Mục Lục
[1] [2] [3]
[4] [5] [6] [7]
[8] [9] [10] [11]
[12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19]
[20] [21] [22] [23]
[24] [25] [26] [27]
[28] [29] [30] [31]
[32] [33] [34] [35]
[36]
Dân-số Ký 1 chọn
đoạn khác
1. Ngày mồng một
tháng hai, năm thứ hai, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se ở trong hội mạc, tại đồng vắng Si-na-i, mà
rằng:
2. Hãy dựng sổ cả hội dân Y-sơ-ra-ên, theo họ hàng và tông tộc
của họ, cứ đếm từng tên của hết thảy nam đinh,
3. từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được; ngươi và A-rôn sẽ
kê sổ chúng nó tùy theo đội ngũ của họ.
4. Trong mỗi chi phái phải có
một người giúp đỡ các ngươi, tức là người làm tộc trưởng của chi phái
mình.
5. Ðây là tên những người sẽ giúp đỡ các ngươi: Về chi phái
Ru-bên, Ê-lít-su, con trai của Sê-đêu;
6. về chí phái Si-mê-ôn,
Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai;
7. về chi phái Giu-đa,
Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp;
8. về chi phái Y-sa-ca,
Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a;
9. về chi phái Sa-bu-lôn, Ê-li-áp, con
trai của Hê-lôn;
10. về con cháu Giô-sép, nghĩa là về chi phái
Ép-ra-im, Ê-li-sa-ma, con trai của A-mi-hút; về chi phái Ma-na-se,
Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su;
11. về chi phái Bên-gia-min,
A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni;
12. về chi phái Ðan, A-hi-ê-xe, con
trai của A-mi-sa-đai;
13. về chi phái A-se, Pha-ghi-ên, con trai của
Óc-ran;
14. về chi phái Gát, Ê-li-a-sáp, con trai của Ðê-u-ên;
15.
về chi phái Nép-ta-li, A-hi-ra, con trai của Ê-nan.
16. Ðó là những
người được gọi từ trong hội chúng, vốn là quan trưởng của các chi phái tổ
phụ mình, và là quan tướng quân đội Y-sơ-ra-ên.
17. Vậy, Môi-se và
A-rôn nhận lấy các người ấy mà đã được xướng tên;
18. đến ngày mồng một
tháng hai, truyền nhóm cả hội chúng, cứ kể tên từng người từ hai mươi tuổi
sắp lên mà nhập sổ theo họ hàng và tông tộc của họ.
19. Vậy, Môi-se kê
sổ chúng nó tại đồng vắng Si-na-i, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn.
20.
Con cháu Ru-bên, là trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, dòng dõi họ tùy theo họ
hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên của hết thảy nam đinh từ hai mươi
tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Ru-bên đi ra trận
được,
21. số là bốn mươi sáu ngàn năm trăm.
22. Con cháu Si-mê-ôn,
dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên của hết thảy
nam đinh từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái
Si-mê-ôn đi ra trận được,
23. số là năm mươi chín ngàn ba trăm.
24.
Con cháu Gát, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng
tên từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Gát đi ra
trận được,
25. số là bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi.
26. Con
cháu Giu-đa, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng
tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Giu-đa đi
ra trận được,
27. số là bảy mươi bốn ngàn sáu trăm.
28. Con cháu của
Y-sa-ca, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, tứ
hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Y-sa-ca đi ra trận
được,
29. số là năm mươi bốn ngàn bốn trăm.
30. Con cháu của
Sa-bu-lôn, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình cứ kể từng tên,
từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Sa-bu-lôn đi ra
trận được,
31. số là năm mươi bảy ngàn bốn trăm.
32. Về hậu tự
Giô-sép, là con cháu Ép-ra-im, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc
mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi
phái Ép-ra-im đi ra trận được,
33. số là bốn mươi ngàn năm trăm.
34.
Con cháu Ma-na-se, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể
từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái
Ma-na-se đi ra trận được,
35. số là ba mươi hai ngàn hai trăm.
36.
Con cháu Bên-gia-min, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể
từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái
Bên-gia-min đi ra trận được,
37. số là ba mươi lăm ngàn bốn
trăm.
38. Con cháu Ðan, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình,
cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái
Ðan đi ra trận được,
39. số là sáu mươi hai ngàn bảy trăm.
40. Con
cháu A-se, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên,
từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái A-se đi ra trận
được,
41. số là bốn mươi mốt ngàn năm trăm.
42. Con cháu Nép-ta-li,
dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi
tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Nép-ta-li đi ra trận
được,
43. số là năm mươi ba ngàn bốn trăm.
44. Ðó là những người mà
Môi-se, A-rôn, và mười hai quan trưởng Y-sơ-ra-ên kê sổ; mỗi quan trưởng
kê sổ cho tông tộc mình.
45. Thế thì, hết thảy những người trong dân
Y-sơ-ra-ên đã được nhập sổ tùy theo tông tộc mình, từ hai mươi tuổi sắp
lên, tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được,
46. số là sáu
trăm ba ngàn năm trăm năm mươi.
47. Nhưng người Lê-vi, theo chi phái tổ
phụ mình, không kê số chung với những chi phái khác.
48. Vì Ðức
Giê-hô-va có phán cùng Môi-se rằng:
49. Ngươi chớ kê sổ chi phái Lê-vi,
và cũng đừng dựng bộ họ chung với dân Y-sơ-ra-ên;
50. nhưng hãy cắt
phần người Lê-vi coi sóc đền tạm chứng cớ, hết thảy đồ đạc và các món
thuộc về đền tạm. Ấy là người Lê-vi sẽ chuyên-vận đền tạm và hết thảy đồ
đạc nó, cùng sẽ làm công việc về đền tạm và đóng trại ở chung quanh đền
tạm.
51. Khi nào đền tạm dời chỗ, thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi
nào đền tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị
xử tử.
52. Dân Y-sơ-ra-ên mỗi người phải đóng ở trong trại quân mình,
và mỗi trại quân, từng đội ngũ, phải đóng gần bên ngọn cờ mình.
53.
Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh đền tạm chứng cớ, để đừng có sự
giận dữ cùng hội-dân Y-sơ-ra-ên; người Lê-vi sẽ coi sóc đền tạm chứng
cớ.
54. Dân Y-sơ-ra-ên làm y như mọi điều Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se vậy.
Dân-số Ký 2
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn
rằng:
2. Dân Y-sơ-ra-ên mỗi người phải đóng trại gần bên ngọn cờ mình,
ở dưới bảng hiệu của tông tộc mình, đối ngang nhau vây chung quanh hội
mạc.
3. Trại quân Giu-đa sẽ đóng tại hướng đông, về phía mặt trời mọc,
với ngọn cờ và những đội ngũ của mình. Quan-trường của người Giu-đa là
Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp;
4. và quân-dội người, cứ theo kê
sổ, cọng bảy mươi bốn ngàn sáu trăm người.
5. Chi phái Y-sa-ca phải
đóng trại bên Giu-đa; quan trưởng của người Y-sa-ca là Na-tha-na-ên, con
trai Xu-a;
6. và quân đội người, cứ theo kê sổ, cọng năm mươi bốn ngàn
bốn trăm người.
7. Kế đến chi phái Sa-bu-lôn; quan trưởng của người
Sa-bu-lôn là Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn,
8. và quân đội ngươi, cứ
theo kê sổ, cộng năm mươi bảy ngàn bốn trăm người.
9. Vậy, các người đã
kê sổ theo trại quân Giu-đa, từng đội ngũ, cộng một trăm tám mươi sáu ngàn
bốn trăm người. Họ phải đi tiên phong.
10. Ngọn cờ của trại quân Ru-bên
và những đội ngũ mình, phải đóng về hướng nam. Quan trưởng của người
Ru-bên là Ê-li-su, con trai của Sê-đêu;
11. và quân đội người, cứ theo
kê sổ, cộng bốn mươi sáu ngàn năm trăm người.
12. Chi phái Si-mê-ôn
phải đóng trại bên Ru-bên; quan trưởng của người Si-mê-ôn là Sê-lu-mi-ên,
con trai của Xu-ri-ha-đai;
13. và quân đội người, cứ theo kê sổ, cộng
năm mươi chín ngàn ba trăm người.
14. Kế đến chi phái Gát; các quan
trưởng của người Gát là Ê-li-a-sáp, con trai của Rê-u-ên;
15. và quân
đội người, cứ theo kê sổ, cộng bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi
người.
16. Vậy, các người đã kê sổ theo trại quân Ru-bên, từng đội ngũ,
cộng một trăm năm mươi mốt ngàn bốn trăm năm mươi người. Họ phải đi thứ
nhì.
17. Sau ấy, hội mạc sẽ đi với trại quân Lê-vi, ở giữa các trại
quân khác; trại quân Lê-vi sẽ đi theo thứ tự như đã đóng, mỗi người theo
hàng ngũ và theo ngọn cờ mình.
18. Ngọn cờ của trại quân Ép-ra-im và
những quân đội người phải đóng về hướng tây; quan trưởng của người
Ép-ra-im là Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút;
19. và quân đội người, cứ
theo kê sổ, cộng bốn mươi ngàn năm trăm người.
20. Chi phái Ma-na-se
phải đóng trại bên Ép-ra-im; quan trưởng của người Ma-na-se là
Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su:
21. và quân đội người, cứ theo kê
sổ, cộng ba mươi hai ngàn hai trăm người.
22. Kế đến chi phái
Bên-gia-min; quan trưởng của người Bên-gia-min là A-bi-đan, con trai của
Ghi-đeo-ni;
23. và quân đội người, cứ theo kê sổ, cộng ba mươi lăm ngàn
bốn trăm người.
24. Vậy, các người đã kê sổ theo trại quân Ép-ra-im,
từng đội ngũ, cộng một trăm tám ngàn một trăm người. Họ phải đi thứ
ba.
25. Ngọn cờ của trại quân Ðan và những quân đội họ phải đóng về
hướng bắc. Quan trưởng của người Ðan là A-hi-ê-xe, con trai của
A-mi-sa-đai;
26. và quân đội người, cứ theo kê sổ, cộng sáu mươi hai
ngàn bảy trăm người.
27. Chi phái A-se phải đóng trại bên Ðan; quan
trưởng của người A-se là Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran;
28. và quân
đội người, cứ theo kê sổ, cộng bốn mươi mốt ngàn năm trăm người.
29. Kế
đến chi phái Nép-ta-li, quan trưởng của người Nép-ta-li là A-hi-ra, con
trai của Ê-nan;
30. và quân đội người, cứ theo kê sổ, cộng năm mươi ba
ngàn bốn trăm người.
31. Vậy, các người đã kê sổ theo trại quân Ðan,
cộng một trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm người. Họ theo ngọn cờ mình phải
đi hậu binh.
32. Ðó là những người trong dân Y-sơ-ra-ên mà người ta tu
bộ tùy theo tông tộc mình. Trong các trại quân hết thảy người đã kê sổ
từng đội ngũ là sáu trăm ba ngàn năm trăm năm mươi người.
33. Nhưng
người Lê-vi không nhập sổ chung với dân Y-sơ-ra-ên, tùy theo mạng của Ðức
Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
34. Dân Y-sơ-ra-ên y theo mọi điều Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se, bèn đóng trại tùy theo ngọn cờ mình, và mỗi
người ra đi tùy theo họ hàng và tông tộc mình.
Dân-số Ký 3 chọn
đoạn khác
1.
Nầy là dòng dõi của A-rôn và Môi-se, về ngày Ðức Giê-hô-va phán cùng
Môi-se tạo trên núi Si-na-i.
2. Nầy là tên các con trai A-rôn: Trưởng
nam là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
3. Ðó là tên các con
trai A-rôn, tức những thầy tế lễ đã chịu phép xức dầu, và được lập lên để
làm chức tế lễ.
4. Vả, Na-đáp và A-bi-hu đã thác trước mặt Ðức
Giê-hô-va khi hai người dâng một thứ lửa lạ trước mặt Ðức Giê-hô-va tại
trong đồng vắng Si-na-i. Hai người nầy không có con. Còn Ê-lê-a-sa và
Y-tha-ma làm chức tế lễ trước mặt A-rôn, là cha mình.
5. Ðức Giê-hô-va
bèn phán cùng Môi-se rằng:
6. Hãy khiến chi phái Lê-vi lại gần, đặt
trước thầy tế lễ A-rôn, để người Lê-vi sẽ phục sự người.
7. Người Lê-vi
sẽ giữ chức phận của người và chức phận của cả hội chúng về trước hội mạc
mà làm những công việc của đền tạm.
8. Cũng phải coi sóc hết thảy đồ
đạc của hội mạc và mọi vật chi dân Y-sơ-ra-ên giao cho đặng dùng làm công
việc của đền tạm.
9. Vậy, ngươi phải giao người Lê-vi cho A-rôn và cho
các con trai người; vì đã lấy họ từ trong vòng dân Y-sơ-ra-ên mà ban trọn
cho A-rôn rồi.
10. Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con trai người, để
làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.
11. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
12. Nầy, từ giữa dân Y-sơ-ra-ên ta chọn lấy người
Lê-vi thế cho hết thảy con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên; vậy, người Lê-vi
sẽ thuộc về ta.
13. Vì hết thảy con đầu lòng đều thuộc về ta; ngày xưa
khi ta hành hại các con đầu lòng trong xứ Ê-díp-tô, ta đã biệt riêng ra
thánh cho ta hết thảy con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận loài người
hay thú vật; chúng nó đều sẽ thuộc về ta, Ta là Ðức Giê-hô-va.
14. Ðức
Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se tại trong đồng vắng Si-na-i mà rằng:
15.
Hãy kê sổ con cháu Lê-vi, tùy theo tông tộc và họ hàng chúng nó, kê hết
thảy nam đinh từ một tháng sắp lên.
16. Môi-se bèn kê sổ người Lê-vi
theo mạng của Ðức Giê-hô-va, y như Ngài đã phán dặn người vậy.
17. Ðây
là các con trai của Lê-vi kể từng tên: Ghẹt-sôn, Kê-hát, và
Mê-ra-ri.
18. Ðây là tên của các con trai Ghẹt-sôn, tùy theo họ hàng
mình: Líp-ni và Si-mê-y.
19. Ðây là các con trai của Kê-hát tùy theo họ
hàng mình: Am-ram, Dít-sa, Hếp-rôn và U-xi-ên;
20. và các con trai của
Mê-ra-ri, tùy theo họ hàng mình, là: Mách-li và Mu-si. Ðó là những họ hàng
của người Lê-vi, tùy theo tông tộc của họ.
21. Họ hàng Líp-ni và họ
hàng Si-mê-y thuộc về Ghẹt-sôn. Ðó là hai họ hàng của Ghẹt-sôn vậy.
22.
Những người trong họ Ghẹt-sôn được tu bộ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp
lên, số là bảy ngàn năm trăm người.
23. Các họ hàng của Ghẹt-sôn đóng
trại về phía tây, sau đền tạm.
24. Quan trưởng của tông tộc Ghẹt-sôn là
Ê-li-a-sáp, con trai của La-ên.
25. Chức phận của con cháu Ghẹt-sôn
trong hội mạc là coi sóc mọi vật chi can đến đền tạm và Trại, tức là tấm
bong của Trại và bức màn của cửa hội mạc;
26. các bố vi của hành lang,
và bức màn của cửa hành lang bao phủ chung quanh đền tạm và bàn thờ, cùng
dây chạc về các việc của đền tạm.
27. Họ hàng Am-ram, họ hàng Dít-sa,
họ hàng Hếp-rôn và họ hàng U-xi-ên thuộc về Kê-hát. Ðó là những họ hàng
của Kê-hát.
28. Cứ kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là tám ngán
sáu trăm người có chức phận săn sóc nơi thánh.
29. Các họ hàng của con
cháu Kê-hát đóng trại bên hông đền tạm về phía nam.
