký của các vua
Giu-đa. A-bi-giam và Giê-rô-bô-am cũng đánh giặc nhau.
8. A-bi-giam an
giấc với tổ phụ mình, và người ta chôn người tại trong thành Ða-vít. A-sa,
con trai người, kế vị người.
9. Năm thứ hai mươi, đời vua Giê-rô-bô-am
là vua Y-sơ-ra-ên, thì A-sa lên ngôi làm vua Giu-đa.
10. Người cai trị
bốn mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Bà nội người tên là Ma-a-ca, con gái
của A-bi-sa-lôm.
11. A-sa làm điều thiện trước mặt Ðức Giê-hô-va, y như
Ða-vít, tổ phụ người, đã làm.
12. Người đuổi bợm vĩ gian khỏi xứ, và
dạy hết thảy hình tượng mà tổ phụ người đã làm.
13. Lại, người cũng cất
chức thái hậu khỏi Ma-a-ca, bà nội mình, bởi vì bà có dựng tượng
Át-tạt-tê. A-sa đánh hạ hình tượng của bà, đốt tại trong trũng
Xết-rôn.
14. Song người không trừ bỏ các nơi cao; dầu vậy, đối với Ðức
Giê-hô-va, lòng A-sa là trọn lành cả đời mình.
15. Người đem để lại
trong đền Ðức Giê-hô-va những vật thánh của cha người, và những vật mà
chính mình người đã biệt riêng ra thánh, hoặc vàng, bạc, hay là các khí
dụng.
16. A-sa, vua Giu-đa, và Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, đánh giặc nhau
trọn đời mình.
17. Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, đi lên đánh Giu-đa, xây đồn
lũy Ra-ma, để làm cho dân sự của A-sa, vua Giu-đa, không ra vào nơi A-sa,
vua Giu-đa được.
18. Khi ấy, A-sa bèn lấy hết những bạc và vàng còn lại
trong kho của đền Ðức Giê-hô-va và trong kho nơi cung của vua, giao cho
đều tớ mình; đoạn sai họ đến Bên-Ha-đát, con trai Táp-ri-môn, cháu
Hê-xi-ôn, vua Sy-ri, ở Ða-mách, và nói rằng:
19. Chúng ta hãy lập giao
ước với nhau, y như cha của ông và cha ta đã làm. Kìa, ta sai đem lễ vật
bằng bạc và vàng; hãy đi phá lời giao ước của ông với Ba-ê-sa, vua
Y-sơ-ra-ên, để hắn dan xa ta.
20. Bên-Ha-đát nghe lời vua A-sa; bèn sai
các quan tướng mình hãm đánh những thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy Y-giôn,
Ðan, A-bên-Bết-Ma-ca, và cả xứ Ki-nê-rốt với xứ Nép-ta-li.
21. Ba-ê-sa
hay được điều đó, liền thôi xây đắp đồn Ra-ma, mà rút về ở tại
Tiệt-sa.
22. Vua A-sa bèn nhóm hết thảy người Giu-đa, không trừ một ai;
chúng đem đi những đá và gỗ mà Ba-ê-sa đã dùng xây đắp đồn Ra-ma. Vua A-sa
dùng đồ ấy đặng xây cất Ghê-ba trong xứ Bên-gia-min, và Mích-ba.
23.
Các công việc khác của A-sa, quyền thế của người, mọi việc người làm, và
các thành người xây cất, đều đã chép trong sử ký của các vua Giu-đa. Khi
người đã già rồi, thì đau chơn.
24. A-sa an giấc cùng tổ phụ người, và
được chôn với họ trong thành Ða-vít, tổ tiên người. Giô-sa-phát, con trai
người, kế vị người.
25. Năm thứ hai đời A-sa, vua Giu-đa, Na-đáp, con
trai Giê-rô-bô-am, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên, và trị vì trên Y-sơ-ra-ên
hai năm.
26. Người làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, đi theo đường
của tổ phụ mình, phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm và khiến cho Y-sơ-ra-ên
can phạm nữa.
27. Ba-ê-se, con trai A-hi-gia, về nhà Y-sa-ca, làm phản
người; trong lúc Na-đáp và cả Y-sơ-ra-ên vây Ghi-bê-thôn, vốn thuộc về dân
Phi-li-tin, thì Ba-ê-se giết người tại đó.
28. Ấy là nhằm năm thứ ba
đời A-sa, vua Giu-đa, mà Ba-ê-sa giết Na-đáp và trị vì thế cho
người.
29. Vừa khi người lên ngôi làm vua, thì giết hết thảy người
thuộc về nhà Giê-rô-bô-am, không để sót một ai, đến đỗi đã diệt hết trong
nhà Giê-rô-bô-am, theo như lời Ðức Giê-hô-va đã cậy miệng A-hi-gia, kẻ tôi
tớ Ngài ở Si-lô, mà phán ra;
30. ấy vì cớ tội lỗi của Giê-rô-bô-am đã
phạm làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội, và chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên.
31. Các công sự khác của Na-đáp, mọi việc người
làm, đều đã chép trong sử ký của các vua Y-sơ-a-ên.
32. Vả, A-sa, vua
Giu-đa, và Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, đánh giặc nhau trọn đời mình.
33.
Năm thứ ba đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia, lên làm
vua của Y-sơ-ra-ên; người ở tại Tiệt-sa, và cai trị hai mươi bốn
năm.
34. Người làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, đi theo đường của
Giê-rô-bô-am, và tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm làm cho Y-sơ-ra-ên cũng
phạm tội.
1 Các Vua 16
chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ, lời của Ðức Giê-hô-va phán cho
Giê-hu, con trai của Hu-na-ni, nghịch cùng Ba-ê-sa, mà rằng:
2. Ta đã
cất ngươi lên khỏi bụi đất và lập ngươi làm vua chúa dân Y-sơ-ra-ên ta;
song ngươi đã đi theo đường của Giê-rô-bô-am, xui cho dân Y-sơ-ra-ên ta
phạm tội, và vì tội chúng nó, chọc giận ta.
3. Nhân vì cớ ấy, ta sẽ
quét sạch Ba-ê-sa và nhà nó, làm cho nhà nó giống như nhà Giê-rô-bô-am,
con trai của Nê-bát vậy.
4. Phàm kẻ nào thuộc về Ba-ê-sa chết tại trong
thành sẽ bị chó ăn, phàm kẻ nào chết ngoài đồng sẽ bị chim trời rỉa
ăn.
5. Các công việc khác của Ba-ê-sa, những việc người làm, và quyền
thế người, đều đã chép trong sách sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
6.
Ba-ê-sa an giấc cùng các tổ phụ người, và được chôn tại Tiệt-sa, Ê-la, con
trai người, kế vị người.
7. Lời của Ðức Giê-hô-va lại cậy tiên tri
Giê-hu, con trai Ha-na-ni, mà phán nghịch cùng Ba-ê-sa và nhà người, chẳng
những vì cớ các tội ác của người đã làm trước mặt Ðức Giê-hô-va, lấy công
việc của tay mình mà chọc cho Ngài giận, và vì làm giống như nhà của
Giê-rô-bô-am, mà lại bởi vì người đã hủy diệt nhà ấy.
8. Năm thứ hai
mươi sáu đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ê-la, con trai Ba-ê-sa, lên làm vua
Y-sơ-ra-ên. Người ở tại Tiệt-sa, và cai trị hai năm.
9. Xim-ri, kẻ tôi
tớ Ê-la, làm tướng coi phân nửa xe binh, làm phản người. Ê-la, ở Tiệt-sa,
làm quan cai đền người tại thành ấy.
10. Xim-ri bèn vào giết người,
nhằm năm hai mươi bảy đời A-sa, vua Giu-đa, và cai trị thay cho
người.
11. Xảy khi Xim-ri vừa lên ngôi làm vua, thì người giết hết thảy
nhà Ba-ê-sa, chẳng để lại một nam đinh nào hết, hoặc bà con hay là bằng
hữu người cũng vậy.
12. Vì các tội lỗi mà Ba-ê-sa và Ê-la con trai
người đã phạm, tức là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên can phạm, và vì các sự hư
không của chúng nó chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên,
13. nên Xim-ri diệt hết cả nhà Ba-ê-sa, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã cậy miệng Giê-hu là đấng tiên tri, mà phán ra cho
Ba-ê-sa.
14. Các công việc khác của Ê-la, và mọi việc người làm, đều đã
chép trong sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
15. Năm thứ hai mươi bảy đời
A-sa, vua Giu-đa, thì Xim-ri lên ngôi làm vua bảy ngày tại Tiệt-sa. Bấy
giờ, quân lính Y-sơ-ra-ên đương vây Ghi-bê-thôn, là thành vốn thuộc về dân
Phi-li-tin.
16. Khi đạo binh hay tin này rằng: Xim-ri đã phản nghịch và
giết vua, thì cũng một ngày đó, trong dinh, cả Y-sơ-ra-ên đều lập Ôm-ri,
là quan tổng binh, làm vua trên Y-sơ-ra-ên.
17. Ôm-ri và cả Y-sơ-ra-ên
từ Ghi-bê-thôn đi lên vây Tiệt-sa.
18. Xảy khi Xim-ri thấy thành đã bị
hãm, thì đi vào đồn lũy của cung vua mà đốt chính mình luôn với cung vua,
rồi chết
19. vì những tội lỗi người đã phạm, làm điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va, bắt chước theo đường của Giê-rô-bô-am đã phạm, tức tội đã gây
cho Y-sơ-ra-ên can phạm.
20. Các chuyện khác của Xim-ri, sự người làm
phản, đều đã chép trong sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
21. Bấy giờ, dân
Y-sơ-ra-ên chia làm hai phe: phe này theo Típ-ni, con trai Ghi-nát, và
muốn lập người làm vua; phe kia theo Ôm-ri.
22. Nhưng phe theo Ôm-ri
thắng hơn phe theo Típ-ni, con trai Ghi-nát. Vậy, Típ-ni chết và Ôm-ri cai
trị.
23. Năm thứ ba mươi mốt đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ôm-ri lên ngôi
làm vua Y-sơ-ra-ên, và cai trị mười hai năm. Người trị vì sáu năm tại
Tiệt-sa.
24. Ðoạn, người mua hòn núi Sa-ma-ri của Sê-me, giá là hai ta
lâng bạc. Trên núi ấy, người cất một cái thành lấy tên Sê-me, là tên chủ
núi Sa-ma-ri mà đặt tên cho thành.
25. Ôm-ri làm điều ác trước mặt Ðức
Giê-hô-va, ăn ở tệ hơn các người tiên bối người.
26. Trong mọi sự,
người bắt chước theo đường Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, phạm tội mà
Giê-rô-bô-am đã phạm, tức tội đã gây cho dân Y-sơ-ra-ên con phạm, và lấy
những sự hư không mình mà chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của
Y-sơ-ra-ên.
27. Các chuyện khác của Ôm-ri, những công việc người làm,
và quyền thế người, đều đã ghi trong sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên.
28.
Ôm-ri an giấc với tổ phụ mình, và được chôn tại Sa-ma-ri. A-háp, con trai
người, kế vị người.
29. Năm thứ ba mươi tám đời A-sa, vua Giu-đa, thì
A-háp, con trai Ôm-ri, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên; người ở Sa-ma-ri, cai
trị trên Y-sơ-ra-ên hai mươi hai năm.
30. A-háp, con trai Ôm-ri, làm
điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va hơn hết thảy các người tiên bối
mình.
31. Vả, người lấy sự bắt chước theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con
trai Nê-bát, làm nhỏ mọn, nên người đi lấy Giê-sa-bên, con gái Ết-ba-anh,
vua dân Si-đôn, mà làm vợ; người cũng đi hầu việc Ba-anh và thờ lạy
nó.
32. Người lập một bàn thờ cho Ba-anh tại trong miễu của Ba-anh mà
người đã cất tại Sa-ma-ri.
33. A-háp cũng dựng lên một hình tượng
Át-tạt-tê. Vậy, A-háp làm nhiều điều ác, chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của Y-sơ-ra-ên hơn các vua Y-sơ-ra-ên trước mình.
34. Trong đời A-háp,
Hi-ên ở Bê-tên, xây lại thành Giê-ri-cô. Khi người đặt cái nền thì mất
A-bi-ram, con trưởng nam mình, lúc dựng các cửa thì mất Sê-gúp, con út
mình, theo như lời của Ðức Giê-hô-va đã cậy Giô-suê, con trai của Nun, mà
phán ra.
1 Các Vua 17
chọn
đoạn khác
1. Ê-li ở Thi-sê-be, là một người trong
bọn đã sang ngụ Ga-la-át, nói với A-háp rằng: Ta đứng trước mặt Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống mà thề rằng: Mấy năm về sau đây,
nếu ta chẳng nói, chắc sẽ không có sương, cũng không có mưa.
2. Ðoạn có
lời của Ðức Giê-hô-va phán dạy người rằng:
3. Hãy đi khỏi đây, qua phía
đông, và ẩn ngươi bên khe Kê-rít, đối ngang Giô-đanh.
4. Ngươi sẽ uống
nước của khe, và ta đã truyền cho chim quạ nuôi ngươi tại đó.
5. Vậy,
Ê-li đi, vâng theo lời của Ðức Giê-hô-va, và đến ở nơi mé khe Kê-rít đối
ngang Giô-đanh.
6. Buổi mai và buổi chiều chim quạ đem bánh và thịt cho
người; và người uống nước khe.
7. Nhưng trong ít lâu, thì khe bị khô,
vì trong xứ không có mưa.
8. Bấy giờ, có lời của Ðức Giê-hô-va phán dạy
Ê-li rằng:
9. Hãy chổi dậy, đi đến Sa-rép-ta, thành thuộc về Si-đôn, và
ở tại đó; kìa, ta đã truyền cho một người góa bụa ở thành ấy lo nuôi
ngươi.
10. Vậy, người đứng dậy đi đến Sa-rép-ta. Khi đến cửa thành,
người thấy một người đờn bà góa lượm củi, bèn kêu mà nói rằng: Ta xin
ngươi hãy đi múc một chút nước trong bình để cho ta uống.
11. Nàng bèn
đi múc nước. Nhưng người kêu lại và nói với nàng rằng: Cũng hãy đem trong
tay ngươi cho ta một miếng bánh nữa.
12. Nàng đáp: Tôi chỉ mạng sống
của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của ông mà thề, tôi không có bánh, chỉ có một
nắm bột trong vò và một chút dầu trong bình; này tôi lượm hai khúc củi,
đoạn về nấu dọn cho tôi và con trai tôi; khi ăn rồi, chúng tôi sẽ
chết.