30. Quan trưởng của
tông tộc Kê-hát là Ê-li-sa-phan, con trai của U-xi-ên.
31. Người Kê-hát
coi sóc hòm bảng chứng, cái bàn, chân đèn, các bàn thờ, và những đồ đạc
của nơi thánh để dùng về việc thờ phượng, luôn với bức màn và các vật chi
can đến.
32. Tổng trưởng của người Lê-vi là Ê-lê-a-sa, con trai của
thầy tế lễ A-rôn, được đặt lên quản trị những người coi sóc nơi
thánh.
33. Họ hàng Mách-li và họ hàng Mu-si thuộc về Mê-ra-ri. Ðó là
hai họ hàng của Mê-ra-ri vậy.
34. Những người trong bọn Mê-ra-ri được
tu bộ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là sáu ngàn hai trăm
người.
35. Quan trưởng của tông tộc Mê-ra-ri là Xu-ri-ên, con trai của
A-bi-hai. Con cháu Mê-ra-ri đóng trại bên hông đền tạm về phía bắc,
36.
có phần coi sóc các tấm ván của đền tạm, cây xà ngang, trụ, lỗ trụ, những
đồ đạc, và mọi việc thuộc về đó,
37. những trụ ở chung quanh hành lang
và lỗ trụ, những nọc và dây chạc của trụ.
38. Những người đóng trại
trước đền tạm về phía đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc, là
Môi-se, A-rôn và các con trai người, có chức phận săn sóc nơi thánh thế
cho dân Y-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.
39. Hết thảy người
Lê-vi mà Môi-se và A-rôn vâng mạng Ðức Giê-hô-va tu bộ, tùy theo họ hàng
của họ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là hai mươi hai ngàn
người.
40. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy kê sổ hết
thảy con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, từ một tháng sắp lên, và hãy dựng
sổ tên chúng nó.
41. Ta là Ðức Giê-hô-va. Ngươi phải chọn lấy cho ta
người Lê-vi thế cho các con trưởng nam trong dân Y-sơ-ra-ên; cũng phải bắt
súc vật của người Lê-vi thế cho mọi con súc vật đầu lòng của dân
Y-sơ-ra-ên.
42. Vậy, Môi-se kê sổ các con trưởng nam của dân
Y-sơ-ra-ên, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn người.
43. Hết thảy những
con trưởng nam kể từng tên, từ tuổi một tháng sắp lên, theo sự kê sổ họ,
là hai mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi ba người.
44. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
45. Hãy chọn lấy những người Lê-vi thế cho hết thảy
con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, và súc vật của người Lê-vi thế cho súc
vật của dân Y-sơ-ra-ên; vậy, các người Lê-vi sẽ thuộc về ta. Ta là Ðức
Giê-hô-va.
46. Còn về sự chuộc lại con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên,
kê sổ hơn số người Lê-vi hai trăm bảy mươi ba,
47. thì ngươi phải thâu
mỗi người năm siếc-lơ, tùy theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ là hai chục
ghê-ra.
48. Ngươi phải giao bạc cho A-rôn và các con trai người; ấy là
bạc chuộc lại những con trưởng nam trổi hơn.
49. Vậy, Môi-se thâu bạc
chuộc lại những con trưởng nam trổi hơn số người Lê-vi đã chuộc
lại.
50. Bạc mà người thâu về những con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên,
cộng được một ngàn ba trăm sáu mươi lăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi
thánh.
51. Môi-se vâng mạng Ðức Giê-hô-va, giao bạc chuộc lại cho A-rôn
và các con trai người, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
Dân-số Ký 4
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn
rằng:
2. Trong người Lê-vi hãy dựng sổ các con cháu Kê-hát, tùy theo họ
hàng và tông tộc của chúng nó,
3. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm
mươi, tức là hết thảy người nào có thể giúp công vào hội mạc.
4. Nầy sẽ
là phần việc của con cháu Kê-hát tại trong hội mạc. Họ sẽ coi sóc nơi chí
thánh.
5. Khi nào dời trại quân đi, A-rôn và các con trai người sẽ đến
gỡ bức màn mà bao lấy hòm bảng chứng;
6. đoạn, đắp lên một tấm phủ bằng
da cá nược, trải trên một tấm nỉ toàn bằng màu điều xanh và xỏ đòn khiêng
vào.
7. Cũng trải một tấm nỉ màu điều xanh trên cái bàn về bánh trần
thiết; ở trên bàn thì sắp đĩa, chén, tộ và chậu về những lễ quán; bánh
hằng trần thiết cũng sẽ có ở trên nữa.
8. Rồi trải trên các vật đó một
tấm nỉ màu đỏ sặm, đắp một tấm phủ bằng da cá nược và xỏ đòn khiêng
vào.
9. Cũng phải lấy một tấm nỉ màu điều xanh mà đậy chân đèn thắp,
các thếp đèn, kéo hớt tim, đồ đựng tro, và các bình dầu mà người ta dùng
về chân đèn.
10. Rồi để chân đèn và hết thảy đồ phụ tùng trong một tấm
phủ bằng da cá nược, để lên trên cái sề.
11. Họ phải trải trên bàn thờ
bằng vàng một tấm nỉ màu điều xanh và đắp một tấm phủ bằng da cá nược rồi
xỏ đòn khiêng vào.
12. Lại, cũng phải lấy hết thảy đồ đạc dùng về công
việc nơi thánh, để trong một tấm nỉ màu điều xanh, rồi đắp một tấm phủ
bằng da cá nược và để lên trên cái sề.
13. Phải hốt tro của bàn thờ,
trải ở trên một tấm nỉ màu đỏ điều,
14. để lên trên hết thảy đồ đạc
dùng về công việc của bàn thờ, tức là những lư hương, nĩa, và, chén, cùng
những đồ phụ tùng của bàn thờ. Rồi đắp trên bàn thờ một tấm phủ bằng da cá
nược và xỏ đòn khiêng vào.
15. Sau khi A-rôn và các con trai người đã
đậy-điệm nơi thánh và các đồ đạc thánh xong, khi dời trại quân đi, thì các
con cháu Kê-hát phải đến đặng khiêng các đồ đạc đó; họ chẳng nên đụng vào
những vật thánh, e phải chết chăng. Trong hội mạc, ấy là đồ mà các con
cháu Kê-hát phải khiêng đi.
16. Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn,
sẽ coi về dầu thắp đèn, hương-liệu, của lễ chay hằng hiến, dầu xức, cả đền
tạm, và hết thảy vật chi ở trong nơi thánh với đồ phụ tùng của nơi
thánh.
17. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:
18. Hãy
làm thể nào cho tông tộc Kê-hát chớ bị truất khỏi chi phái Lê-vi,
19.
và hãy làm điều nầy cho chúng nó, để khi đến gần nơi chí thánh, chúng nó
được sống, chẳng phải chết: A-rôn và các con trai người phải đến cắt công
việc cho mỗi người, và đồ chi họ phải khiêng đi.
20. Dẫu một lát, chúng
nó chớ nên vào đặng xem những vật thánh, e phải chết chăng.
21. Ðức
Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
22. Cũng hãy dựng sổ các con cháu
Ghẹt-sôn, tùy theo tông tộc và họ hàng họ.
23. Từ ba mươi tuổi sắp lên
cho đến năm mươi, ngươi khá kê sổ hết thảy những người nào có thể làm công
việc trong hội mạc.
24. Nầy là chức việc của các họ hàng Ghẹt-sôn, hoặc
phải làm hoặc phải khiêng đồ:
25. họ sẽ mang những tấm màn của đền tạm
và hội mạc, tấm bong của hội mạc, tấm lá-phủ bằng da cá nược ở trên, và
bức màn của cửa hội mạc;
26. các bố vi của hành lang ở chung quanh đền
tạm và bàn thờ, bức màn của cửa hành lang, những dây chạc, và hết thảy đồ
dùng về các vật đó, cùng làm các công việc về những món ấy.
27. Hết
thảy công việc của con cháu Ghẹt-sôn, món chi họ phải khiêng đi, và việc
chi họ phải làm điều sẽ theo lịnh A-rôn và các con trai người chỉ biểu;
người phải giao cho họ coi sóc mọi món chi phải khiêng đi.
28. Trong
hội mạc, ấy là công việc của các họ hàng con cháu Ghẹt-sôn. Họ sẽ giữ chức
phận mình dưới quyền cai trị của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ
A-rôn.
29. Ngươi phải kê sổ con cháu Mê-ra-ri, tùy theo họ hàng và tông
tộc của họ,
30. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức là hết
thảy người nào có thể giúp công vào hội mạc.
31. Về các công việc của
con cháu Mê-ra-ri trong hội mạc, nầy là vật họ phải coi sóc và khiêng đi:
những tấm ván của đền tạm, các xà ngang, trụ, lỗ trụ,
32. các trụ chung
quanh hành lang và lỗ trụ, nọc, dây chạc, cùng hết thảy đồ đạc và các vật
chi dùng về việc đó; các ngươi sẽ kê sổ từng tên những vật chi họ phải coi
sóc và khiêng đi.
33. Ðó là hết thảy việc của các họ hàng Mê-ra-ri, về
những công việc trong hội mạc mà họ phải làm ở dưới quyền cai trị của
Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.
34. Vậy, Môi-se, A-rôn và những
hội trưởng kê sổ con cháu Kê-hát, tùy theo họ hàng và tông tộc của
họ,
35. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi, tức là hết thảy người
nào có thể giúp công trong hội mạc;
36. và những người mà người ta kê
sổ, tùy theo họ hàng mình, cộng được hai ngàn bảy trăm năm mươi.
37. Ðó
là những người của các họ hàng Kê-hát đã bị kê sổ, tức là hết thảy người
hầu việc trong hội mạc mà Môi-se và A-rôn kê sổ, y theo mạng của Ðức
Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dạy.
38. Còn con cháu của Ghẹt-sôn đã bị
kê sổ, tùy theo họ hàng và tông tộc của họ,
39. từ ba mươi tuổi sắp lên
cho đến năm mươi, tức là hết thảy người có thể giúp công trong hội
mạc,
40. cộng được hai ngàn sáu trăm ba mươi.
41. Ðó là những người
về các họ hàng con cháu Ghẹt-sôn đã bị kê sổ, tức là mọi người hầu việc
trong hội mạc mà Môi-se và A-rôn tu bộ y theo mạng của Ðức
Giê-hô-va.
42. Còn những người về họ hàng con cháu Mê-ra-ri đã bị kê
sổ, tùy theo họ hàng và tông tộc của họ,
43. từ ba mươi tuổi sắp lên
cho đến năm mươi, tức là mọi người có thể giúp công trong hội mạc,
44.
cộng được ba ngàn hai trăm.
45. Ðó là những người về các họ hàng con
cháu Mê-ra-ri đã bị kê sổ. Môi-se và A-rôn lấy bộ dân, y theo mạng của Ðức
Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dạy.
46. Hết thảy những kẻ trong người
Lê-vi mà Môi-se, A-rôn, và các quan trưởng Y-sơ-ra-ên tu bộ, tùy theo họ
hàng và tông tộc của họ,
47. từ ba mươi tuổi sắp lên cho đến năm mươi,
tức là mọi người đến đặng hầu việc và khiêng đồ trong hội mạc,
48. cộng
được tám ngàn năm trăm tám mươi.
49. Người ta tu bộ người Lê-vi tùy
theo mạng của Ðức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dạy, cắt phần cho mỗi
người việc mình phải làm, và vật chi mình phải khiêng đi; người ta tu bộ
dân tùy theo lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se vậy.
Dân-số Ký 5
chọn đoạn khác
1. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy biểu
dân Y-sơ-ra-ên đuổi ra ngoài trại quân hết thảy người phung, người có bịnh
bạch trược, và người vì cớ đụng đến một xác chết nào đã bị ô uế.
3. Bất
luận nam hay nữ, các ngươi phải đuổi họ ra ngoài trại quân, hầu cho họ
không làm cho trại quân bị ô uế, là nơi ta ngự ở trong.
4. Dân
Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy, đuổi họ ra khỏi trại quân, y như Ðức Giê-hô-va
đã truyền lịnh cho Môi-se vậy.
5. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se
rằng:
6. Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Khi một người nam hay nữ
phạm một trong những tội người ta thường phạm, cho đến can phạm cùng Ðức
Giê-hô-va, và vì cớ đó phải mắc tội,
7. thì người ấy phải xưng tội mình
đã phạm ra, và trả tang vật lại đủ, và thêm một phần năm giá vật mà giao
cho người mình đã mắc tội cùng.
8. Nếu người nầy không còn, và không bà
con nào để lãnh tang vật đó lại, thì vật ấy sẽ về Ðức Giê-hô-va, tức là về
thầy tế lễ, ngoại trừ con chiên đực về lễ chuộc tội mà thầy tế lễ sẽ dùng
đặng chuộc tội cho người mắc tội đó.
9. Phàm lễ vật chi biệt riêng ra
thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho thầy tế lễ, đều sẽ thuộc về người.
10.
Những vật biệt riêng ra thánh mà mỗi người dâng sẽ thuộc về người; vật chi
mỗi người ban cho thầy tế lễ, chắc sẽ thuộc về người vậy.
11. Ðức
Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
12. Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên
rằng: Nếu một người đàn bà lỗi đạo và phạm tội bất chánh cùng
chồng,
13. nếu có một người nam gian dâm cùng nàng mà việc nhẹm khuất
mắt chồng; nếu nàng bị ô uế kín nhiệm, không có chứng cớ đối cùng nàng, và
nàng không bị bắt tại trận;
14. nếu tánh ghen phát nơi người chồng ghen
vợ mình, hoặc đã thật bị ô uế, hoặc không có bị ô uế,
15. thì người nầy
phải dẫn vợ mình đến trước mặt thầy tế lễ, và vì nàng đem theo một phần
mười ê-pha bột mạch nha dùng làm của tế lễ. Người chớ nên chế dầu vào, và
cũng chẳng nên bỏ nhũ hương lên trên, vì là một của lễ chay về sự ghen
tương, một của lễ chay kỷ niệm đặng nhắc tội gian ác.
16. Thầy tế lễ sẽ
biểu người nữ đến gần, đứng trước mặt Ðức Giê-hô-va.
17. Kế đó thầy tế
lễ lấy nước thánh đổ vào chậu đất, hốt bụi ở trên đất của đền tạm mà bỏ
trong nước.
18. Ðoạn, thầy tế lễ phải biểu người nữ đứng trước mặt Ðức
Giê-hô-va, lột trần đầu nàng, để của lễ kỷ niệm trên lòng bàn tay nàng,
nghĩa là của lễ chay về sự ghen tương; và thầy tế lễ phải có nước đắng
giáng rủa sả trong tay mình.
19. Thầy tế lễ phải bắt người nữ thề, và
nói cùng nàng rằng: Nếu chẳng một người nam nào nằm cùng ngươi, và nếu
đương dưới quyền chồng ngươi không có lỗi đạo và không bị ô uế, thì chẳng
phải mắc một điều hại nào của nước đắng giáng rủa sả nầy.
20. Còn nếu
đương dưới quyền chồng, mà ngươi lỗi đạo; nếu ngươi bị ô uế, và nếu một
người nào khác hơn chồng đã nằm cùng ngươi
21. bấy giờ thầy tế lễ phải
bắt người nữ lấy một lời thề trù ẻo mà thề, và nói cùng nàng rằng: Cầu Ðức
Giê-hô-va khiến cho ngươi trở nên một mầm rủa sả và trù ẻo giữa vòng dân
sự ngươi, làm cho ngươi ốm lòi hông và phình bụng lên;
22. nước đắng
giáng rủa sả nầy khá chun vào ruột gan làm cho bụng ngươi phình lên và ốm
lòi hông. Người nữ sẽ nói rằng: A-men, a-men!