13. Nhưng Ê-li tiếp rằng: Chớ sợ chi, hãy trở về, làm y như ngươi
đã nói; song trước hãy dùng bột ấy làm cho ta một cái bánh nhỏ, rồi đem ra
cho ta; kế sau ngươi sẽ làm cho ngươi và cho con trai ngươi.
14. Vì
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vậy: Bột sẽ không hết
trong vò, và dầu sẽ không thiếu trong bình, cho đến ngày Ðức Giê-hô-va
giáng mưa xuống đất.
15. Vậy, nàng đi và làm theo điều Ê-li nói. Nàng
và nhà nàng, luôn với Ê-li ăn trong lâu ngày.
16. Bột chẳng hết trong
vò, dầu không thiếu trong bình, y như lời Ðức Giê-hô-va đã cậy miệng Ê-li
mà phán ra.
17. Sau một ít lâu, con trai của người đờn bà, tức là chủ
nhà, bị đau; bịnh rất nặng đến đỗi trong mình nó chẳng còn hơi thở.
18.
Người đờn bà bèn nói với Ê-li rằng: Hỡi người của Ðức Chúa Trời, tôi với
ông có việc chi chăng? Có phải ông đến nhà tôi đặng nhắc lại những tội lỗi
tôi và giết con tôi chăng?
19. Người đáp với nàng rằng: hãy giao con
nàng cho ta. Người bồng nó khỏi tay mẹ nó, đem lên phòng cao, chỗ người ở,
và để nó nằm trên giường mình.
20. Ðoạn, người kêu cầu cùng Ðức
Giê-hô-va mà rằng: Giê-hô-va Ðức Chúa Trời tôi ôi! cớ sao Ngài giáng tai
họa trên người đờn bà góa này, nhà nàng là nơi tôi trú ngụ, mà giết con
trai người đi?
21. Người nằm ấp trên mình con trẻ ba lần, lại kêu cầu
cùng Ðức Giê-hô-va nữa mà rằng: Ôi Giê-hô-va Ðức Chúa Trời tôi! xin Chúa
khiến linh hồn của đứa trẻ này trở lại trong mình nó.
22. Ðức Giê-hô-va
nhậm lời của Ê-li; linh hồn của đứa trẻ trở lại trong mình nó, và nó sống
lại.
23. Ê-li bồng đứa trẻ, đi xuống lầu, vào trong nhà dưới, giao cho
mẹ nó mà nói rằng: Hãy xem, con nàng sống.
24. Nàng bèn nói cùng Ê-li
rằng: Bây giờ tôi nhìn biết ông là một người của Ðức Chúa Trời, và lời
phán của Ðức Giê-hô-va ở trong miệng ông là thật.
1 Các Vua 18
chọn
đoạn khác
1. Cách lâu ngày, trong năm thứ ba có lời của Ðức Giê-hô-va
phán dạy Ê-li rằng: Hãy đi, ra mắt A-háp: ta sẽ khiến mưa sa xuống
đất.
2. Vậy, Ê-li đi ra mắt A-háp. Vả, tại Sa-ma-ri có cơn đói kém quá
đỗi.
3. A-háp sai gọi Áp-đia, là quan gia tể mình. (Áp-đia rất kính sợ
Ðức Giê-hô-va.
4. Xảy ra khi Giê-sa-bên diệt hết các đấng tiên tri đi
giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi
họ.)
5. A-háp nói với Áp-đia rằng: Hãy đi khắp xứ, xem hết thảy các
suối và khe, có lẽ chúng ta sẽ tìm được cỏ, và cứu cho ngựa và la còn
sống, không phải diệt hết các súc vật ta chăng?
6. Vậy, hai người chia
xứ đặng đi tuần. A-háp đi một mình con đường này, và Áp-đia đi một mình
con đường kia.
7. Áp-đia đương đi đường, thì gặp Ê-li ra đón mình.
Áp-đia nhìn biết người, sấp mình xuống đất, mà thưa rằng: Hỡi Ê-li chúa
tôi! có phải ông chăng?
8. Người đáp: Ừ phải ta. Ngươi hãy đi nói với
chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây.
9. Áp-đia tiếp rằng: Tôi có phạm tội gì, mà
ông muốn phó kẻ tôi tớ ông vào tay A-háp, hầu cho người giết tôi
đi?
10. Tôi chỉ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, chẳng
dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông và khi người ta đáp
rằng: Ê-li không có đây, thì người bắt nước bắt dân ấy thề rằng không ai
gặp ông.
11. Mà bây giờ, ông lại nói với tôi tớ rằng: Hãy đi nói với
chủ ngươi: Ê-li ở đây.
12. Rồi khi tôi lìa khỏi ông, sẽ có thần của Ðức
Giê-hô-va đem ông đi nơi nào tôi chẳng biết; vậy, khi tôi đi thuật lại
cùng A-háp, mà người không thấy ông, ắt sẽ giết tôi đi. Vả, kẻ tôi tớ ông
kính sợ Ðức Giê-hô-va từ khi thơ ấu.
13. Khi Giê-sa-bên giết các tiên
tri của Ðức Giê-hô-va, thì tôi có giấu một trăm tiên tri của Ðức Giê-hô-va
trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ;
người ta há không có thuật điều đó cho chúa tôi hay sao?
14. Và bây
giờ, ông biểu tôi: Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây. Người ắt sẽ
giết tôi đi.
15. Ê-li đáp rằng: Ta chỉ sanh mạng Ðức Giê-hô-va vạn
quân, là Ðấng ta phục sự, mà thề rằng: Chính ngày nay ta sẽ ra mắt
A-háp.
16. Vậy, Áp-đia đi đón A-háp, và thuật lại cho người. A-háp bèn
đi đón Ê-li.
17. Vừa khi A-háp thấy Ê-li, thì nói rằng: Có phải ngươi,
là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?
18. Ê-li đáp rằng: Chẳng phải tôi
làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu; bèn là vua và nhà cha vua, bởi vì vua đã bỏ
điều răn của Ðức Giê-hô-va, và đã tin theo thần Ba-anh.
19. Vậy bây giờ
vua hãy sai người đi nhóm cả Y-sơ-ra-ên, với bốn trăm năm mươi tiên tri
của Ba-anh, và bốn trăm tiên tri của Át-tạt-tê, ăn tại bàn Giê-sa-bên,
khiến họ đến cùng tôi trên núi Cạt-mên.
20. Vậy, A-háp sai người đi
nhóm cả dân Y-sơ-ra-ên và những tiên tri đến núi Cạt-mên.
21. Ðoạn Ê-li
đến trước mặt dân sự mà nói rằng: Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng
nào? Nếu Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Ðức Chúa
Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.
22. Bấy giờ, Ê-li
nói với dân sự rằng: Trong vòng những tiên tri của Ðức Giê-hô-va, chỉ một
mình ta còn lại; còn các tiên tri Ba-anh số là bốn trăm năm mươi
người.
23. Vậy, hãy cho chúng ta hai con bò đực; họ phải chọn một con
cho mình, sả ra từ miếng, sắp để trên củi, nhưng chớ châm lửa. Còn ta, ta
sẽ làm con bò kia, để nó trên củi, nhưng không châm lửa.
24. Ðoạn, hãy
kêu cầu danh của thần các ngươi, còn ta, ta sẽ kêu cầu danh của Ðức
Giê-hô-va. Thần đáp lời bằng lửa, ấy quả là Ðức Chúa Trời. Cả dân sự đều
đáp rằng: Lời nói rất phải.
25. Ê-li bèn nói với những tiên tri Ba-anh
rằng: hãy chọn một con bò đực, làm nó trước đi, vì các ngươi đông; rồi hãy
cầu khẩn danh của thần các ngươi; nhưng chớ châm lửa.
26. Vậy, chúng
bắt con bò mà người ta đã ban cho mà làm nó; rồi từ sớm mai đến trưa,
chúng cầu khẩn danh của Ba-anh, và rằng: Hỡi Ba-anh! xin đáp lời chúng
tôi. Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng chẳng ai đáp lời; chúng đều nhảy chung
quanh bàn thờ mình đã dựng lên.
27. Khi đã đến trưa, Ê-li nhạo chúng mà
rằng: Khá la lớn lên đi, vì người là thần; hoặc người đương suy gẫm, hoặc
ở đâu xa, hoặc đương đi đường; hay là có lẽ người ngủ, và sẽ thức
dậy.
28. Vậy, chúng kêu lớn tiếng; và theo thói lệ họ, lấy gươm giáo
gạch vào mình cho đến chừng máu chảy ra.
29. Khi quá trưa rồi, họ cứ
nói tiên tri như vậy cho đến giờ dâng của lễ chay ban chiều; nhưng vẫn
không có tiếng gì, chẳng ai đáp lời, cũng không cố ý đến.
30. Bấy giờ,
Ê-li nói với cả dân sự rằng: Hãy đến gần ta. Dân sự bèn đến gần người.
Ðoạn, Ê-li sửa lại cái bàn thờ của Ðức Giê-hô-va bị phá hủy.
31. Người
lấy mười hai chi phái của các con trai Gia-cốp, là người mà lời của Ðức
Giê-hô-va đã phán cho rằng: Y-sơ-ra-ên sẽ là tên ngươi.
32. Người dùng
mười hai hòn đá ấy mà dựng lên một cái bàn thờ nhơn danh Ðức Giê-hô-va;
chung quanh bàn thờ, người đào một cái mương đựng được hai đấu hột
giống;
33. rồi chất củi, sả bò tơ ra từ miếng, và sắp nó lên trên củi.
Kế người nói:
34. Hãy múc đầy bốn bình nước, và đem đổ trên của lễ
thiêu và củi. Người lại nói: Hãy làm lần thứ nhì; thì người ta làm lần thứ
nhì. Người tiếp: Hãy làm lần thứ ba, và họ làm lần thứ ba,
35. cho đến
đỗi nước chảy chung quanh bàn thờ, và đầy cái mương nữa.
36. Ðến giờ
dâng của lễ chay ban chiều, tiên tri đến gần và nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin
hãy tỏ cho người ta biết rằng Ngài là Ðức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên, rằng
tôi là kẻ tôi tớ Ngài, và tôi vâng lời Ngài mà làm mọi sự này.
37. Ðức
Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn
biết rằng Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở
lại.
38. Lửa của Ðức Giê-hô-va bèn giáng xuống, thiêu đốt của lễ thiêu,
củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.
39. Thấy vậy, cả dân sự sấp mình
xuống đất, và la rằng: Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời! Giê-hô-va là Ðức Chúa
Trời!
40. Ê-li nói với chúng rằng: Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh, chớ
cho thoát một người nào. Chúng bèn bắt họ, Ê-li đem họ xuống dưới khe
Ki-sôn, và giết họ tại đó.
41. Ðoạn, Ê-li nói cùng A-háp rằng: Hãy đi
lên, ăn và uống, vì tôi đã nghe tiếng mưa lớn.
42. Vậy, A-háp trở lên
đặng ăn uống. Nhưng Ê-li leo lên chót núi Cạt-mên, cúi xuống đất và úp mặt
mình giữa hai đầu gối.
43. Ðoạn, người nói với kẻ tôi tớ mình rằng: Xin
hãy đi lên, ngó về phía biển. Kẻ tôi tớ đi lên xem, nhưng nói rằng: Không
có chi hết. Ê-li lại nói: Hãy trở lên bảy lần.
44. Lần thứ bảy, kẻ tôi
tớ đáp rằng: Tôi thấy ở phía biển lên một cụm mây nhỏ như lòng bàn tay,
Ê-li bèn tiếp: Hãy đi nói với A-háp rằng: Hãy thắng xe và đi xuống, kẻo
mưa cầm vua lại chăng.
45. Trong một lúc, trời bị mây che đen, gió nổi
dậy, và có cơn mưa rất lớn. A-háp bèn lên xe mình, đi đến
Gít-rê-ên.
46. Tay Ðức Giê-hô-va giáng trên Ê-li; người thắt lưng, chạy
trước A-háp cho đến khi tới Gít-rê-ên.
1 Các Vua 19 chọn
đoạn khác
1.
A-háp thuật lại cho Giê-sa-bên mọi điều Ê-li đã làm, và người đã dùng gươm
giết hết thảy tiên tri Ba-anh làm sao.
2. Giê-sa-bên sai một sứ giả đến
Ê-li mà nói rằng: Nếu ngày mai trong giờ này, ta không xử mạng sống ngươi
như mạng sống của một người trong chúng nó, nguyện các thần đãi ta cách
nặng nề.
3. Vì vậy, Ê-li sợ hãi, đứng dậy chạy đi đặng cứu mạng sống
mình. Ðến tại Bê-e-Sê-ba, thuộc về Giu-đa, người để tôi tớ mình lại
đó.
4. Còn người vào đồng vắng, đường đi ước một ngày, đến ngồi dưới
cây giếng giêng, xin chết mà rằng: Ôi Ðức Giê-hô-va! đã đủ rồi. Hãy cất
lấy mạng sống tôi, vì tôi không hơn gì các tổ phụ tôi.
5. Ðoạn, người
nằm ngủ dưới cây giếng giêng. Có một thiên sứ đụng đến người và nói rằng:
Hãy chổi dậy và ăn.
6. Người nhìn thấy nơi đầu mình một cái bánh nhỏ
nướng trên than, và một bình nước. Người ăn uống, rồi lại nằm.
7. Thiên
sứ của Ðức Giê-hô-va đến lần thứ nhì, đụng người và nói rằng: Hãy chổi dậy
và ăn, vì đường xa quá cho ngươi. Vậy người chổi dậy, ăn và uống,
8.
rồi nhờ sức của lương thực ấy, người đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm cho
đến Hô-rếp, là núi của Ðức Chúa Trời.
9. Ðến nơi, người đi vào trong
hang đá, ngủ đêm ở đó. Và kìa, có lời của Ðức Giê-hô-va phán với người
rằng: Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi?
10. Người thưa rằng: Tôi đã rất
nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Ðức Chúa Trời vạn quân; vì dân Y-sơ-ra-ên
đã bội giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên
tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng kiếm thế cất mạng sống
tôi.
11. Ðức Chúa Trời phán với người rằng: Hãy đi ra, đứng tại trên
núi trước mặt Ðức Giê-hô-va. Nầy Ðức Giê-hô-va đi ngang qua, có một ngọn
gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá;
nhưng không có Ðức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất;
nhưng không có Ðức Giê-hô-va trong cơn động đất.
12. Sau cơn động đất
có đám lửa; nhưng không có Ðức Giê-hô-va trong đám lửa. Sau đám lửa, có
một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.