23. Kế đó, thầy tế lễ
phải viết các lời trù ẻo nầy trong một cuốn sách, rồi lấy nước đắng bôi
đi.
24. Thầy tế lễ sẽ biểu người nữ uống nước đắng giáng rủa sả, nước
đắng giáng rủa sả sẽ vào trong mình nàng đặng làm cay đắng cho
nàng.
25. Ðoạn, thầy tế lễ sẽ lấy khỏi tay người nữ của lễ chay về sự
ghen tương, đưa qua đưa lại trước mặt Ðức Giê-hô-va và dâng lên trên bàn
thờ.
26. Rồi lấy một nắm của lễ chay kỷ niệm và xông trên bàn thờ; kế
biểu người nữ uống nước đắng.
27. Vả, khi nào thầy tế lễ biểu người
uống nước đắng rồi, nếu quả người có bị ô uế phạm tội bất chánh cùng chồng
mình, thì nước đắng giáng rủa sả sẽ vào mình làm cay đắng cho nàng, bụng
nàng sẽ phình lên, hông nàng ốm lòi, và người nữ nầy sẽ làm một mầm rủa sả
giữa vòng dân sự mình.
28. Còn nếu người nữ không bị ô uế, vẫn thanh
sạch, thì nàng sẽ chẳng bị một điều hại nào, và sẽ sanh con.
29. Ðó là
luật lệ về sự ghen tương khi một người đàn bà, ở dưới quyền chồng mình,
lỗi đạo và bị ô uế;
30. hoặc khi nào tánh ghen phát sanh nơi người
chồng mà ghen vợ mình: người phải đem vợ đến trước mặt Ðức Giê-hô-va, và
thầy tế lễ sẽ làm cho nàng hết thảy điều chi luật lệ nầy truyền
dạy.
31. Người chồng sẽ vô tội, còn người đàn bà đó sẽ mang lấy tội
mình.
Dân-số Ký 6
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se
rằng:
2. Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Bất luận người nam hay nữ,
khi hứa nguyện Na-xi-rê đặng biệt mình riêng ra cho Ðức Giê-hô-va,
3.
thì phải kiêng cữ rượu và vật uống say; chẳng nên uống hoặc giấm rượu,
hoặc giấm của vật uống say; lại cũng chẳng nên uống một thứ nước nào bằng
trái nho, hay là ăn nho tươi, hoặc nho khô.
4. Trọn trong lúc người
biệt mình riêng ra, chớ ăn món chi của nho sanh sản hết, từ hột đến
da.
5. Trọn trong lúc hứa nguyện Na-xi-rê mình, chớ nên dùng dao cạo
đầu; người sẽ nên thánh, và phải để tóc mọc cho đến chừng nào kỳ biệt mình
riêng ra cho Ðức Giê-hô-va đã được mãn.
6. Trọn trong lúc người biệt
mình riêng ra cho Ðức Giê-hô-va chớ đến gần người chết.
7. Người chớ vì
cha hoặc vì mẹ, vì anh hoặc vì chị đã chết, mà làm cho mình bị ô uế, vì
dấu chỉ sự biệt riêng ra cho Ðức Chúa Trời vẫn ở trên đầu người.
8.
Trọn trong lúc hứa nguyện Na-xi-rê, người được biệt ra thánh cho Ðức
Giê-hô-va.
9. Nếu ai chết thình lình gần bên người, làm cho ô uế đầu
mình đã biệt riêng ra thánh, thì phải cạo đầu mình trong ngày được sạch,
tức là ngày thứ bảy;
10. qua ngày thứ tám, người phải đem hai chim cu
hay là hai bò câu con đến cho thầy tế lễ tại cửa hội mạc.
11. Thầy tế
lễ sẽ dâng con nầy làm của lễ chuộc tội, con kia làm của lễ thiêu, và
chuộc tội cho người đã phạm, vì cớ xác chết. Vậy, trong ngày đó người sẽ
biệt đầu mình riêng ra thánh.
12. Thế thì, người phải biệt riêng ra cho
Ðức Giê-hô-va những ngày về nguyện Na-xi-rê mình lại, và dâng một con
chiên đực giáp năm làm của lễ chuộc sự mắc lỗi, và những ngày trước không
kể nữa, vì sự Na-xi-rê mình đã bị ô uế.
13. Nầy là luật lệ về người
Na-xi-rê: Khi nào những ngày Na-xi-rê mình đã mãn, người ta phải đem người
đến tại cửa hội mạc;
14. người phải dâng của lễ mình cho Ðức Giê-hô-va,
tức là một con chiên con giáp năm không tì vít, làm của lễ thiêu, một con
chiên cái giáp năm không tì vít, làm của lễ chuộc tội, và một con chiên
đực không tì vít, làm của lễ thù ân;
15. một giỏ bánh không men bằng
bột lọc, bánh nhỏ tưới dầu, bánh tráng không men thoa dầu, luôn với của lễ
chay và lễ quán cặp theo các lễ kia.
16. Thầy tế lễ sẽ đem những của lễ
nầy đến trước mặt Ðức Giê-hô-va, và dâng của lễ chuộc tội cùng của lễ
thiêu của người;
17. rồi ngoại trừ giỏ bánh không men, dâng luôn con
chiên đực làm của lễ thù ân, cùng dâng của lễ chay và lễ quán của
người.
18. Tại cửa hội mạc, người Na-xi-rê phải cạo đầu mình đã biệt
riêng ra, lấy tóc bỏ vào lửa dưới của lễ thù ân.
19. Sau khi người
Na-xi-rê cạo đầu rồi, thầy tế lễ sẽ lấy cái vai chín của chiên đực, một
cái bánh nhỏ không men trong giỏ, một bánh tráng không men và để trong
lòng hai bàn tay người,
20. rồi đưa qua đưa lại trước mặt Ðức
Giê-hô-va: ấy là một vật thánh về thầy tế lễ với cái o đưa qua đưa lại và
cái giò dâng giơ lên. Kế đó, người Na-xi-rê được phép uống rượu.
21. Ðó
là luật lệ về người Na-xi-rê đã hứa nguyện, và đây là của lễ người phải
dâng cho Ðức Giê-hô-va về nguyện Na-xi-rê mình, ngoại trừ của lễ nào người
có thể dâng thêm. Người phải theo luật lệ về sự Na-xi-rê mình mà làm theo
lời hứa nguyện của mình vậy.
22. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng:
23. Hãy nói cùng A-rôn và các con trai người mà rằng: Các ngươi
phải chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy:
24. Cầu xin Ðức Giê-hô-va
ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi!
25. Cầu xin Ðức Giê-hô-va chiếu
sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi!
26. Cầu xin Ðức
Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi!
27. Họ phải đặt danh
ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vầy, thì ta đây sẽ ban phước cho dân
đó.
Dân-số Ký 7
chọn đoạn khác
1. Khi Môi-se đã dựng xong đền tạm, và đã
xức dầu cùng biệt riêng ra thánh hết thảy đồ đạc của đền tạm, xức dầu và
biệt riêng ra thánh bàn thờ và hết thảy đồ đạc của bàn thờ rồi,
2. thì
các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên, tức là các quan trưởng về những chi phái mà
đã cai trị cuộc tu bộ dân, đều đem dâng lễ vật của mình.
3. Vậy, các
quan trưởng dẫn lễ vật mình đến trước mặt Ðức Giê-hô-va: Sáu xe cộ, hình
như cái kiệu, và mười hai con bò đực, nghĩa là mỗi hai quan trưởng đồng
dâng một xe cộ, và mỗi một người dâng một con bò đực; họ dâng lễ vật đó
trước đền tạm.
4. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy thâu
nhận các lễ vật của những người nầy, để dùng vào công việc hội mạc; và hãy
giao cho người Lê-vi,
5. tức là cho mọi người tùy theo chức phận
mình.
6. Vậy, Môi-se bèn nhận lấy các xe cộ và những bò đực, giao cho
người Lê-vi.
7. Người giao cho con cháu Ghẹt-sôn hai xe cộ và bốn con
bò đực, tùy theo chức phận của họ.
8. Người giao cho con cháu Mê-ra-ri
bốn xe cộ và tám con bò đực, tùy theo chức phận của họ, có Y-tha-ma, con
trai thầy tế lễ A-rôn, làm quản lý.
9. Nhưng người không có giao chi
cho con cháu Kê-hát, vì họ mắc phần công việc về những vật thánh, và gánh
vác những vật đó trên vai mình.
10. Trong ngày bàn thờ được xức dầu,
các quan trưởng dâng lễ vật mình trước bàn thờ về cuộc khánh thành
nó.
11. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Các quan trưởng phải đem
lễ vật mình về cuộc khánh thành bàn thờ, người nầy thì ngày nay, người kia
thì ngày kia.
12. Người dâng lễ vật mình ngày đầu, là Na-ha-sôn, con
trai của A-mi-na-đáp, thuộc về chi phái Giu-đa.
13. Lễ-vật người là một
cái đĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu,
dùng về của lễ chay;
14. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
15. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
16. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
17. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Na-ha-sôn, con
trai A-mi-na-đáp.
18. Ngày thứ hai, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a,
quan trưởng Y-sa-ca, dâng lễ vật mình.
19. Người dâng một cái đĩa bạc
nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ,
theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về
của lễ chay;
20. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
21. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
22. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
23. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Na-tha-na-ên.
con trai Xu-a.
24. Ngày thứ ba, đến quan trưởng của con cháu Sa-bu-lôn,
là Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn.
25. Lễ-vật của người là một cái dĩa
bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ,
theo siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về
của lễ chay;
26. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
27. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
28. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
29. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Ê-li-áp, con
trai Hê-lôn.
30. Ngày thứ tư, đến quan trưởng của con cháu Ru-bên, là
Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
31. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng
một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo
siếc-lơ của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ
chay;
32. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
33.
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về
của lễ thiêu;
34. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
35. và về
của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm
con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
36.
Ngày thứ năm, đến quan trưởng của con cháu Si-mê-ôn, là Sê-lu-mi-ên, con
trai Xu-ri-ha-đai.
37. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc nặng một
trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ, theo siếc-lơ
của nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về của lễ
chay;
38. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc thơm;
39.
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp năm, dùng về
của lễ thiêu;
40. một con dê đực dùng về của lễ chuộc tội;
41. và về
của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực, và năm
con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Sê-lu-mi-ên, con trai
Xu-ri-ha-đai.
42. Ngày thứ sáu, đến quan trưởng của con cháu Gát, là
Ê-li-a-sáp, con trai Ðê-u-ên.
43. Lễ-vật của người là một cái đĩa bạc
nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ,
theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về
của lễ chay;
44. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
45. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
46. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
47. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Ê-li-a-sáp,
con trai Ðê-u-ên.
48. Ngày thứ bảy, đến quan trưởng của con cháu
Ép-ra-im, là Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút.
49. Lễ-vật của người là một
cái đĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu,
dùng về của lễ chay;
50. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
51. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
52. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
53. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Ê-li-sa-ma,
con trai A-mi-hút.
54. Ngày thứ tám, đến quan trưởng của con cháu
Ma-na-se, là Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su.
55. Lễ-vật của người là
một cái đĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy
chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi
dầu, dùng về của lễ chay;
56. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy
thuốc thơm;
57. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con
giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
58. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
59. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Ga-ma-li-ên,
con trai Phê-đát-su.
60. Ngày thứ chín, đến quan trưởng của con cháu
Bên-gia-min, là A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni.
61. Lễ-vật của người là
một cái đĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy
chục siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi
dầu, dùng về của lễ chay;
62. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy
thuốc thơm;
63. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con
giáp năm, dùng về của lễ thiêu;
64. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
65. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của A-bi-đan, con
trai Ghi-đeo-ni.
66. Ngày thứ mười, đến quan trưởng của con cháu Ðan,
là A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai.
67. Lễ-vật của người là một cái đĩa
bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ,
theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu, dùng về
của lễ chay;
68. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
69. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
70. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
71. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của A-hi-ê-xe, con
trai A-mi-sa-đai.
72. Ngày thứ mười một, đến quan trưởng của con cháu
A-se, là Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran.
73. Lễ-vật của người là một
cái đĩa bạc nặng một trăm ba mười siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu,
dùng về của lễ chay;
74. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
75. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
76. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
77. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của Pha-ghi-ên,
con trai Óc-ran.
78. Ngày thứ mười hai, đến quan trưởng của con cháu
Nép-ta-li, là A-hi-ra, con trai Ê-nan.
79. Lễ-vật của người là một cái
đĩa bạc nặng một trăm ba mươi siếc-lơ, một cái chậu bạc nặng bảy chục
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu,
dùng về của lễ chay;
80. một cái chén vàng nặng mười siếc-lơ, đầy thuốc
thơm;
81. một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con giáp
năm, dùng về của lễ thiêu;
82. một con dê đực dùng về của lễ chuộc
tội;
83. và về của lễ thù ân, hai con bò đực, năm con chiên đực, năm
con dê đực, và năm con chiên con giáp năm. Ðó là lễ vật của A-hi-ra, con
trai Ê-nan.
84. Ấy là những lễ vật của các quan trưởng dân Y-sơ-ra-ên
dâng về cuộc khánh thành bàn thờ, khi bàn thờ được xức dầu: Mười hai đĩa
bạc, mười hai chậu bạc, mười hai chén vàng;
85. mỗi cái đĩa bạc nặng
một trăm ba mươi siếc-lơ, và mỗi cái chậu bạc nặng bảy chục siếc-lơ. Tổng
cộng số bạc của các đĩa và chậu là hai ngàn bốn trăm siếc-lơ, theo siếc-lơ
của nơi thánh.
86. Mười hai cái chén vàng đầy thuốc thơm, mỗi cái mười
siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh; tổng cộng số vàng của chén nặng được
một trăm hai mươi siếc-lơ.
87. Tổng cộng số bò đực về của lễ thiêu là
mười hai con, với mười hai con chiên đực, mười hai con chiên con giáp năm
cùng những của lễ chay cặp theo, và mười hai con dê đực dùng về của lễ
chuộc tội.
88. Tổng cộng số bò đực về của lễ thù ân là hai mươi bốn con
với sáu mươi con chiên đực, sáu mươi con dê đực, sáu mươi con chiên con
giáp năm. Ấy là lễ vật dâng về cuộc khánh thành bàn thờ, sau khi bàn thờ
được xức dầu rồi.
89. Khi Môi-se vào hội mạc đặng hầu chuyện cùng Ðức
Giê-hô-va, thì người nghe Tiếng nói cùng mình từ trên nắp thi ân để trên
hòm bảng chứng, ở giữa hai chê-ru-bin, người hầu chuyện cùng Ðức Giê-hô-va
vậy.
Dân-số Ký 8
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se
rằng:
2. Hãy nói cùng A-rôn: Khi nào người đặt các đèn, thì bảy ngọn
đèn phải chiếu trên phía trước chân đèn.
3. A-rôn bèn làm như vậy; đặt
bảy ngọn đèn trên phía trước chân đèn, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
4. Vả, chân đèn đã làm theo cách nầy; làm bằng vàng đánh giát,
cho đến cái chân và những cái hoa đều đánh giát. Ấy vậy, người ta làm chân
đèn theo như kiểu mà Ðức Giê-hô-va đã chỉ cho Môi-se xem.
5. Ðoạn, Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
6. Hãy chọn lấy người Lê-vi ở trong
vòng dân Y-sơ-ra-ên và dọn cho họ được sạch.
7. Nầy là điều ngươi phải
làm cho họ được sạch: Ngươi phải rảy nước rửa tội trên mình họ; họ phải
cạo hết thảy cùng mình, giặt quần áo, và dọn cho mình được sạch.
8.
Ðoạn, họ phải bắt một con bò đực với của lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu cặp
theo; còn ngươi bắt một con bò đực tơ thứ nhì dùng về của lễ chuộc
tội;
9. rồi biểu người Lê-vi đến gần trước hội mạc và nhóm cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên.
10. Vậy, người phải biểu người Lê-vi đến gần trước mặt Ðức
Giê-hô-va, rồi dân Y-sơ-ra-ên sẽ đặt tay trên mình người Lê-vi.
11.
A-rôn sẽ dâng người Lê-vi làm của lễ do phần dân Y-sơ-ra-ên mà đưa qua đưa
lại trước mặt Ðức Giê-hô-va, và họ sẽ được phần làm công việc của Ðức
Giê-hô-va.
12. Ðoạn, người Lê-vi sẽ đặt tay trên đầu hai con bò đực, và
ngươi phải dâng con nầy làm của lễ chuộc tội và con kia làm của lễ thiêu
cho Ðức Giê-hô-va, để làm lễ chuộc tội cho người Lê-vi.
13. Kế đó,
ngươi phải biểu người Lê-vi đứng trước mặt A-rôn và các con trai người,
rồi dâng họ như một của lễ đưa qua đưa lại cho Ðức Giê-hô-va.
14. Như
vậy ngươi sẽ biệt riêng ra người Lê-vi với dân Y-sơ-ra-ên, và người Lê-vi
sẽ thuộc về ta.
15. Sau việc ấy, người Lê-vi sẽ đến đặng làm công việc
của hội mạc. Ấy, ngươi sẽ làm cho họ được sạch và dâng như của lễ đưa qua
đưa lại vậy.
16. Bởi vì, giữa dân Y-sơ-ra-ên người Lê-vi ban trọn cho
ta; ta đã chọn lấy họ về ta thế cho hết thảy con đầu lòng của dân
Y-sơ-ra-ên.
17. Vì chưng hết thảy con đầu lòng trong dân Y-sơ-ra-ên đều
thuộc về ta, bất luận người hay vật; ta đã biệt chúng nó riêng ra cho ta
trong ngày ta hành hại mọi con đầu lòng tại xứ Ê-díp-tô,
18. và ta đã
chọn lấy người Lê-vi thế cho mọi con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
19.
Bởi trong dân Y-sơ-ra-ên ta đã chọn người Lê-vi ban trọn cho A-rôn và các
con trai người, đặng làm công việc của dân Y-sơ-ra-ên ở trong hội mạc,
cùng làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên, hầu cho khi họ đến gần nơi
thánh, chẳng có tai hại chi trong dân Y-sơ-ra-ên.
20. Vậy, Môi-se,
A-rôn, và cả hội dân Y-sơ-ra-ên, đối cùng người Lê-vi làm hết mọi điều Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se về họ; dân Y-sơ-ra-ên đối cùng người Lê-vi
đều làm như vậy.
21. Người Lê-vi bèn làm cho mình được sạch khỏi tội,
và giặt áo xống mình; rồi A-rôn dâng họ như của lễ đưa qua đưa lại trước
mặt Ðức Giê-hô-va, và làm lễ chuộc tội cho, để dọn họ được sạch.
22.
Sau rồi, người Lê-vi đến đặng làm công việc mình trong hội mạc trước mặt
A-rôn và trước mặt các con trai người. Ðối cùng người Lê-vi, người ta làm
y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se về họ.
23. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se rằng:
24. Nầy là lệ định về người Lê-vi: Từ hai mươi
lăm tuổi sắp lên, người Lê-vi phải đến nhập ban trong công việc của hội
mạc.
25. Nhưng đến năm mươi tuổi, người sẽ ra ban, chẳng làm công việc
nữa;
26. người phải cứ giúp đỡ anh em mình trong hội mạc, coi sóc việc
chi đã giao cho, nhưng không nên làm công việc nữa. Ngươi phải đối cùng
người Lê-vi mà làm như vậy về chức phận của họ.
Dân-số Ký 9 chọn
đoạn khác
1.
Tháng giêng năm thứ hai, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Ðức Giê-hô-va lại
phán cùng Môi-se trong đồng vắng Si-na-i rằng:
2. Dân Y-sơ-ra-ên phải
giữ lễ Vượt-qua theo kỳ nhất định.
3. Các ngươi phải giữ lễ đó theo kỳ
nhất định, tức là ngày mười bốn tháng nầy, vào buổi chiều tối; các ngươi
phải làm theo hết thảy lệ định và luật pháp về lễ đó.
4. Vậy, Môi-se
nói cùng dân Y-sơ-ra-ên để họ giữ lễ Vượt-qua.
5. Dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ
Vượt-qua trong tuần tháng giêng, ngày mười bốn, vào buổi chiều tối, tại
đồng vắng Si-na-i, làm y mọi điều Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
6.
Vả, có mấy người vì cớ xác chết mà bị ô uế, không được giữ lễ Vượt-qua
trong ngày đó, bèn đến trước mặt Môi-se và A-rôn,
7. mà thưa cùng
Môi-se rằng: Chúng tôi bị lây ô uế vì xác chết của loài người; sao tại
trong dân Y-sơ-ra-ên chúng tôi phải bị cất phần dâng của lễ cho Ðức
Giê-hô-va theo kỳ đã chỉ?
8. Môi-se đáp rằng: Hãy đợi để ta biết điều
Ðức Giê-hô-va sẽ truyền dạy về các ngươi.
9. Ðức Giê-hô-va bèn phán
cùng Môi-se rằng:
10. Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một người
trong vòng các ngươi hay là trong vòng hậu đại các ngươi bị ô uế vì cớ xác
chết, hoặc mắc đi xa, thì cũng buộc phải giữ lễ Vượt-qua cho Ðức
Giê-hô-va.
11. Mấy người đó phải giữ lễ nầy ngày mười bốn tháng hai,
vào buổi chiều tối, ăn bánh không men cùng rau đắng,
12. chớ nên để chi
còn dư lại đến sáng lai, và cũng chẳng nên bẻ gãy những xương; phải giữ
theo mọi luật lệ về lễ Vượt-qua vậy.
13. Nhưng còn ai tinh sạch và
không có đi xa, nếu chẳng giữ lễ Vượt-qua thì sẽ bị truất khỏi dân sự
mình: vì người ấy chẳng dâng của lễ cho Ðức Giê-hô-va trong kỳ nhất định;
người sẽ mang lấy tội mình.
14. Khi một khách ngoại bang kiều ngụ giữa
các ngươi mà muốn giữ lễ Vượt-qua cho Ðức Giê-hô-va, thì phải giữ theo lệ
định và luật pháp về lễ Vượt-qua. Ðồng có một luật lệ cho các ngươi, cho
khách ngoại bang, và cho người nào sanh tại trong xứ.
15. Vả, ngày
người ta dựng đền tạm, thì trụ mây bao phủ đền tạm và Trại chứng cớ; ban
chiều dường có một vầng lửa ở trên đền tạm cho đến sáng mai.
16. Hằng
có như vậy; ban ngày trụ mây bao phủ đền tạm, và ban đêm giống như có
lửa.
17. Mỗi khi trụ mây cất lên khỏi Trại, thì dân Y-sơ-ra-ên ra đi;
trong nơi nào trụ mây dừng lại, thì dân Y-sơ-ra-ên hạ trại ở đó.
18.
Dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo mạng Ðức Giê-hô-va, và hạ trại theo mạng Ðức
Giê-hô-va. Trọn trong lúc trụ mây ngự trên đền tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên cứ
đóng trại.
19. Khi nào trụ mây ngự lâu trên đền tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên
vâng theo mạng Ðức Giê-hô-va, chẳng hề ra đi.
20. Nhưng khi nào trụ mây
ngự ít ngày trên đền tạm, thì dân Y-sơ-ra-ên cứ vâng theo mạng Ðức
Giê-hô-va mà hạ trại và ra đi.
21. Khi trụ mây ngự tại đó từ buổi chiều
đến sáng mai, và khi đến sáng mai trụ mây cất lên, thì ra đi; không cứ
ngày hay đêm trụ mây cất lên, thì họ ra đi.
22. Trụ mây ngự trên đền
tạm hoặc hai ngày, hoặc một tháng, hoặc lâu hơn nữa, thì dân Y-sơ-ra-ên cứ
đóng trại, không hề ra đi; nhưng khi trụ mây cất lên, thì họ ra đi.
23.
Dân Y-sơ-ra-ên hạ trại và ra đi tùy theo mạng Ðức Giê-hô-va; họ theo
chương trình của Ðức Giê-hô-va, tùy mạng Ngài đã cậy Môi-se mà truyền
cho.
Dân-số Ký 10
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng:
2. Hãy làm hai ống loa bằng bạc, đánh giát, dùng cho ngươi để
nhóm hiệp hội chúng và truyền cho các trại quân ra đi.
3. Khi nào người
ta thổi loa, toàn hội chúng sẽ nhóm lại gần bên ngươi, tại cửa hội
mạc.
4. Nếu người ta thổi chỉ một ống loa, thì các quan trưởng, tức là
các quan tướng đội-quân Y-sơ-ra-ên phải nhóm lại gần bên ngươi;
5. khi
các ngươi thổi tiếng vang, thì những trại quân ở về hướng đông phải ra
đi.
6. Khi các ngươi thổi tiếng vang lần thứ nhì, thì những trại quân ở
về hướng nam phải ra đi; người ta sẽ thổi tiếng vang khi nào các trại quân
phải ra đi vậy.
7. Khi nhóm hội chúng, các ngươi phải thổi, nhưng đừng
thổi tiếng vang.
8. Các con trai A-rôn, là những thầy tế lễ, sẽ thổi
những ống loa. Từ đời nầy sang đời kia, ấy sẽ là một lệ định đời đời cho
các ngươi.
9. Khi nào trong xứ các ngươi phải ra chiến trận cùng kẻ thù
nghịch xông đánh mình, thì phải thổi loa tiếng vang; Giê-hô-va, Ðức Chúa
Trời của các ngươi sẽ nhớ lại các ngươi, và các ngươi sẽ được giải thoát
khỏi kẻ thù nghịch.
10. Trong những ngày vui mừng, trong các lễ trọng
thể và đầu tháng của các ngươi, thì phải thổi loa khi dâng những của lễ
thiêu và của lễ thù ân mình; loa sẽ dùng làm kỷ niệm trước mặt Ðức Chúa
Trời của các ngươi. Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi.
11.
Xảy trong ngày hai mươi tháng hai, năm thứ hai, thì trụ mây cất lên khỏi
đền tạm chứng cớ.
12. Dân Y-sơ-ra-ên, theo chương trình đã định, ra từ
đồng vắng Si-na-i, và trụ mây dừng lại tại đồng vắng Pha-ran.
13. Vậy,
dân Y-sơ-ra-ên vâng mạng của Ðức Giê-hô-va cậy Môi-se truyền cho, mà ra đi
lần thứ nhất.
14. Ngọn cờ của trại quân Giu-đa, tùy theo các đội ngũ
mình, đi trước. Na-ha-sôn, con trai A-mi-na-đáp, thống lãnh quân đội
Giu-đa.
15. Na-tha-na-ên, con trai Xu-a, thống lãnh quân đội của chi
phái Y-sa-ca.
16. Ê-li-áp, con trai Hê-lôn, thống lãnh quân đội của chi
phái Sa-bu-lôn.
17. Bấy giờ, đền tạm đã tháo dỡ, rồi con cháu Ghẹt-sôn
và con cháu Mê-ra-ri khiêng đền tạm, bèn ra đi.
18. Kế đó, ngọn cờ của
trại quân Ru-bên ra đi, tùy theo các đội ngũ mình. Ê-lít-su, con trai
Sê-đêu, thống lãnh quân đội Ru-bên.
19. Sê-lu-mi-ên, con trai
Xu-ri-ha-đai, thống lãnh quân đội của chi phái Si-mê-ôn.
20. Ê-li-sáp,
con trai Ðê-u-ên, thống lãnh quân đội của chi phái Gát.
21. Bấy giờ,
các người Kê-hát khiêng những vật thánh ra đi; người ta dựng đền tạm lên
đương lúc đợi họ đến.
22. Ðoạn, ngọn cờ của trại quân con cháu Ép-ra-im
ra đi, tùy theo đội ngũ mình. Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, thống lãnh
quân đội Ép-ra-im.
23. Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, thống lãnh
quân đội của chi phái Ma-na-se.
24. A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni,
thống lãnh quân đội của chi phái Bên-gia-min.
25. Rốt lại, ngọn cờ của
trại quân Ðan ra đi, tùy theo các đội ngũ mình; nó làm hậu binh của các
trại quân khác. A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, thống lãnh quân đội
Ðan.
26. Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran, thống lãnh quân đội của chi phái
A-se.
27. A-hi-ra, con trai Ê-nan, thống lãnh quân đội của chi phái
Nép-ta-li.
28. Ðó là thứ tự về sự cất binh đi của dân Y-sơ-ra-ên, tùy
theo các đội ngũ mình; ấy, họ ra đi là như vậy.
29. Vả, Môi-se nói cùng
Hô-báp, con trai Rê-u-ên, người Ma-đi-an, tức là anh vợ mình, mà rằng:
Chúng tôi đi đến xứ mà Ðức Giê-hô-va có phán rằng: Ta sẽ ban xứ đó cho các
ngươi. Xin anh hãy đi cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ đãi anh tử tế; vì Ðức
Giê-hô-va có hứa ban ơn cho dân Y-sơ-ra-ên.
30. Hô-báp đáp rằng: Tôi
không đi đâu, nhưng tôi sẽ đi về xứ sở tôi, là nơi bà con tôi.
31.
Môi-se lại nói rằng: Tôi xin anh chớ bỏ chúng tôi, vì anh biết nơi nào
trong đồng vắng chúng tôi có thế hạ trại được; anh sẽ dường như con mắt
cho chúng tôi vậy.
32. Nếu anh đi cùng chúng tôi, thì chúng tôi sẽ làm
cho anh hưởng ơn lành mà Ðức Giê-hô-va sẽ làm cho chúng tôi.
33. Vậy,
dân Y-sơ-ra-ên ra đi từ núi Ðức Giê-hô-va, đi trong ba ngày đường; hòm
giao ước của Ðức Giê-hô-va đi trước trong lúc ba ngày đường nầy, đặng tìm
cho dân một nơi an nghỉ.
34. Trong lúc ban ngày, khi dân Y-sơ-ra-ên dời
trại quân đi, thì trụ mây của Ðức Giê-hô-va ở trên họ.
35. Khi hòm giao
ước đi, thì Môi-se nói rằng: Hỡi Ðức Giê-hô-va, xin chổi dậy, để kẻ thù
nghịch Ngài bị tản lạc, và kẻ nào ghét Ngài chạy trốn trước mặt
Ngài!
36. Khi người ta để hòm giao ước xuống, thì Môi-se nói rằng: Hỡi
Ðức Giê-hô-va, xin trở lại cùng muôn vàn của Y-sơ-ra-ên!
Dân-số Ký 11
chọn
đoạn khác
1. Vả, dân sự bèn lằm bằm, và điều đó chẳng đẹp tại Ðức
Giê-hô-va. Ðức Giê-hô-va nghe, cơn thạnh nộ Ngài nổi lên, lửa của Ðức
Giê-hô-va cháy phừng phừng giữa dân sự và thiêu hóa đầu cùng trại
quân.
2. Dân sự bèn kêu la cùng Môi-se; Môi-se cầu xin Ðức Giê-hô-va,
thì lửa ngừng lại.
3. Người ta đặt tên chỗ nầy là Tha-bê-ra, vì lửa của
Ðức Giê-hô-va đã cháy giữa dân sự.
4. Bọn dân tạp ở trong dân
Y-sơ-ra-ên sanh lòng tham muốn, đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên lại khóc nữa mà
rằng: Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?
5. Chúng tôi nhớ những cá chúng tôi
ăn nhưng không tại xứ Ê-díp-tô, những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành,
và tỏi.
6. Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết!
Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi.
7. Vả, Ma-na hình như hột ngò, sắc như trân
châu.