13. Khi Ê-li vừa nghe tiếng đó, thì lấy áo
tơi bao phủ mặt mình, đi ra đứng tại nơi miệng hang; này có một tiếng phán
với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi làm chi đây?
14. Người thưa rằng: Tôi
rất nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Ðức Chúa Trời vạn quân, vì dân
Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước của Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm
giết những tiên tri; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng tìm cách cất
mạng sống tôi.
15. Nhưng Ðức Giê-hô đáp với người rằng: Hãy bắt con
đường đồng vắng đi đến Ða-mách. Khi đến rồi, ngươi sẽ xức dầu cho Ha-xa-ên
làm vua Sy-ri;
16. ngươi cũng sẽ xức dầu cho Giê-hu, con trai của
Nim-si, làm vua Y-sơ-ra-ên; và ngươi sẽ xức dầu cho Ê-li-sê, con trai
Sa-phát, ở A-bên-Mê-hô-la, làm tiên tri thế cho ngươi.
17. Ai thoát
khỏi gươm của Ha-xa-ên sẽ bị Giê-hu giết; ai thoát khỏi gươm của Giê-hu sẽ
bị Ê-li-sê giết.
18. Nhưng ta đã để dành lại cho ta trong Y-sơ-ra-ên
bảy ngàn người không có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và môi họ chưa hôn
nó.
19. Từ đó, Ê-li đi, gặp Ê-li-sê, con trai của Sa-phát đương cày có
mười hai đôi bò trước mặt mình, chính người cầm đôi thứ mười hai. Ê-li đi
ngang qua người, ném áo choàng mình trên người.
20. Ê-li-sê bèn bỏ bò
mình, chạy theo Ê-li mà nói rằng: Xin cho phép tôi hôn cha và mẹ tôi đã,
đoạn tôi sẽ theo ông. Ê-li đáp: Hãy đi và trở lại; vì ta nào có làm gì cho
ngươi đâu.
21. Ê-li-sê bèn lìa khỏi Ê-li trở về, bắt một đôi bò giết
đi, và lấy cày làm củi mà nấu thịt nó, rồi cho các tôi tớ mình ăn. Ðoạn,
người đứng dậy, đi theo Ê-li, và hầu việc người.
1 Các Vua 20 chọn
đoạn khác
1.
Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, hiệp hết thảy quân lính mình; có ba mươi hai vua
theo người, cùng ngựa và xe. Người đi lên vây Sa-ma-ri và hãm đánh
nó.
2. Người sai sứ giả đến A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, ở trong thành, và
nói với người rằng: Bên-Ha-đát nói như vầy:
3. Bạc và vàng của ngươi
thuộc về ta. Các cung phi và những con cái tốt nhất của ngươi cũng thuộc
về ta.
4. Vua Y-sơ-ra-ên đáp: Hỡi vua chúa tôi, cứ như lời vua nói; tôi
và mọi vật của tôi đều thuộc về vua.
5. Nhưng các sứ giả trở lại cùng
vua Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Bên-Ha-đát nói như vầy: Hãy đưa bạc, vàng,
cung phi, và các con trai ngươi cho ta.
6. Thế thì, ngày mai, giờ này,
ta sẽ sai các đầy tớ ta đến nhà ngươi, chúng nó sẽ lục soát nhà ngươi và
nhà của tôi tớ ngươi; phàm món gì của ngươi lấy làm quí trọng, chúng nó sẽ
lấy đem đi.
7. Vua Y-sơ-ra-ên bèn đòi hết thảy trưởng lão trong xứ, mà
nói rằng: hãy xem xét và biết rằng người này toan mưu làm hại chúng ta; vì
người đã sai sứ đòi các cung phi, con cái, bạc, và vàng của ta; và ta
không có từ chối gì hết.
8. Các trưởng lão và cả dân sự đều tâu với vua
rằng: Ðừng nghe, và chớ chịu chi hết.
9. Vậy A-háp đáp cùng sứ giả của
Bên-Ha-đát rằng: Hãy nói với vua chúa ta Mọi điều vua đòi tôi tớ vua làm
lần thứ nhất, tôi sẽ làm; nhưng điều này tôi không thế làm được. Các sứ
giả đi thuật lại lời đó cho Bên-Ha-đát.
10. Bên-Ha-đát lại sai sứ nói
rằng: Nếu bụi cát ở Sa-ma-ri đủ lấp đầy lòng bàn tay của các chiến sĩ theo
ta, nguyện các thần giáng tai họa cho ta nặng nề!
11. Nhưng vua
Y-sơ-ra-ên đáp: Hãy nói với vua rằng: Người mặc áo giáp chớ khoe mình như
người cổi nó ra.
12. Bên-Ha-đáp đương uống rượu với các vua trong trại,
vừa nghe được các lời này, thì nói cùng các đầy tớ mình rằng: Hãy dàn trận
đi. Chúng bèn dàn trận đặng hãm đánh thành.
13. Vả, có một tiên tri đến
gần A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, mà nói rằng: Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi
thấy đoàn binh rất đông này chăng? Kìa, ngày nay, ta sẽ phó nó vào tay
ngươi, và ngươi sẽ biết ta là Giê-hô-va.
14. A-háp thưa rằng: Dùng ai?
Người đáp: Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Dùng những kẻ tôi tớ của các quan
cai hàng tỉnh. Người tiếp: Ai sẽ giao chiến? Tiên tri đáp: Chính
vua.
15. A-háp soát điểm những tôi tớ của các quan cai hàng tỉnh; có
được hai trăm ba mươi hai người. Kế sau, người soát điểm cả dân
Y-sơ-ra-ên, được bảy ngàn người.
16. Ban trưa, họ kéo đi ra; song
Bên-Ha-đát uống rượu say tại trại mình với ba mươi hai vua giúp đỡ
người.
17. Những tôi tớ của các quan cai hàng tỉnh đi ra trước;
Bên-Ha-đát sai kẻ hỏi dọ người ta báo lại cho người rằng: Có người từ
Sa-ma-ri kéo ra.
18. Người đáp: Chúng nó đến hoặc có ý cầu hòa, hãy bắt
sống lấy; hoặc có ý chiến tranh, cũng hãy bắt sống lấy.
19. Vậy, những
tôi tớ của các quan cai hàng tỉnh kéo ra thành, và đạo quân đi
theo,
20. ai nấy đánh kẻ nghịch mình. Quân Sy-ri chạy trốn, và
Y-sơ-ra-ên rượt đuổi theo, Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, lên ngựa thoát chạy với
một vài lính kỵ.
21. Vua Y-sơ-ra-ên bèn kéo ra đánh giết ngựa xe, làm
cho dân Sỵ-ri thua trận cả thể.
22. Bấy giờ, đấng tiên tri đến gần vua
Y-sơ-ra-ên, nói rằng: Vua hãy đi, làm cho mình mạnh mẽ, và hãy xem xét coi
chừng điều mình phải làm, vì năm tới vua Sy-ri sẽ đến đánh vua nữa.
23.
Các đầy tớ của vua Sy-ri nói với người rằng: Thần của chúng nó là thần
núi, cho nên chúng nó mạnh hơn chúng ta; nhưng chúng ta hãy giao chiến với
chúng nó dưới đồng bằng; quả chúng ta sẽ thắng hơn chúng nó.
24. Lại,
khá làm điều này: Hãy cất các vua khỏi chỗ làm đầu binh, lập những quan
cai thế vào cho;
25. đoạn, hãy điểm lấy một đạo quân giống như đạo quân
của vua đã mất, bằng số ngựa và xe ấy; chúng ta sẽ giao chiến với dân
Y-sơ-ra-ên tại trong đồng bằng, quả chúng ta sẽ thắng hơn chúng nó. Vua
bèn nghe lời đầy tớ mình và làm theo.
26. Năm tới, Bên-Ha-đát điểm soát
dân Sy-ri, và đi đến A-phéc đặng giao chiến cùng Y-sơ-ra-ên.
27. Dân
Y-sơ-ra-ên cũng bị điểm soát và sắm lương thực, đi đón chúng nó. Dân
Y-sơ-ra-ên đóng trại đối mặt dân Sy-ri giống như hai bầy dê nhỏ; còn dân
Sy-ri đầy khắp cả xứ.
28. Bấy giờ, người của Ðức Chúa Trời đến gần vua
Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Bởi vì dân Sy-ri có
nói rằng: Ðức Giê-hô-va là thần núi, chớ chẳng phải thần trũng, nên ta sẽ
phó đoàn binh rất đông đảo này vào tay ngươi, và các ngươi sẽ biết ta là
Giê-hô-va.
29. Hai bên đóng trại đối ngang nhau trong bảy ngày; ngày
thứ bảy, họ giao chiến nhau. Dân Y-sơ-ra-ên đánh dân Sy-ri, trong một ngày
giết họ mười vạn lính bộ.
30. Còn sót lại chạy trốn ẩn trong thành
A-phéc; song những vách thành sập ngã, đè hai mươi bảy ngàn người đã thoát
khỏi trận. Bên-Ha-đát cũng chạy trốn vào thành, ẩn trong một phòng
kín.
31. Các đầy tứ Bên-Ha-đát tâu cùng người rằng: Chúng tôi có nghe
rằng các vua nhà Y-sơ-ra-ên vốn nhân từ. Vì vậy, xin cho chúng tôi thắt
bao nơi lưng, vấn dây trên đầu, rồi chúng tôi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên: hoặc
người để cho vua sống chăng.
32. Họ bèn thắt bao nơi lưng, vấn dây trên
đầu, rồi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên, và tâu rằng: Bên-Ha-đát, kẻ tôi tớ vua,
cầu rằng: Xin vua để cho tôi sống. A-háp đáp rằng: Người còn sống chăng?
Người vốn là anh ta.
33. Chúng lấy sự ấy làm một điềm lành, lật đật
nhận lời và la lên rằng: Bên-Ha-đát thật anh vua. A-háp tiếp rằng: Hãy đi
vời người đến cho ta. Bên-Ha-đát bèn đến ra mắt A-háp; người mời
Bên-Ha-đát lên xe mình.
34. Bên-Ha-đát nói với người rằng: Tôi sẽ trao
lại cho vua các thành mà cha tôi đã chiếm lấy của cha vua, và vua sẽ lập
chợ phố cho vua tại Ða-mách, y như cha tôi đã làm tại Sa-ma-ri. A-háp đáp:
Còn ta sẽ thuận giao ước này mà để cho ngươi đi về. Vậy, A-háp lập giao
ước với Bên-Ha-đát, đoạn để cho người đi.
35. Bấy giờ, có một người
trong vòng các con trai tiên tri, vâng lịnh Ðức Giê-hô-va, nói với bạn
mình rằng: Tôi xin anh hãy đánh tôi. Nhưng bạn không chịu đánh
người.
36. Người tiếp rằng: Bởi vì anh không vâng theo lời phán dặn của
Ðức Giê-hô-va, nên liền khi anh lìa khỏi tôi, sẽ có một con sư tử giết
anh. Bạn lìa khỏi người, thì gặp một con sư tử giết người đi.
37. Tiên
tri gặp một người khác, và nói rằng: Ta xin ngươi hãy đánh ta. Người ấy
đánh tiên tri, và làm cho người bị thương.
38. Ðoạn, tiên tri đi, đứng
đợi trên đường vua, xủ khăn bịt xuống mắt mình mà giả dạng.
39. Khi vua
đi ngang qua, người cất tiếng la lên, và nói với vua rằng: Tôi tớ vua ở
giữa chiến trận; thì có người dẫn đến cùng tôi một kẻ phu tù, và biểu
rằng: Hãy giữ người này; xảy nó thoát khỏi, thì mạng sống ngươi sẽ thường
cho mạng sống nó, hay là ngươi phải thường một ta lâng bạc.
40. Song,
trong khi kẻ tôi tớ vua mắc chuyện đây đó, thì tên phu tù trốn đi. Vua
Y-sơ-ra-ên đáp rằng: Ấy là sự đoán xét của ngươi; chính ngươi đã định
lấy.
41. Lập tức người vén khăn che mắt mình lên, vua Y-sơ-ra-ên nhìn
biết là một người trong vòng các tiên tri.
42. Tiên tri bèn nói rằng:
Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Bởi vì ngươi để thoát khỏi tay ngươi kẻ ta đã
định đáng tận diệt, vậy nên, mạng sống ngươi sẽ thế cho mạng sống nó, và
dân sự ngươi thế cho dân sự nó.
43. Vua Y-sơ-ra-ên bèn trở về cung điện
mình tại Sa-ma-ri, lấy làm buồn rầu và giận dữ.
1 Các Vua 21 chọn
đoạn khác
1.
Sau các việc ấy, xảy có chuyện này: Na-bốt, người Gít-rê-ên, có một vườn
nho tại trong đồng bằng Gít-rê-ên, giáp đền của A-háp, vua Sa-ma-ri.
2.
A-háp nói cùng Na-bốt rằng: Hãy nhường vườn nho của ngươi cho ta, để ta
dùng làm vườn rau; vì nó ở gần bên đền ta. Ta sẽ đổi cho ngươi một vườn
nho tốt hơn; hay là, nếu ngươi thích, ta sẽ cho ngươi bằng bạc.
3.
Nhưng Na-bốt thưa lại với A-háp rằng: Nguyện Ðức Giê-hô-va giữ lấy tôi,
chớ để tôi nhường cho vua cơ nghiệp của tổ phụ tôi!
4. A-háp vào đền
mình, buồn và giận, bởi có lời Na-bốt, người Gít-rê-ên đã nói; vì người đã
nói rằng: Tôi không nhường cho vua cơ nghiệp của tổ tiên tôi. A-háp nằm
trên giường, xây mặt đi, không chịu ăn.
5. Hoàng hậu Giê-sa-bên đến gần
người mà nói rằng: Bởi sao vua có lòng buồn rầu và không chịu ăn?
6.
Người đáp: Vì ta có nói chuyện với Na-bốt, người Gít-rê-ên rằng: Hãy
nhường vườn nho ngươi cho ta mà lấy tiền, hay là nếu ngươi thích, ta sẽ
đổi cho ngươi một vườn nho khác; song người đáp lại rằng: Tôi không nhường
cho vua vườn nho của tôi.
7. Hoàng hậu Giê-sa-bên bèn nói rằng: Có phải
ông hành quyền vua trên Y-sơ-ra-ên chăng? Hãy chổi dậy, ăn đi và vui lòng.
Tôi sẽ ban cho ông vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên.