8. Dân sự đi tản ra và hốt lấy, rồi nghiền bằng cối xay, hay là
giã bằng cối giã, nấu trong một cái nồi và làm bánh; nếm giống như bánh
nhỏ có pha dầu.
9. Khi ban tối mù sương xuống trên trại quân, thì ma-na
cũng xuống nữa.
10. Vậy, Môi-se nghe dân sự khóc, mỗi người ở trong nhà
mình, tại nơi cửa trại mình: cơn thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va nổi lên phừng
phừng,
11. và Môi-se lấy làm buồn bực về điều đó. Môi-se bèn thưa cùng
Ðức Giê-hô-va rằng: Sao Ngài làm cho tôi tớ Ngài buồn? Sao tôi chẳng được
ơn trước mặt Ngài, và sao Ngài lại chất gánh nặng của hết thảy dân sự nầy
trên mình tôi?
12. Tôi há có thọ thai dân nầy sao? há có sanh đẻ nó
sao? mà Ngài lại phán biểu tôi rằng: Hãy ẵm dân nầy trong lòng người, như
người cha nuôi bồng đứa trẻ bú, cho đến xứ mà Ngài có thề hứa ban cho tổ
phụ của chúng nó.
13. Tôi sẽ có thịt ở đâu đặng phát cho cả dân sự nầy?
bởi vì họ khóc về tôi mà rằng: Hãy cho chúng tôi ăn thịt.
14. Tôi không
thế một mình gánh hết dân sự nầy, vì thật là rất nặng nề cho tôi
quá!
15. Nếu Chúa đãi tôi như vậy, và nếu tôi được ơn trước mặt Chúa,
xin thà giết tôi đi, để tôi không thấy sự khốn nạn tôi!
16. Ðức
Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy nhóm hiệp cho ta bảy mươi người
trong bực trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tức là những kẻ ngươi biết là trưởng lão
và cai quản dân sự; hãy dẫn các người ấy đến hội mạc, đứng tại đó với
ngươi.
17. Ðoạn, ta sẽ ngự xuống, nói chuyện tại đó với ngươi; ta sẽ
lấy Thần cảm ngươi mà ban cho những người đó, để họ chịu gánh nặng về dân
sự với ngươi, và ngươi không phải gánh một mình.
18. Ngươi phải truyền
cho dân sự rằng: Ngày mai phải dọn mình ra thánh, thì các ngươi sẽ ăn
thịt. Vì chưng lỗ tai Ðức Giê-hô-va có nghe các ngươi khóc mà rằng: Ai sẽ
cho chúng tôi ăn thịt, vì chúng tôi lấy làm sung sướng tại xứ Ê-díp-tô,
bởi cớ đó, Ðức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho các ngươi, thì các ngươi sẽ
ăn.
19. Chẳng phải các ngươi sẽ ăn thịt một ngày, hai ngày, năm ngày,
mười ngày hay là hai mươi ngày đâu;
20. nhưng cho đến một tháng trọn,
cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi, và các ngươi ngán đi, vì các ngươi
đã bỏ Ðức Giê-hô-va ở giữa mình, và khóc trước mặt Ngài, mà rằng: Vì sao
chúng tôi đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô?
21. Môi-se thưa rằng: Trong dân sự
tôi đương ở đây, có sáu trăm ngàn người đàn ông, mà Ngài có phán rằng: Ta
sẽ phát thịt cho dân nầy ăn trong một tháng trọn.
22. Người ta há sẽ
giết chiên và bò đến đỗi được đủ cho họ sao? hay là người ta há sẽ gom hết
thảy cá dưới biển đến nỗi được đủ cho họ sao?
23. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Tay của Ðức Giê-hô-va đã vắn lại sao? Ngươi sẽ xem thử
điều ta đã phán cùng ngươi có xảy đến hay chăng.
24. Môi-se bèn đi ra,
thuật lại các lời Ðức Giê-hô-va cho dân sự, rồi nhóm hiệp bảy mươi người
trong bực trưởng lão của dân sự, đặt để xung quanh Trại.
25. Ðức
Giê-hô-va bèn ngự xuống trong mây, phán cùng Môi-se; Ngài lấy Thần cảm
người và ban cho bảy mươi người trưởng lão. Vừa khi Thần ở trên bảy mươi
người trưởng lão, bèn được cảm động nói tiên tri, nhưng không cứ nói
mãi.
26. Có hai người ở lại trong trại quân; một người tên là Ên-đát,
một người tên là Mê-đát, được Thần cảm động, nói tiên tri tại trại quân.
Hai người nầy thuộc về bọn được biên tên, nhưng không có đến hội
mạc.
27. Một đứa trai trẻ chạy thuật lại cùng Môi-se rằng: Ên-đát và
Mê-đát nói tiên tri trong trại quân.
28. Giô-suê, con trai của Nun, là
người hầu việc Môi-se, đáp lại mà rằng: Hỡi Môi-se, chúa tôi, hãy cấm
chúng nó!
29. Môi-se đáp rằng: Ngươi ganh cho ta chăng? Ôi! chớ chi cả
dân sự của Ðức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Ðức Giê-hô-va
ban Thần của Ngài cho họ!
30. Môi-se và mấy người trưởng lão đều lui
vào trại quân.
31. Ðức Giê-hô-va bèn khiến một trận gió nổi từ biển,
dẫn những chim cút đến vải trên trại quân và xung quanh, bên nầy trải ra
dài chừng một ngày đường đi, và bên kia trải ra dài chừng một ngày đường
đi, khỏi mặt đất chừng hai thước bề cao.
32. Dân sự đứng dậy lượm những
cút trong ngày đó, đêm đó và trọn ngày sau; ai lượm ít hơn hết có mười
ô-me; người ta căng nó khắp chung quanh trại quân.
33. Thịt vẫn còn nơi
răng, chưa nhai, thì cơn giận của Ðức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự, hành
dân sự một tai vạ rất nặng.
34. Người ta đặt tên chỗ đó là Kíp-rốt
Ha-tha-va; vì tại đó người ta chôn dân sự sanh lòng tham muốn.
35. Từ
Kíp-rốt Ha-tha-va dân sự đi đến Hát-sê-rốt, rồi ngừng lại tại
đó.
Dân-số Ký 12
chọn
đoạn khác
1. Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về
việc người nữ Ê-thi-ô-bi mà người đã lấy; vì người có lấy một người nữ
Ê-thi-ô-bi làm vợ.
2. Hai người nói rằng: Ðức Giê-hô-va chỉ dùng một
mình Môi-se mà thôi sao? Ngài há không dùng chúng ta mà phán nữa sao? Ðức
Giê-hô-va nghe điều đó.
3. Vả, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi
người trên thế gian.
4. Thình lình Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se,
A-rôn và Mi-ri-am rằng: Cả ba hãy ra đến hội mạc. Cả ba đều đi.
5. Ðức
Giê-hô-va ngự xuống trong trụ mây đứng tại cửa hội mạc, rồi gọi A-rôn và
Môi-se; hai người đều đến.
6. Ngài phán cùng hai người rằng: Hãy nghe
rõ lời ta. Nếu trong các ngươi có một tiên tri nào, ta là Ðức Giê-hô-va sẽ
hiện ra cùng người trong sự hiện thấy, và nói với người trong cơn chiêm
bao.
7. Tôi tớ Môi-se ta không có như vậy, người thật trung tín trong
cả nhà ta.
8. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ
ràng, không lời đố, và người thấy hình Ðức Giê-hô-va. Vậy, các ngươi không
sợ mà nói hành kẻ tôi tớ ta, là Môi-se sao?
9. Như vậy, cơn thạnh nộ
của Ðức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng hai người; Ngài ngự đi.
10. Khi
trụ mây rút khỏi trên đền tạm, thì kìa, Mi-ri-am đã bị phung trắng như
tuyết. A-rôn xây lại phía Mi-ri-am, thấy người đã có bịnh phung.
11.
A-rôn bèn nói cùng Môi-se rằng: Ôi, lạy chúa tôi, xin chớ để trên chúng
tôi tội mà chúng tôi đã dại phạm và đã mắc lấy.
12. Xin chớ để nàng như
một đứa con sảo thịt đã hư hết phân nửa khi lọt ra khỏi lòng mẹ.
13.
Môi-se bèn kêu van cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Ôi, Ðức Chúa Trời! Tôi cầu
khẩn Ngài chữa cho nàng.
14. Ðức Giê-hô-va đáp cùng Môi-se rằng: Nếu
cha nàng nhổ trên mặt nàng, nàng há không mang hổ trong bảy ngày sao? Nàng
phải cầm riêng ngoài trại quân trong bảy ngày, rồi sau sẽ được nhận vào
lại.
15. Ấy vậy, Mi-ri-am bị cầm riêng ngoài trại quân trong bảy ngày,
dân sự không ra đi cho đến chừng nào Mi-ri-am được nhận vào lại.
16.
Sau việc đó, dân sự ra đi từ Hát-sê-rốt, và hạ trại trong đồng vắng
Pha-ran.
Dân-số Ký 13
chọn
đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng:
2. Hãy sai những người đi do thám xứ Ca-na-an, là xứ ta ban cho
dân Y-sơ-ra-ên. Về mỗi một chi phái, các ngươi phải sai một người đi; mỗi
người làm quan trưởng của chi phái mình.
3. Tùy theo mạng Ðức
Giê-hô-va, Môi-se từ đồng vắng Pha-ran sai các người nầy đi; hết thảy là
quan trưởng của dân Y-sơ-ra-ên.
4. Ðây là tên của các người ấy: Về chi
phái Ru-bên, Sam-mua, con trai Xa-cu;
5. về chi phái Si-mê-ôn, Sa-phát,
con trai của Hô-ri;
6. về chi phái Giu-đa, Ca-lép, con trai của
Giê-phu-nê;
7. về chi phái Y-sa-ca, Di-ganh, con trai của
Giô-sép;
8. về chi phái Ép-ra-im, Hô-sê, con trai của Nun;
9. về chi
phái Bên-gia-min, Phan-thi, con trai của Ra-phu;
10. về chi phái
Sa-bu-lôn, Gát-đi-ên, con trai của Sô-đi;
11. về chi phái Giô-sép,
nghĩa là về chi phái Ma-na-se, Ga-đi, con trai của Su-si;
12. về chi
phái Ðan, A-mi-ên, con trai của Ghê-ma-li;
13. về chi phái A-se,
Sê-thu, con trai của Mi-ca-ên;
14. về chi phái Nép-ta-li, Nách-bi, con
trai của Vấp-si;
15. về chi phái Gát, Gu-ên, con trai của Ma-ki.
16.
Ðó là tên những người mà Môi-se sai đi do thám xứ. Vả, Môi-se đặt tên cho
Hô-sê, con trai Nun, là Giô-suê.
17. Vậy, Môi-se sai đi do thám xứ
Ca-na-an, và dặn rằng: Từ đây hãy lên Nam phương, và vào miền núi;
18.
rồi sẽ thấy xứ ra sao, dân sự ở đó nếu mạnh yếu thể nào, nếu số ít hay
nhiều;
19. xứ dân đó ở thế nào, nếu tốt hay xấu; các thành dân đó ở làm
sao, hoặc chỉ những nơi đóng trại hay là đồn lũy;
20. đất ra làm sao,
nếu màu mỡ hay là xấu, có cây cối hay là không. Hãy can đảm và hái lấy
trái cây xứ đó. Bấy giờ nhằm mùa nho sớm.
21. Vậy các người đó đi lên
do thám xứ, từ đồng vắng Xin cho đến Rê-hốp, đi về Ha-mát.
22. Họ bắt
từ hướng Nam đi lên, đến thành Hếp-rôn, là nơi có A-hi-man, Sê-sai và
Tanh-mai, con cái của A-nác. Vả, thành Hếp-rôn đã xây từ bảy năm trước
Xô-an, là thành của xứ Ê-díp-tô.
23. Các người đến khe Ếch-côn, cắt tại
đó một nhành nho có một chùm nho; và hai người khiêng lấy bằng cây sào,
luôn những trái lựu và trái vả.
24. Người ta gọi chỗ nầy là khe
Ếch-côn, vì có chùm nho mà dân Y-sơ-ra-ên đã cắt tại đó.
25. Các người
đi do thám xứ trong bốn mươi ngày trở về.
26. Tới rồi, bèn đến cùng
Môi-se, A-rôn và cả hội dân Y-sơ-ra-ên, trong đồng vắng Pha-ran, tại
Ca-đe, mà thuật lại mọi sự cho hai người và cả hội chúng nghe, cùng đưa
cho xem hoa quả của xứ.
27. Vậy, các người ấy thuật cho Môi-se rằng:
Chúng tôi đi đến xứ mà người đã sai chúng tôi đi; ấy quả thật một xứ đượm
sữa và mật, nầy hoa quả xứ đó đây.
28. Mà, dân sự ở trong xứ nầy vốn
mạnh dạn, thành trì thật vững vàng và rất lớn; chúng tôi cũng có thấy con
cái của A-nác ở đó.
29. Dân A-ma-léc ở miền Nam, dân Hê-tít, dân
Giê-bu-sít và dân A-mô-rít ở trong núi; dân Ca-na-an ở gần biển và dọc dài
theo mé Giô-đanh.
30. Ca-lép bèn làm cho dân sự, đương lằm bằm cùng
Môi-se nín lặng đi, mà nói rằng: Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì
chúng ta thắng hơn được.
31. Nhưng những người đi cùng Ca-lép nói rằng:
Chúng ta không đi lên cự dân nầy được, vì chúng nó mạnh hơn chúng
ta.
32. Trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, các người đó phao phản xứ mình đã do
thám mà rằng: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám, là một xứ nuốt dân
sự mình; hết thảy những người chúng tôi đã thấy tại đó, đều là kẻ hình vóc
cao lớn.
33. Chúng tôi có thấy kẻ cao lớn, tức là con cháu của A-nác,
thuộc về giống giềnh giàng; chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và
họ thấy chúng tôi cũng như vậy.
Dân-số Ký 14 chọn
đoạn khác
1. Cả hội chúng
bèn cất tiếng la lên, và dân sự khóc lóc trong đêm đó.
2. Hết thảy dân
Y-sơ-ra-ên lằm bằm cùng Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói cùng hai người
rằng: Chớ chi chúng tôi đã chết trong xứ Ê-díp-tô, hay là đã chết trong
đồng vắng nầy!
3. Vì cớ nào Ðức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào xứ nầy đặng
bị gươm mà ngã? Vợ và con nhỏ chúng tôi sẽ bị làm một miếng mồi. Về phần
chúng tôi, há chẳng khá trở về xứ Ê-díp-tô hơn sao?
4. Rồi dân sự nói
với nhau rằng: Chúng ta hãy lập lên một quan trưởng, và trở về xứ Ê-díp-tô
đi.
5. Môi-se và A-rôn bèn sấp mình xuống trước mặt cả hội dân
Y-sơ-ra-ên.
6. Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của
Giê-phu-nê, là hai người trong bọn đi do thám xứ, bèn xé áo quần
mình.
7. Hai người nói cùng cả hội dân Y-sơ-ra-ên rằng: Xứ mà chúng tôi
đã đi khắp đặng do thám thật là một xứ rất tốt;
8. nếu Ðức Giê-hô-va
đẹp lòng cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta vào xứ nầy mà ban cho; ấy là
một xứ đượm sữa và mật.
9. Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Ðức
Giê-hô-va, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng
che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Ðức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ
chi.
10. Bấy giờ cả hội chúng nói ném đá hai người nầy, nhưng sự vinh
quang của Ðức Giê-hô-va hiện ra trên hội mạc, trước mặt dân
Y-sơ-ra-ên.
11. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Dân nầy khinh ta
và không tin ta cho đến chừng nào, mặc dầu các phép lạ ta làm giữa chúng
nó?
12. Ta sẽ giáng cho dân sự nầy dịch lệ và tiêu diệt phần cơ nghiệp
của nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn hơn và mạnh hơn
nó.