8. Giê-sê-bên
viết thơ nhơn danh A-háp, đóng ấn vua, gởi cho các trưởng lão và kẻ cả ở
trong thành Na-bốt và ở cùng người.
9. Trong thơ nói như vầy: Hãy
truyền rao lễ kiêng ăn, rồi đặt Na-bốt ở đầu dân sự;
10. đoạn, hãy để
trước mặt người hai kẻ gian phạm làm chứng cho người, mà rằng: Ngươi có
rủa sả Ðức Chúa Trời và vua. Kế, hãy dẫn người ra khỏi thành, ném đá cho
chết đi.
11. Những người của thành Na-bốt, tức những trưởng lão, và kẻ
cả ở đó, đều làm theo lời Giê-sa-bên truyền dặn trong thơ mà người đã gởi
cho.
12. Họ rao truyền lễ kiêng ăn và đặt Na-bốt ở đầu dân sự.
13.
Bấy giờ, hai tên gian phạm đến ngồi trước mặt Na-bốt, và cáo gian người
tại trước mặt dân sự, mà rằng: Na-bốt có rủa sả Ðức Chúa Trời và vua.
Ðoạn, họ dẫn người ra khỏi thành, ném đá người chết.
14. Họ bèn sai đến
nói với Giê-sa-bên rằng: Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi.
15. Khi
Giê-sa-bên hay rằng Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi, bèn nói cùng A-háp
rằng: Hãy chổi dậy, nhận lấy vườn nho mà Na-bốt, người Gít-rê-ên, đã từ
chối không chịu nhường cho ông để lấy bạc; vì Na-bốt không còn sống nữa:
đã chết rồi.
16. Nghe tin Na-bốt đã chết, A-háp liền đứng dậy đi xuống
vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên, đặng lấy làm của mình.
17. Bấy
giờ, có lời của Ðức Giê-hô-va phán dạy Ê-li, người Thi-ê-se, rằng:
18.
Hãy đứng dậy đi xuống đón A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, ở tại Sa-ma-ri. Kìa,
người ở trong vườn nho của Na-bốt, đặng lấy làm của mình.
19. Ngươi sẽ
nói với người rằng: Ðức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi há đã giết người, và
bây giờ lại chiếm lấy cơ nghiệp nó sao? Ngươi phải tiếp rằng: Ðức
Giê-hô-va phán như vầy: Ở tại chỗ mà chó đã liếm huyết của Na-bốt, thì chó
cũng sẽ liếm chính huyết của ngươi.
20. A-háp bèn nói cùng Ê-li rằng: Ớ
kẻ thù nghịch, ngươi có gặp ta à? Ê-li đáp: Phải, tôi có gặp vua, bởi vì
vua đã bán mình đặng làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va.
21. Vậy thì
ta sẽ giáng họa trên ngươi. Ta sẽ quét sạch ngươi, trừ diệt các nam đinh
của nhà A-háp, bất kỳ kẻ nô lệ hay là người tự do trong Y-sơ-ra-ên;
22.
vì ngươi chọc giận ta, xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, nên ta sẽ làm cho nhà
ngươi giống như nhà của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, và giống như nhà
Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia.
23. Ðức Giê-hô-va cũng phán về Giê-sa-bên,
mà rằng: Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên tại thành lũy Gít-rê-ên.
24. Phàm
người thuộc về nhà A-háp, kẻ nào chết tại trong thành sẽ bị chó ăn; còn kẻ
nào chết trong đồng sẽ bị chim trời rỉa ăn.
25. Quả thật, chẳng có ai
giống như A-háp, buông mình làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, vì bị
hoàng hậu Giê-sa-bên xui giục người.
26. Người làm điều gớm ghiếc quá
độ, mà theo hình tượng, y như dân A-mô-rít làm, là dân Ðức Giê-hô-va đã
đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
27. A-háp nghe lời của Ê-li nói,
bèn xé quần áo mình; lấy bao mặc cho mình và nhịn đói; nằm vấn bao và ở
khiêm nhượng.
28. Bấy giờ, có lời của Ðức Giê-hô-va phán dạy Ê-li,
người Thi-sê-be, mà rằng:
29. Ngươi có thấy thế nào A-háp hạ mình xuống
trước mặt ta chăng? Bởi vì người hạ mình xuống trước mặt ta, ta không
giáng họa trong đời nó; nhưng trong đời con trai nó ta sẽ giáng họa trên
nhà nó.
1 Các Vua 22
chọn
đoạn khác
1. Trong ba năm Sy-ri và Y-sơ-ra-ên không
có giặc.
2. Năm thứ ba, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đi đến cùng vua
Y-sơ-ra-ên.
3. Vua Y-sơ-ra-ên nói với tôi tớ mình rằng: Các ngươi há
chẳng biết rằng Ra-mốt trong Ga-la-át thuộc về chúng ta sao? Chúng ta lại
làm thinh chẳng rứt nó khỏi tay vua Sy-ri sao!
4. Ðoạn, người nói với
Giô-sa-phát rằng: Vua muốn đến cùng ta đặng đánh lấy Ra-mốt trong Ga-la-át
chăng? Giô-sa-phát đáp với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi như ông; dân sự tôi
như dân sự ông; và ngựa tôi như ngựa của ông.
5. Song Giô-sa-phát nói
với vua Y-sơ-ra-ên rằng: Tôi xin ông phải cầu vấn Ðức Giê-hô-va trước
đã.
6. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên nhóm các tiên tri lại, số bốn trăm người, mà
hỏi rằng: Ta có nên đi đánh Ra-mốt tại Ga-la-át, hay là chẳng nên đi?
Chúng đáp rằng: Hãy đi lên; Chúa sẽ phó nó vào tay vua.
7. Nhưng
Giô-sa-phát tiếp rằng: Ở đây còn có đấng tiên tri nào khác của Ðức
Giê-hô-va để chúng ta cầu vấn người ấy chăng?
8. Vua Y-sơ-ra-ên đáp với
Giô-sa-phát rằng: Còn có một người, tên là Mi-chê, con trai của Giêm-la;
nhờ người ấy ta có thể cầu vấn Ðức Giê-hô-va; nhưng tôi ghét người, vì
người chẳng nói tiên tri lành về tôi, bèn là dữ đó thôi. Giô-sa-phát nói
rằng: Xin vua chớ nói như vậy.
9. Vua Y-sơ-ra-ên bèn đòi một hoạn quan
mà bảo rằng: Hãy lập tức mời Mi-chê, con trai của Giêm-la, đến.
10. Vả,
vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc đồ triều
phục, đương ngồi trên một cái ngai tại trong sân đạp lúa, nơi cửa thành
Sa-ma-ri; và hết thảy tiên tri nói tiên tri trước mặt hai vua.
11.
Sê-đê-kia, con trai Kê-na-na, làm lấy những sừng bằng sắt, và nói rằng:
Ðức giê-hô-va phán như vầy: Với các sừng này, ngươi sẽ báng dân Sy-ri cho
đến khi diệt hết chúng nó.
12. Và hết thảy tiên tri đều nói một cách,
mà rằng: Hãy đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át; vua sẽ được thắng, vì Ðức
Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
13. Vả, sứ giả đi mời Mi-chê,
nói cùng người rằng: Những tiên tri đều đồng lòng báo cáo sự lành cho vua;
tôi xin ông cũng hãy lấy lời như lời của họ mà báo cáo điều lành.
14.
Nhưng Mi-chê đáp rằng: Ta chỉ Ðức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ báo
cáo điều gì Ðức Giê-hô-va dặn ta.
15. Khi người đã đến cùng vua, vua
bèn hỏi rằng: Hỡi Mi-chê, chúng ta có nên đi hãm đánh Ra-mốt trong
Ga-la-át, hay là chẳng nên đi? Mi-chê đáp: Hãy đi, vua sẽ được thắng: Ðức
Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.
16. Nhưng vua nói với người
rằng: Biết bao lần ta đã lấy lời thề buộc ngươi chỉ khá nói chơn thật với
ta nhơn danh Ðức Giê-hô-va.
17. Bấy giờ Mi-chê đáp rằng: Tôi thấy cả
Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các núi, như bầy chiên không có người chăn; và
Ðức Giê-hô-va phán rằng: Những kẻ ấy không có chủ; ai nấy khá trở về nhà
mình bình yên.
18. Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng: Tôi há
chẳng có nói với vua người chẳng nói tiên tri lành về việc tôi, bèn là nói
tiên tri dữ sao?
19. Mi-chê lại tiếp: Vậy, hãy nghe lời của Ðức
Giê-hô-va: Tôi thấy Ðức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài và cả cơ binh trên
trời đứng chầu Ngài bên hữu và bên tả.
20. Ðức Giê-hô-va phán hỏi: Ai
sẽ đi dụ A-háp, để người đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át, và ngã chết tại đó?
Người trả lời cách này, kẻ trả lời cách khác.
21. Bấy giờ, có một thần
ra đứng trước mặt Ðức Giê-hô-va mà thưa rằng: Tôi sẽ đi dụ người. Ðức
Giê-hô-va phán hỏi thần rằng: Dụ cách nào?
22. Thần thưa lại rằng: Tôi
sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những tiên tri của người. Ðức
Giê-hô-va phán rằng: Phải, ngươi sẽ dụ người được. Hãy đi và làm như ngươi
đã nói.
23. Vậy bây giờ, kìa, Ðức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối
trong miệng các tiên tri vua, và Ðức Giê-hô-va đã phán sự dữ cho
vua.
24. Bấy giờ, Sê-đê-kia, con trai của Kê-na-na, đến gần Mi-chê, vả
vào má người, mà rằng: Thần của Ðức Giê-hô-va có do đường nào lìa khỏi ta
đặng đến nói với ngươi?
25. Mi-chê đáp: Trong ngày ngươi chạy từ phòng
này đến phòng kia đặng ẩn lánh, thì sẽ biết điều đó.
26. Vua Y-sơ-ra-ên
truyền lịnh rằng: Hãy bắt Mi-chê dẫn đến cho A-môn, quan cai thành, và cho
Giô-ách, con trai của vua,
27. rồi hãy nói rằng: Vua bảo như vầy: Hãy
bỏ tù người này, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về
bình an.
28. Mi-chê tiếp rằng: Nếu vua trở về bình an, thì Ðức
Giê-hô-va không cậy tôi phán. Người lại nói: Hỡi chúng dân! các ngươi khá
nghe ta.
29. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên đi lên Ra-mốt trong Ga-la-át với
Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
30. Vua Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sa-phát rằng:
Tôi sẽ giả dạng ăn mặc, rồi ra trận; còn vua hãy mặc áo của vua. Như vậy,
vua Y-sơ-ra-ên ăn mặc giả dạng mà ra trận.
31. Vả, vua Sỵ-ri đã truyền
lịnh cho ba mươi hai quan coi xe mình rằng: Các ngươi chớ áp đánh ai bất
kỳ lớn hay nhỏ, nhưng chỉ một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.
32. Vậy, khi
các quan coi xe thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: Ấy quả thật là vua
Y-sơ-ra-ên. Chúng bèn đến gần người đặng áp đánh; nhưng Giô-sa-phát kêu la
lên.
33. Khi các quan coi xe thấy chẳng phải vua Y-sơ-ra-ên, thì thối
lại, không đuổi theo nữa.
34. Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung
bắn vua Y-sơ-ra-ên, trúng nhằm người nơi giáp đâu lại. Vua nói cùng kẻ
đánh xe mình rằng: Hãy quay cương lại, dẫn ta ra ngoài hàng quân, vì ta bị
thương nặng.
35. Nhưng trong ngày đó thế trận thêm dữ dội; có người
nâng đỡ vua đứng trong xe mình đối địch dân Sy-ri. Ðến chiều tối vua chết;
huyết của vít thương người chảy xuống trong lòng xe.
36. Lối chiều,
trong hàng quân có rao truyền rằng: Ai nấy hãy trở về thành mình, xứ
mình.
37. Vua băng hà là như vậy; người ta đem thây vua về Sa-ma-ri, và
chôn tại đó.
38. Người ta rửa xe người tại trong ao Sa-ma-ri, là nơi
những bợm buôn hương tắm, và có những chó liếm máu người, y như lời Ðức
Giê-hô-va phán.
39. Các chuyện khác của A-háp, những công việc người
làm, cái đền bằng ngà người cất, và các thành người xây, đều chép trong sử
ký về các vua Y-sơ-ra-ên.
40. Vậy A-háp an giấc cùng tổ phụ mình, và
A-cha-xia, con trai người, kế vị người.
41. Năm thứ tư đời A-háp, vua
Y-sơ-ra-ên, thì Giô-sa-phát con trai A-sa, lên ngôi làm vua Giu-đa.
42.
Giô-sa-phát lên ngôi, tuổi được ba mươi lăm; người cai trị hai mươi lăm
năm tại Giê-ru-sa-lem. Tên của mẹ người là A-xu-ba, con gái của
Si-chi.
43. Người đi theo đường của A-sa, cha người chẳng xây bỏ đi,
song làm điều thiện trước mặt Ðức Giê-hô-va. (22:44) Nhưng người không trừ
bỏ các nơi cao; dân sự còn tế lễ và đốt hương tại trên các nơi cao.
44.
(22:45) Giô-sa-phát và vua Y-sơ-ra-ên ở hòa hảo với nhau.
45. (22:46)
Các chuyện khác của Giô-sa-phát, dõng lực người, những giặc giã người, đều
đã chép trong sử ký về các vua Giu-đa.
46. (22:47) Người trừ diệt những
bợm vĩ-gian còn lại trong xứ từ đời A-sa, cha mình.
47. (22:48) Bấy
giờ, dân Ê-đôm không có vua, có một quan trấn thủ cai trị.
48. (22:49)
Giô-sa-phát đóng một đoàn tàu Ta-rê-si đặng đi Ô-phia chở vàng, nhưng
không đi đến đó được, bởi vì tàu vỡ ra tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
49. (22:50)
A-cha-xia, con trai của A-háp, nói với Giô-sa-phát rằng: Hãy cho phép các
đầy tớ ta đi tàu với các đầy tớ ông. Nhưng Giô-sa-phát không chịu.
50.
(22:51) Giô-sa-phát an giấc với tổ phụ mình, được chôn với họ trong thành
Ða-vít, cha người, và Giô-ram, con trai người, kế vị người.
51. (22:52)
Năm thứ bảy đời Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì A-cha-xia, con trai A-háp,
lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai năm.
52.
(22:53) Người làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, đi theo con đường của
cha và mẹ mình, cùng theo đường của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là
người xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
53. (22:54) Người hầu việc Ba-anh và
thờ lạy nó, chọc giận Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, cứ theo mọi
sự cha người đã làm.