13. Môi-se thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Dân Ê-díp-tô có hay rằng
Chúa cậy quyền năng Chúa đem dân nầy ra khỏi họ;
14. và có thuật điều
đó cho dân xứ nầy. Ôi Ðức Giê-hô-va! người ta biết rằng Chúa ngự giữa dân
nầy, Chúa hiện ra cho mắt chúng thấy, trụ mây Chúa ở trên dân nầy, và Chúa
đi trước, ban ngày trong một trụ mây, ban đêm trong một trụ lửa.
15.
Nếu Chúa giết hết dân nầy như thể giết một người, thì các nước đã nghe nói
về Chúa sẽ nói rằng:
16. Ðức Giê-hô-va không thể dẫn dân nầy vào xứ mà
Ngài đã thề ban cho; bởi cớ đó, Ngài giết chết chúng nó trong đồng
vắng.
17. Vả, bây giờ, tôi xin quyền năng của Chúa hiện ra cách oai
nghiêm như Chúa đã nói rằng:
18. Ðức Giê-hô-va vốn chậm nóng giận và
đầy ơn; hay xá điều gian ác và tội lỗi; nhưng không kể kẻ có tội là vô
tội, và nhơn tội tổ phụ phạt con cháu trải ba bốn đời.
19. Tôi xin Chúa
tha tội gian ác của dân nầy tùy theo ơn lớn của Chúa, như Chúa đã tha từ
xứ Ê-díp-tô đến đây.
20. Ðức Giê-hô-va đáp rằng: Ta đã tha như lời
ngươi xin.
21. Nhưng ta chỉ sự hằng sống ta mà quả quyết rằng, sự vinh
quang của Ðức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy khắp trái đất!
22. Trong mọi người
đã thấy sự vinh quang ta, phép lạ ta đã làm tại xứ Ê-díp-tô và nơi đồng
vắng, là các ngươi đã thử ta mười lần và đã không nghe lời ta,
23. thì
chẳng một ai sẽ thấy xứ mà ta thề hứa cho tổ phụ chúng nó. Chẳng ai mà đã
khinh ta sẽ thấy xứ đó đâu!
24. Nhưng vì kẻ tôi tớ Ca-lép ta không đồng
lòng cùng chúng nó, theo ta một cách trung tín, thì ta sẽ đem ngươi vào xứ
mà người đã có đi, và dòng dõi ngươi sẽ được xứ làm sản nghiệp.
25. Dân
A-ma-léc và dân Ca-na-an ở trong trũng; ngày mai các ngươi hãy trở lui lại
sau, đi đến đồng vắng về hướng Biển đỏ.
26. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se và A-rôn, mà rằng:
27. Ta sẽ chịu hội chúng hung dữ nầy hay
lằm bằm cùng ta cho đến chừng nào? Ta đã nghe lời lằm bằm của dân
Y-sơ-ra-ên oán trách ta.
28. Hãy nói với dân chúng: Ðức Giê-hô-va nói
rằng: Ta chỉ sự hằng-sống ta mà thề, ta sẽ đãi các ngươi tùy theo lời ta
đã nghe các ngươi nói;
29. những thây các ngươi sẽ ngã nằm trong đồng
vắng nầy. Các ngươi mà người ta đã tu bộ, hết thảy bao nhiêu cũng vậy, từ
hai mươi tuổi sắp lên, là những kẻ đã lằm bằm cùng ta,
30. thì chẳng hề
được vào xứ mà ta đã thề cho các ngươi ở, ngoại trừ Ca-lép, con trai của
Giê-phu-nê, và Giô-suê, con trai của Nun.
31. Nhưng ta sẽ đem vào xứ
những con trẻ của các ngươi mà các ngươi có nói rằng: Chúng nó sẽ bị làm
một miếng mồi; rồi chúng nó sẽ biết xứ các ngươi đã chê bai.
32. Còn
những thây các ngươi sẽ ngã nằm trong đồng vắng nầy.
33. Con cái các
ngươi sẽ chăn chiên nơi đồng vắng trong bốn mươi năm, và sẽ mang hình phạt
vì tội thông dâm của các ngươi, cho đến chừng nào thây của các ngươi đã
ngã rạp hết trong đồng vắng.
34. Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu
ngày, nghĩa là bốn mươi ngày, thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt vì tội
gian ác mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho một
ngày; bấy giờ các ngươi sẽ biết ta đã xây khỏi các ngươi.
35. Ta, Ðức
Giê-hô-va, đã phán: Ta sẽ làm điều nầy cho cả hội chúng hung dữ nầy đã
hiệp lại nghịch cùng ta; chúng nó sẽ bị hao mòn và chết tại trong đồng
vắng nầy.
36. Những người mà Môi-se đã sai đi do thám xứ, khi trở về có
xui cho cả hội chúng lằm bằm cùng Môi-se,
37. và có phao phản xứ, những
người nầy đều bị một tai vạ hành chết trước mặt Ðức Giê-hô-va.
38.
Nhưng trong bọn người đi do thám xứ, chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và
Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, còn sống được.
39. Môi-se thuật lại
những lời nầy cho cả dân Y-sơ-ra-ên; rồi có một sự thảm sầu rất lớn trong
dân sự.
40. Ðoạn, dân sự dậy sớm đi lên chót núi mà nói rằng: Chúng tôi
đây sẽ đi lên tới chỗ Ðức Giê-hô-va đã phán-hứa, vì chúng tôi có phạm
tội.
41. Song Môi-se nói rằng: Sao các ngươi trái mạng Ðức Giê-hô-va?
Sự đó sẽ chẳng may mắn đâu.
42. Chớ đi lên đó, e các ngươi bị quân
nghịch đánh bại chăng; vì Ðức Giê-hô-va không còn ở giữa các ngươi
nữa.
43. Kìa, dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở đằng trước các ngươi, các
ngươi sẽ bị gươm ngã rạp, bởi vì đã bội nghịch cùng Ðức Giê-hô-va, Ðức
Giê-hô-va sẽ không ở cùng các ngươi.
44. Nhưng dân sự cố ý đi lên chót
núi; còn hòm giao ước của Ðức Giê-hô-va và Môi-se không đi ra khỏi trại
quân.
45. Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an ở trong núi nầy đổ xuống, đánh
bại và phân thây dân Y-sơ-ra-ên cho đến Họt-ma.
Dân-số Ký 15 chọn
đoạn khác
1.
Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi vào xứ mà ta ban cho các ngươi đặng
ở,
3. và các ngươi dâng cho Ðức Giê-hô-va một của lễ dùng lửa đốt; hoặc
một của lễ thiêu, hoặc một của lễ trả sự hứa nguyện, hoặc một của lễ lạc
ý, hay là trong những lễ trọng thể, các ngươi muốn dâng cho Ðức Giê-hô-va
một của lễ có mùi thơm bằng bò hay chiên,
4. thì ai dâng lễ vật mình
phải dâng cho Ðức Giê-hô-va một của lễ chay bằng một phần mười ê-pha bột
lọc nhồi với một phần tư hin dầu.
5. Về mỗi con chiên con, ngươi phải
dâng một lễ quán bằng một phần tư hin rượu với của lễ thiêu hay là với của
lễ khác.
6. Nhược bằng về một con chiên đực, thì ngươi phải dùng một
của lễ chay bằng hai phần mười ê-pha bột lọc nhồi với một phần ba hin
dầu,
7. và một phần ba hin rượu làm lễ quán, mà dâng có mùi thơm cho
Ðức Giê-hô-va.
8. Nhược bằng ngươi dâng một con bò tơ, hoặc làm của lễ
thiêu, hoặc làm của lễ trả sự hứa nguyện hay là làm của lễ thù ân cho Ðức
Giê-hô-va,
9. thì phải dâng chung với con bò tơ một của lễ chay bằng ba
phần mười ê-pha bột lọc nhồi với nửa hin dầu,
10. và dâng nửa hin rượu
làm lễ quán: ấy là một của lễ dùng lửa dâng lên có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
11. Người ta cũng phải làm như vậy về mỗi con bò đực, mỗi
con chiên đực, mỗi con chiên con, hay là mỗi con dê con.
12. Tùy theo
số con sinh mà các ngươi sẽ dâng, thì phải làm như vậy cho mỗi con.
13.
Phàm người sanh ra trong xứ phải làm như vậy, khi nào dâng một của lễ dùng
lửa đốt, có mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
14. Nếu một khách ngoại bang
kiều ngụ trong các ngươi hay là một người nào ở giữa các ngươi từ đời nầy
sang đời kia, dùng lửa dâng một của lễ có mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va, thì
phải làm y như các ngươi làm vậy.
15. Trong hội chúng chỉ đồng có một
luật lệ cho các ngươi và cho khách ngoại bang kiều ngụ giữa các ngươi. Ấy
sẽ là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi trước mặt Ðức Giê-hô-va;
khách ngoại bang cũng đồng như các ngươi vậy.
16. Sẽ có một luật và một
lệ như nhau cho các ngươi và cho khách ngoại bang kiều ngụ giữa các
ngươi.
17. Ðức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng:
18. Hãy nói cho
dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã vào xứ mà ta sẽ dẫn các ngươi
vào,
19. và ăn bánh của xứ đó, thì các ngươi phải lấy một lễ vật dâng
giơ lên cho Ðức Giê-hô-va.
20. Các ngươi phải lấy ra một cái bánh nhỏ
làm lễ vật, tức là bánh đầu-tiên về bột nhồi của các ngươi; các ngươi phải
dâng y một cách như dâng giơ lên lễ vật về sân đạp lúa vậy.
21. Từ đời
nầy sang đời kia, các ngươi phải dâng giơ lên cho Ðức Giê-hô-va một lễ vật
về bột nhồi đầu tiên của các ngươi.
22. Khi các ngươi lầm lỡ phạm tội,
không giữ hết thảy các điều răn nầy mà Ðức Giê-hô-va đã truyền cho
Môi-se,
23. nghĩa là mọi điều chi Ðức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền
cho các ngươi, từ ngày Ðức Giê-hô-va truyền những điều răn nầy cho và về
ngày sau, trong những dòng dõi sẽ đến của các ngươi,
24. nếu là tội
phạm vì lầm lỡ mà hội chúng không hay biết, thì cả hội chúng tùy theo mạng
lịnh phải dùng một con bò đực tơ dâng làm của lễ thiêu có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va, luôn với của lễ chay cùng lễ quán cặp theo; và một con dê đực
làm của lễ chuộc tội.
25. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho cả hội dân
Y-sơ-ra-ên, thì tội hội chúng sẽ được tha, vì là một tội phạm lầm lỡ và vì
hội chúng đã đem đến trước mặt Ðức Giê-hô-va lễ vật mình, tức là một của
lễ dùng lửa dâng cho Ðức Giê-hô-va, luôn với của lễ chuộc tội đặng chữa sự
lầm lỡ mình.
26. Cả hội dân Y-sơ-ra-ên và khách ngoại bang kiều ngụ
trong dân đó sẽ được tha tội, vì là bởi lầm lỡ mà cả dân sự đã phạm
tội.
27. Nhược bằng chỉ một người lầm lỡ phạm tội, thì người đó phải
dâng một con dê cái giáp năm làm của lễ chuộc tội;
28. thầy tế lễ sẽ
làm lễ chuộc tội cho người đã lầm lỡ mà phạm tội như vậy trước mặt Ðức
Giê-hô-va, và khi đã làm lễ chuộc tội cho người, thì người sẽ được
tha.
29. Khi lầm lỡ mà phạm tội, thì sẽ có đồng một luật lệ cho các
ngươi, hoặc là sanh giữa dân Y-sơ-ra-ên hay là khách kiều ngụ trong dân
đó.
30. Nhưng ai cố ý phạm tội, hoặc người sanh trong xứ, hay là khách
ngoại bang, thì ai đó khinh bỉ Ðức Giê-hô-va; người sẽ bị truất khỏi dân
sự mình,
31. vì người đã khinh bỉ lời Ðức Giê-hô-va và trái mạng của
Ngài: người hẳn sẽ bị truất diệt, tội gian ác người đổ lại trên mình
người.
32. Vả, dân Y-sơ-ra-ên đương ở tại đồng vắng, gặp một người lượm
củi trong ngày sa-bát;
33. những kẻ gặp người đương lượm củi dẫn người
đến Môi-se, A-rôn, và cả hội chúng.
34. Họ bắt người giam tù, vì điều
phải làm cho người chưa nhất định.
35. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng
Môi-se rằng: Người nầy phải phạt xử tử, cả hội chúng hãy ném đá người
ngoài trại quân.
36. Vậy, cả hội chúng đem người ra ngoài trại quân mà
ném đá, và người chết, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
37. Ðức
Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
38. Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên và
biểu họ từ đời nầy sang đời kia hãy làm một cái tua nơi các chéo áo mình,
và trên mỗi tua kết một sợi dây màu điều.
39. Các ngươi phải mang cái
tua nầy; khi thấy nó các ngươi sẽ nhớ lại hết thảy điều răn của Ðức
Giê-hô-va mà làm theo, không theo tư dục của lòng và mắt mình, là điều làm
cho các ngươi sa vào sự thông dâm.
40. Như vậy, các ngươi sẽ nhớ lại mà
làm theo những điều răn của ta, và làm thánh cho Ðức Chúa Trời của các
ngươi.
41. Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi, Ðấng đã đem
các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô đặng làm Ðức Chúa Trời của các ngươi. Ta là
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi.
Dân-số Ký 16 chọn
đoạn khác
1.
Vả, Cô-rê, con trai của Dít-sê-ha, cháu của Kê-hát, chít của Lê-vi, giục
theo mình Ða-than và A-bi-ram, con trai của Ê-li-áp, cùng với Ôn, con trai
của Phê-lết, cháu Ru-bên.
2. Các người nầy với hai trăm năm mươi người
trong dân Y-sơ-ra-ên, vốn là quan tướng của hội, nghị viên của hội đồng,
có danh giá, đều hiệp nhau dấy nghịch cùng Môi-se và A-rôn,
3. mà rằng:
Thôi đủ rồi! vì cả hội chúng đều là thánh, và Ðức Giê-hô-va ngự ở trong;
vậy sao các ngươi tự cao trên hội chúng của Ðức Giê-hô-va?
4. Môi-se
nghe điều đó, bèn sấp mặt xuống đất,
5. nói cùng Cô-rê và hết thảy kẻ
hiệp với người mà rằng: Sáng mai, Ðức Giê-hô-va sẽ tỏ cho biết ai thuộc về
Ngài và ai là thánh; Ngài sẽ khiến người đó lại gần Ngài, tức khiến người
nào mà Ngài đã chọn lấy đến gần Ngài.
6. Hỡi Cô-rê, hãy làm điều nầy:
Ngươi và hết thảy kẻ hiệp với ngươi hãy cầm lư hương;
7. sáng mai hãy
để lửa ở trong và bỏ hương ở trên trước mặt Ðức Giê-hô-va. Người nào mà
Ðức Giê-hô-va sẽ chọn, ấy là người thánh. Hỡi con cháu Lê-vi, thôi đủ
rồi!
8. Môi-se nói cùng Cô-rê rằng: Hỡi con cháu Lê-vi, bây giờ hãy
nghe.
9. Về phần các ngươi, Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt các
ngươi riêng ra với hội chúng Y-sơ-ra-ên, và khiến các ngươi đến gần Ngài
đặng làm công việc trong đền tạm của Ðức Giê-hô-va, đặng chực hầu việc
trước mặt hội chúng, việc ấy há là nhỏ mọn sao?
10. Ngài biểu ngươi,
hết thảy anh em ngươi với con cháu Lê-vi đến gần Ngài, các ngươi lại còn
kiếm chức tế lễ nữa sao?
11. Vì vậy, ngươi và toàn bè đảng của ngươi
đều hiệp lại nghịch cùng Ðức Giê-hô-va! Vì A-rôn là ai mà các ngươi lằm
bằm cùng người?
12. Môi-se sai đòi Ða-than và A-bi-ram, con trai
Ê-li-áp; nhưng hai người đáp rằng: Chúng tôi không đi lên đâu.
13. Há
là điều nhỏ mọn mà ngươi đã đem chúng ta ra khỏi xứ đượm sữa và mật, đặng
làm cho chúng ta chết trong đồng vắng, mà ngươi lại còn muốn lấn lướt trên
chúng ta nữa sao?
14. Quả thật, ngươi không có dẫn chúng ta đến trong
một xứ đượm sữa và mật đâu, ngươi không cho chúng ta đồng ruộng hay là
vườn nho làm sản nghiệp đâu! Ngươi toan khoét mắt của dân nầy ư? Chúng ta
không đi lên đâu.
15. Môi-se nổi giận lắm, thưa cùng Ðức Giê-hô-va
rằng: Xin đừng kể đến của lễ chay chúng nó nữa; tôi không có bắt nơi chúng
nó một con lừa nào, và tôi cũng không có làm hại một ai trong bọn chúng
nó.
16. Ðoạn, Môi-se nói cùng Cô-rê rằng: Ngày mai ngươi và toàn bè
đảng ngươi với A-rôn hãy ra mắt Ðức Giê-hô-va.
17. Mỗi người hãy lấy lư
hương mình bỏ hương ở trong, rồi mỗi người dâng lư hương mình trước mặt
Ðức Giê-hô-va, tức là hai trăm năm mươi cái lư hương. Ngươi và A-rôn, mỗi
người cũng phải có lư hương mình.
18. Vậy, mỗi người lấy lư hương mình
để lửa vào, bỏ hương trên, rồi đứng tại cửa hội mạc luôn với Môi-se và
A-rôn.
19. Cô-rê hiệp cả hội chúng nghịch lại Môi-se và A-rôn tại cửa
hội mạc; sự vinh quang của Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng cả hội chúng.
20.
Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:
21. Hãy tách khỏi
giữa hội chúng nầy, thì ta sẽ tiêu diệt nó trong một lát.
22. Hai người
bèn sấp mặt xuống mà rằng: Ôi Ðức Chúa Trời, là Chúa của thần linh mọi xác
thịt! chỉ có một người phạm tội mà Chúa lại nổi giận cùng cả hội chúng
sao?
23. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
24. Hãy nói cùng hội
chúng mà rằng: Hãy dan ra khỏi chung quanh chỗ ở của Cô-rê, Ða-than, và
A-bi-ram.
25. Môi-se đứng dậy, đi lại phía Ða-than và A-bi-ram; các
trưởng lão Y-sơ-ra-ên đi theo người.
26. Người nói cùng hội chúng rằng:
Bây giờ, hãy dan ra khỏi trại của các người hung ác nầy, và chớ đụng đến
vật chi thuộc về họ, e các ngươi sẽ chết vì những tội của họ chăng.
27.
Vậy, dân sự dan ra khỏi tứ phía chỗ ở của Cô-rê, Ða-than, và A-bi-ram.
Ða-than và A-bi-ram ra đứng tại cửa trại với vợ, con trai và con nít
mình.
28. Môi-se bèn nói rằng: Nhờ điều nầy các ngươi sẽ biết rằng Ðức
Giê-hô-va có sai ta đặng làm các điều nầy, và ta chẳng làm sự chi tự
ta.
29. Nếu các kẻ đó chết như mọi người khác chết, nếu họ đồng chịu số
phận chung như mọi người, thì Ðức Giê-hô-va không có sai ta.
30. Nhưng
nếu Ðức Giê-hô-va làm một sự thật mới, nếu đất hả miệng ra nuốt họ và mọi
món chi thuộc về họ, nếu họ còn đương sống mà xuống âm phủ, thì các ngươi
sẽ biết rằng những người nầy có khinh bỉ Ðức Giê-hô-va.
31. Vừa khi
Môi-se nói dứt các lời nầy, đất ngay dưới chân họ bèn nứt ra;
32. hả
miệng nuốt họ, gia quyến và hết thảy phe Cô-rê cùng tài sản của chúng
nó.
33. Các người đó còn đương sống và mọi vật chi thuộc về họ đều
xuống âm phủ; đất lấp lại và chúng nó bị diệt khỏi hội chúng.
34. Cả
Y-sơ-ra-ên ở xung quanh nghe tiếng họ la, đều chạy trốn, vì nói rằng:
Chúng ta hãy coi chừng, kẻo đất nuốt chúng ta chăng!
35. Rồi một ngọn
lửa từ Ðức Giê-hô-va lòe ra thiêu hóa hai trăm năm mươi người đã dâng
hương.
36. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
37. Hãy nói
với Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn, biểu lượm các lư hương ra khỏi
chỗ lửa cháy, và đổ lửa của các lư hương nơi xa, vì lư hương đã nên
thánh.
38. Còn những lư hương của các người đã phạm tội cùng sanh mạng
mình, người ta phải lấy làm thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ. Bởi
các lư hương đã dâng trước mặt Ðức Giê-hô-va đã thành thánh; những tấm dát
đó sẽ dùng làm một dấu cho dân Y-sơ-ra-ên.
39. Vậy, Ê-lê-a-sa, thầy tế
lễ, lấy những lư hương bằng đồng của các người bị thiêu đã dâng lên, và
người ta làm thành những tấm dát mòng để bọc bàn thờ.
40. Ấy là một kỷ
niệm cho dân Y-sơ-ra-ên, để người nào ngoại dòng A-rôn chớ đến gần đặng
xông hương trước mặt Ðức Giê-hô-va, kẻo e đồng số phận cùng Cô-rê và bè
đảng người, theo lời Ðức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dạy.
41. Ngày
mai, cả hội dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm cùng Môi-se và A-rôn mà rằng: Hai người
đã làm chết dân của Ðức Giê-hô-va.
42. Khi hội chúng đương hiệp nhau
nghịch cùng Môi-se và A-rôn, thì ngó về hướng hội mạc, xảy thấy trụ mây
bao phủ hội mạc, và sự vinh quang của Ðức Giê-hô-va hiện ra.
43. Môi-se
và A-rôn đến đứng trước hội mạc,
44. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng:
45. Hãy dan ra khỏi giữa hội chúng nầy, thì ta sẽ tiêu diệt nó
trong một lát. Nhưng hai người sấp mặt xuống đất,
46. rồi Môi-se nói
cùng A-rôn rằng: Hãy cầm lấy lư hương để lửa từ trên bàn thờ vào, bỏ hương
lên trên, mau mau đi đến hội chúng và làm lễ chuộc tội cho họ; vì sự thạnh
nộ của Ðức Giê-hô-va đã nổi lên, và tai vạ đã phát khởi.
47. A-rôn bèn
cầm lấy lư hương y như Môi-se đã biểu, chạy đến giữa hội chúng; kìa, tai
vạ đã phát khởi giữa dân sự. A-rôn bèn bỏ hương vào, và làm lễ chuộc tội
cho dân sự.
48. Người đứng giữa kẻ chết và kẻ sống, thì tai vạ bèn
ngừng lại.
49. Có mười bốn ngàn bảy trăm người chết vì tai vạ nầy, trừ
ra những kẻ đã bị chết vì cớ Cô-rê.
50. Ðoạn, A-rôn trở về cùng Môi-se
tại cửa hội mạc, rồi tai vạ ngừng lại.
Dân-số Ký 17 chọn
đoạn khác
1.
Kế đó, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên và biểu rằng: Mỗi chi phái của họ phải đem nộp cho ngươi một
cây gậy; nghĩa là mười hai cây gậy bởi các quan trưởng của mỗi chi
phái.
3. Ngươi phải đề tên mỗi người trên cây gậy của mình, và đề tên
A-rôn trên cây gậy của Lê-vi; vì phải có một cây gậy cho mỗi trưởng
tộc.
4. Ngươi phải để các gậy đó trong hội mạc, trước hòm bảng chứng,
là nơi ta gặp ngươi.
5. Hễ người nào ta chọn lấy, thì cây gậy người đó
sẽ trổ hoa; vậy ta sẽ làm cho nín đi trước mặt ta những lời lằm bằm của
dân Y-sơ-ra-ên đã phát ra đối nghịch cùng các ngươi.
6. Môi-se nói cùng
dân Y-sơ-ra-ên, thì hết thảy trưởng tộc, tùy theo chi phái mình, đem nộp
cho người một cây gậy, tức là mười hai cây. Gậy của A-rôn ở giữa các cây
gậy khác.
7. Môi-se để những gậy đó trong Trại bảng chứng trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
8. Ngày mai, khi Môi-se vào Trại bảng chứng, xảy thấy cây
gậy A-rôn về nhà Lê-vi đã trổ hoa: nó có nứt mụt, sanh hoa và trái
hạnh-nhân chín.
9. Môi-se bèn rút các cây gậy khỏi trước mặt Ðức
Giê-hô-va, đem đưa cho cả dân Y-sơ-ra-ên; các người đều thấy và mỗi người
lấy gậy mình lại.
10. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đem cây
gậy của A-rôn để lại trước hòm bảng chứng, đặng giữ làm một dấu cho con
cái phản nghịch; ngươi phải làm cho nín đi những lời lằm bằm đối nghịch
cùng ta, hầu cho dân chúng chẳng chết.
11. Môi-se làm như vậy, tức làm
y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
12. Dân Y-sơ-ra-ên nói cùng
Môi-se rằng: Nầy, chúng tôi bị diệt, chúng tôi bị chết, chúng tôi chết mất
hết thảy!
13. Phàm ai đến gần đền tạm của Ðức Giê-hô-va đều chết. Có lẽ
chúng tôi phải chết hết sao?
Dân-số Ký 18 chọn
đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va
bèn phán cùng A-rôn rằng: Ngươi, các con trai ngươi, và tông tộc ngươi
phải mang lấy những tội lỗi phạm trong nơi thánh; còn ngươi và các con
trai ngươi phải mang lấy những tội lỗi phạm trong chức tế lễ.
2. Cũng
hãy biểu đến gần ngươi các anh em mình, là chi phái Lê-vi, tức tông tộc
ngươi, đặng các người đó hiệp với ngươi và hầu việc ngươi; nhưng ngươi và
các con trai ngươi phải ở trước Trại bảng chứng.
3. Các người đó sẽ gìn
giữ điều chi ngươi truyền dạy, và điều nào thuộc về cả Trại; chỉ không nên
lại gần những vật thánh, cũng đừng lại gần bàn thờ, e khi chúng nó phải
chết, và các ngươi cũng chết luôn chăng.
4. Vậy, các người đó sẽ hiệp
với ngươi coi sóc điều chi thuộc về hội mạc, và giữ công việc của Trại;
một người ngoại nào chẳng nên đến gần các ngươi.
5. Các ngươi phải coi
sóc điều chi thuộc về nơi thánh và bàn thờ để đừng có sự thạnh nộ cùng dân
Y-sơ-ra-ên nữa.
6. Còn ta đây, trong dân Y-sơ-ra-ên ta đã chọn lấy anh
em các ngươi, là những người Lê-vi, mà ban cho các ngươi, vì đã dâng cho
Ðức Giê-hô-va rồi, đặng làm công việc của hội mạc.
7. Nhưng ngươi và
các con trai ngươi phải kỹ lưỡng lo cho xong chức tế lễ, quản trị các điều
chi thuộc về bàn thờ, và vật chi ở phía trong màn; các ngươi phải làm việc
mình tại đó. Chức tế lễ của các ngươi là một việc ta phong cho như một của
ban: người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử.
8. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng A-rôn rằng: Nầy ta cử ngươi coi sóc các lễ vật của ta thâu lấy về
mọi-vật mà dân Y-sơ-ra-ên đã biệt riêng ra thánh; cứ một lệ định đời đời
ta ban những lễ vật nầy cho ngươi và cho các con trai ngươi như một phần
riêng mà phép xức dầu truyền cho.
9. Trong các vật rất thánh không có
thiêu hóa mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho ta, nầy là phần sẽ thuộc về ngươi:
Hết thảy lễ vật của họ, nào của lễ chay, nào của lễ chuộc tội, nào của lễ
chuộc sự mắc lỗi; những vật rất thánh nầy đều sẽ thuộc về ngươi và các con
trai ngươi.
10. Ngươi phải ăn nó trong nơi rất thánh; mọi người nam
phải ăn lấy, ấy sẽ làm một vật thánh cho ngươi.
11. Vật nầy cũng sẽ
thuộc về ngươi: Phàm lễ vật nào mà dân Y-sơ-ra-ên dâng giơ lên và đưa qua
đưa lại, thì ta cứ một lệ định đời đời mà ban cho ngươi và các con trai
con gái ngươi. Ai trong nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn các món đó.
12.
Ta cũng đã ban cho ngươi những vật đầu mùa mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ dâng cho
Ðức Giê-hô-va, hết thảy phần dầu, rượu ngọt và lúa miến nhất hạng.
13.
Mọi hoa quả đầu mùa của đất sanh sản mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Ðức
Giê-hô-va, đều sẽ thuộc về ngươi; ai trong nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn
lấy.
14. Phàm vật chi mà dân Y-sơ-ra-ên phú dâng sẽ thuộc về
ngươi.
15. Mọi con đầu lòng của các xác thịt, hoặc ngươi, hoặc vật mà
dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Ðức Giê-hô-va, đều sẽ thuộc về ngươi; nhưng ngươi
phải chuộc lại con đầu lòng của loài người, và cũng phải chuộc lại con đầu
lòng của thú vật ô uế.
16. Về sự chuộc lại, ngươi phải chuộc lại những
con từ một tháng trở đi, theo giá định của ngươi, là năm siếc-lơ bạc, theo
siếc-lơ của nơi thánh là hai mươi ghê-ra.
17. Nhưng ngươi chớ chuộc lại
con đầu lòng của bò cái, hoặc con đầu lòng của chiên cái hay là con đầu
lòng của dê cái; ấy là những vật thánh. Ngươi phải rưới huyết nó trên bàn
thờ, và xông mỡ nó làm của lễ dùng lửa dâng lên có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va.
18. Thịt nó sẽ thuộc về ngươi như cái o dâng đưa qua đưa lại
và cái giò hữu.
19. Ta cứ lệ định đời đời ban cho ngươi, các con trai
và các con gái ngươi, hết thảy lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng giơ lên
cho Ðức Giê-hô-va: ấy là một giao ước bằng muối đời đời, không bỏ được,
trước mặt Ðức Giê-hô-va cho ngươi và cho dòng dõi ngươi.
20. Ðoạn, Ðức
Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng: Ngươi sẽ không có cơ nghiệp trong xứ dân
Y-sơ-ra-ên; và chẳng sẽ có phần cho ngươi giữa dân đó; ta là phần của
ngươi, và là cơ nghiệp của ngươi ở giữa dân Y-sơ-ra-ên.
21. Còn về con
cháu Lê-vi, nầy ta đã ban cho làm cơ nghiệp, mọi thuế một phần mười của
Y-sơ-ra-ên làm lương về công việc mình làm trong hội mạc.
22. Dân
Y-sơ-ra-ên chớ lại gần hội mạc nữa, e phải mắc tội và chết chăng.
23.
Nhưng ấy là người Lê-vi sẽ làm công việc của hội mạc; bằng có phạm tội,
thì tự mang lấy; chúng nó sẽ không có phần cơ nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên;
ấy sẽ là một lệ định đời đời trải qua các thế đại.
24. Vì ta đã ban cho
người Lê-vi làm cơ nghiệp, những thuế một phần mười của dân Y-sơ-ra-ên
dâng giơ lên cho Ðức Giê-hô-va. Bởi cớ đó, ta đã phán về họ rằng: Họ sẽ
không có cơ nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên.
25. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng:
26. Ngươi cũng phải truyền cho người Lê-vi rằng: Khi
nào các ngươi đã lãnh của dân Y-sơ-ra-ên thuế một phần mười mà ta đã ban
về phần dân đó đặng làm cơ nghiệp của các ngươi, thì hãy lấy một phần mười
của vật thuế một phần mười, làm của lễ dâng giơ lên cho Ðức
Giê-hô-va.
27. Lễ-vật dâng giơ lên của các ngươi sẽ kể như lúa mì lấy
nơi sân đạp lúa, và như sự đầy dẫy của hầm rượu.
28. Thế thì, trong
những thuế một phần mười mà các ngươi lãnh nơi dân Y-sơ-ra-ên, thì cũng
phải lấy ra một phần mười làm lễ vật dâng giơ lên cho Ðức Giê-hô-va, và
giao lễ vật của Ðức Giê-hô-va đó cho A-rôn, thầy tế lễ.
29. Trong những
lễ vật lãnh được, các ngươi phải lấy ra phần tốt nhất, biệt riêng ra thánh
mà dâng giơ lên cho Ðức Giê-hô-va.
30. Ngươi phải nói cùng người Lê-vi
rằng: Khi nào các ngươi đã dâng giơ lên phần tốt nhất của thuế một phần
mười, thì sẽ kể cho người Lê-vi như huê lợi của sân đạp lúa, và như huê
lợi của hầm rượu vậy.
31. Các ngươi và gia quyến các ngươi phải ăn nó
trong nơi nào cũng được, vì là công giá mình về việc các ngươi làm trong
hội mạc.
32. Bởi cớ ấy, khi các ngươi đã dâng giơ lên phần tốt nhất,
các ngươi sẽ không mắc tội, sẽ không làm ô uế những vật thánh của dân
Y-sơ-ra-ên, và các ngươi không chết đâu.
Dân-số Ký 19 chọn
đoạn khác
1.
Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:
2. Nầy là lệ định của
luật pháp mà Ðức Giê-hô-va có truyền rằng: Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên và
biểu dẫn đến người một con bò cái tơ sắc hoe, không tật không vít, và chưa
mang ách.
3. Ðoạn phải giao nó cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, dẫn ra ngoài
trại quân, rồi người ta giết nó trước mặt người.
4. Ê-lê-a-sa, thầy tế
lễ, sẽ dùng ngón tay nhúng huyết nó rảy bảy lần phía trước của hội
mạc.
5. Người ta sẽ thiêu con bò cái tơ đó trước mắt người, là thiêu
da, thịt, và huyết với phẩn nó.
6. Kế đó, thầy tế lễ sẽ lấy cây hương
nam, chùm kinh giới, và màu đỏ sặm, liệng vào giữa đám lửa thiêu con bò
cái tơ.
7. Ðoạn, thầy tế lễ phải giặt áo xống và tắm mình trong nước,
sau rồi vào trại quân, bị ô uế đến chiều tối.
8. Kẻ nào thiêu con bò
cái tơ phải giặt áo xống và tắm mình trong nước, bị ô uế đến chiều
tối.
9. Một người tinh sạch sẽ hốt tro con bò cái tơ đổ ngoài trại
quân, trong một nơi tinh sạch; người ta phải giữ tro đó cho hội dân
Y-sơ-ra-ên để dùng làm nước tẩy uế: ấy là một của lễ chuộc tội.
10. Kẻ
nào hốt tro con bò cái tơ phải giặt áo xống mình và bị ô uế đến chiều tối.
Ðiều nầy sẽ làm một lệ định đời đời cho dân Y-sơ-ra-ên và cho khách ngoại
bang kiều ngụ giữa dân đó.
11. Ai đụng đến một xác chết của người nào
sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
12. Ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người ấy
phải dùng nước nầy làm cho mình được sạch, thì sẽ được sạch; còn nếu ngày
thứ ba và ngày thứ bảy không làm cho mình được sạch, thì người vẫn không
tinh sạch.
13. Phàm người nào đụng đến xác chết của người nào và không
làm cho mình được sạch, thì sẽ gây cho đền tạm của Ðức Giê-hô-va bị ô uế.
Người đó sẽ bị truất khỏi Y-sơ-ra-ên; vì nước tẩy uế không có rảy trên
mình người, nên người vẫn ô uế; sự ô uế của người vẫn ở trên mình người
vậy.
14. Nầy là luật pháp khi có một người nào chết trong trại: bất kỳ
ai vào trại và mọi vật chi ở trong đều sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
15.
Phàm bình đựng nào để trống, không có nắp đậy buộc theo, sẽ bị ô
uế.
16. Ngoài đồng, ai đụng đến hoặc một người bị gươm giết, hoặc một
xác chết, hoặc hài cốt loài người hay là một cái mả, thì sẽ bị ô uế trong
bảy ngày.
17. Về kẻ bị ô uế, người ta phải lấy tro của con sinh đã bị
thiêu đặng chuộc tội, để trong một cái bình và đổ nước chảy lên
trên.
18. Ðoạn, một người tinh sạch sẽ lấy chùm kinh giới nhúng vào
nước, rồi rảy trên trại, trên các bình, trên những người có tại đó, và
trên người đã đụng, hoặc những hài cốt, hoặc một người bị giết, hoặc một
xác chết hay là một cái mả.
19. Ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người tinh
sạch phải rảy nước đó trên người bị ô uế, và ngày thứ bảy người tinh sạch
sẽ làm cho người được sạch, Người đương được sạch phải giặt áo xống mình,
tắm mình trong nước, và đến chiếu tối mới được tinh sạch.
20. Còn người
nào sẽ bị ô uế mà không làm cho mình được sạch, một người như vậy sẽ bị
truất khỏi hội chúng; vì người đã làm cho nơi thánh của Ðức Giê-hô-va bị ô
uế. Nước tẩy uế không có rưới trên mình người: người vẫn ô uế.
21. Ấy
sẽ là một lệ định đời đời cho dân sự. Người nào rảy nước tẩy uế sẽ giặt áo
xống mình: kẻ nào đụng đến nước tẩy uế sẽ bị ô uế đến chiều tối.
22.
Phàm vật chi mà người ô uế đụng đến, đều sẽ bị lây ô uế; còn ai đụng đến
người đó sẽ bị lây ô uế đến chiều tối.
Dân-số Ký 20 chọn
đoạn khác
1.
Tháng giêng, cả hội dân Y-sơ-ra-ên tới đồng vắng Xin; và dừng lại tại
Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn tại đó.
2. Vả, không có nước cho
hội chúng uống; chúng bèn dấy loạn cùng Môi-se và A-rôn.
3. Dân sự
cãi-lộn cùng Môi-se mà rằng: Anh em chúng tôi đã chết trước mặt Ðức
Giê-hô-va, chớ chi chúng tôi cũng đồng chết luôn thể!
4. Sao người đem
hội chúng của Ðức Giê-hô-va vào đồng vắng nầy, làm cho chúng tôi và súc
vật của chúng tôi phải chết?
5. Sao người khiến chúng tôi đi lên khỏi
xứ Ê-díp-tô đặng dẫn đến chỗ độc nầy, là nơi người ta không gieo mạ được,
và chẳng có cây vả, cây nho, cây lựu, và cũng không có nước uống?
6.
Môi-se và A-rôn bèn lui khỏi mặt hội chúng, đến tại cửa hội mạc, sấp mặt
xuống đất; và sự vinh quang của Ðức Giê-hô-va cùng hai người.
7. Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
8. Hãy cầm lấy cây gậy ngươi, rồi với
A-rôn anh ngươi, hãy truyền nhóm hội chúng, và hai ngươi phải nói cùng hòn
đá trước mặt hội chúng, thì hòn đá sẽ chảy nước ra; ngươi sẽ khiến nước từ
hòn đá chảy ra cho hội chúng và súc vật của họ uống.
9. Vậy, Môi-se cầm
lấy cây gậy ở trước mặt Ðức Giê-hô-va, như Ngài đã phán dặn.
10. Môi-se
và A-rôn truyền nhóm hội chúng đến trước hòn đá mà nói rằng: Hỡi dân phản
nghịch! hãy nghe, chúng ta há dễ khiến nước chảy từ hòn đá nầy ra cho các
ngươi được sao?
11. Môi-se giơ tay lên, đập hòn đá hai lần bằng cây gậy
mình. Nước bèn chảy tràn ra nhiều, hội chúng uống, và súc vật họ uống
nữa.
12. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: Bởi vì hai
ngươi không có tin đến ta, đặng tôn ta nên thánh trước mặt dân Y-sơ-ra-ên,
vì cớ đó, hai ngươi sẽ không đem hội chúng nầy vào xứ mà ta đã cho nó
đâu.
13. Ấy đó là nước của Mê-ri-ba, tức là nơi dân Y-sơ-ra-ên cãi-trã
cùng Ðức Giê-hô-va; Ngài tự nên thánh trước mặt dân đó.
14. Ðoạn, từ
Ca-đe, Môi-se sai sứ giả đi đến vua Ê-đôm đặng nói rằng: Y-sơ-ra-ên, là em
vua, có nói như vầy: Vua biết các sự tai nạn đã xảy đến cho chúng
tôi,
15. và tổ phụ chúng tôi đi xuống xứ Ê-díp-tô là làm sao? Chúng tôi
đã ở lâu tại xứ Ê-díp-tô, nhưng dân xứ đó bạc đãi chúng tôi và tổ phụ
chúng tôi.
16. Chúng tôi có kêu la cùng Ðức Giê-hô-va; Ngài có nghe
thấu tiếng kêu, bèn sai một thiên sứ dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
Nầy, chúng tôi hiện ở tại Ca-đe, là thành ở nơi đầu bờ cõi của vua.
17.
Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ của vua; chúng tôi sẽ chẳng đi
ngang qua đồng ruộng, sẽ chẳng đi ngang vườn nho, và chúng tôi cũng sẽ
chẳng uống nước các giếng; chúng tôi sẽ đi theo đường cái của vua, không
xây qua bên hữu, cũng không xây qua bên tả cho đến chừng nào đã đi ngang
khỏi bờ cõi của vua.
18. Nhưng Ê-đôm đáp rằng: Ngươi chớ khá đi ngang
ranh ta; bằng cượng, ta sẽ cầm gươm ra đón ngươi.
19. Dân Y-sơ-ra-ên
tâu rằng: Chúng tôi đi theo đường cái; nếu chúng tôi và bầy súc vật chúng
tôi uống nước của vua, thì chúng tôi sẽ trả tiền. Xin chỉ để đi bộ ngang
qua, không chi khác nữa.
20. Nhưng Ê-đôm đáp rằng: Ngươi chẳng được qua
đâu! Ê-đôm bèn đem quân chúng rất đông, tay cầm binh khí, ra đón
Y-sơ-ra-ên.
21. Ấy vậy, Ê-đôm không cho phép Y-sơ-ra-ên đi ngang bờ cõi
mình; Y-sơ-ra-ên trở đi khỏi người.
22. Cả hội dân Y-sơ-ra-ên đi từ
Ca-đe đến núi Hô-rơ.
23. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn trên
núi Hô-rơ, tại bờ cõi xứ Ê-đôm, mà rằng:
24. A-rôn sẽ về nơi tổ phụ
mình, vì người không được vào xứ mà ta đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên đâu; bởi
vì tại nước Mê-ri-ba, các ngươi đã bội nghịch điều răn ta.
25. Hãy bắt
A-rôn và Ê-lê-a-sa, con trai người, biểu đi lên núi Hô-rơ;
26. đoạn hãy
lột áo xống A-rôn mặc cho Ê-lê-a-sa, con trai người. Ấy tại đó A-rôn sẽ
được tiếp về và qua đời.
27. Vậy, Môi-se làm y như Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn; ba người đi lên núi Hô-rơ, cả hội chúng đều thấy.
28. Môi-se
lột áo xống A-rôn, mặc cho Ê-lê-a-sa, con trai người. A-rôn chết tại đó,
trên chót núi; rồi Môi-se và Ê-lê-a-sa xuống.
29. Cả hội chúng thấy
A-rôn đã tắt hơi rồi, bèn khóc người trong ba mươi ngày.
Dân-số Ký 21
chọn
đoạn khác
1. Khi vua A-rát, người Ca-na-an, ở nơi Nam phương, hay rằng
Y-sơ-ra-ên theo đường do thám đi đến, bèn hãm đánh Y-sơ-ra-ên, và bắt mấy
người cầm tù.
2. Y-sơ-ra-ên bèn hứa nguyện cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Nếu
Chúa phó dân nầy vào tay tôi, tất tôi sẽ diệt các thành của nó.
3. Ðức
Giê-hô-va nhậm lời dân Y-sơ-ra-ên và phó dân Ca-na-an cho. Người ta diệt
hết dân đó và các thành của nó, đặt tên chỗ nầy là Họt-ma.
4. Ðoạn, dân
Y-sơ-ra-ên đi từ núi Hô-rơ về hướng Biển đỏ, đặng đi vòng theo xứ Ê-đôm;
giữa đường dân sự ngã lòng.
5. Vậy, dân sự nói nghịch cùng Ðức Chúa
Trời và Môi-se mà rằng: Làm sao người khiến chúng tôi lên khỏi xứ Ê-díp-tô
đặng chết trong đồng vắng? Vì đây không có bánh, cũng không có nước, và
linh hồn chúng tôi đã ghê gớm thứ đồ ăn đạm bạc nầy.
6. Ðức Giê-hô-va
sai con rắn lửa đến trong dân sự, cắn dân đó đến đỗi người Y-sơ-ra-ên chết
rất nhiều.
7. Dân sự bèn đến cùng Môi-se mà nói rằng: Chúng tôi có phạm
tội, vì đã nói nghịch Ðức Giê-hô-va và người. Hãy cầu xin Ðức Giê-hô-va để
Ngài khiến rắn lìa xa chúng tôi. Môi-se cầu khẩn cho dân sự.
8. Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy làm lấy một con rắn lửa, rồi treo nó
trên một cây sào. Nếu ai bị cắn và nhìn nó, thì sẽ được sống.
9. Vậy,
Môi-se làm một con rắn bằng đồng, rồi treo lên một cây sào; nếu người nào
đã bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng, thì được sống.
10. Kế đó, dân
Y-sơ-ra-ên đi và đóng trại tại Ô-bốt.
11. Ðoạn, đi từ Ô-bốt và đóng
trại tại Y-giê-A-ba-rim, tại đồng vắng, đối ngang Mô-áp về hướng mặt trời
mọc.
12. Họ đi từ đó đóng trại tại đèo Xê-rết.
13. Rồi tự đó đi và
đóng trại phía bên kia Ạt-nôn, ở trong đồng vắng, vừa ra bờ cõi dân
A-mô-rít; vì Ạt-nôn là giáp-ranh của dân Mô-áp và dân A-mô-rít.
14. Bởi
cớ đó, trong sách chiến trận của Ðức Giê-hô-va có nói rằng: Va-hép ở tại
Su-pha, và trũng Ạt-nôn,
15. cùng những triền trũng chạy xuống phía
A-rơ, và đụng ranh Mô-áp.
16. Từ đó dân Y-sơ-ra-ên đến Bê-re, ấy đó là
cái giếng mà Ðức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se rằng: Hãy nhóm hiệp dân sự,
ta sẽ cho chúng nó nước.
17. Y-sơ-ra-ên bèn hát bài nầy: Hỡi giếng, hãy
tuôn lên! hãy ca hát cho nó!
18. Giếng mà các vua chúa đã khai, Các
tước vị của dân sự đã đào Với phủ việt cùng cây gậy mình!
19. Kế đó, từ
đồng vắng dân Y-sơ-ra-ên đến Ma-tha-na; rồi từ Ma-tha-na đến Na-ha-li-ên;
từ Na-ha-li-ên đến Ba-mốt;
20. và từ Ba-mốt đến trũng ở trong bờ cõi
Mô-áp, tại chót núi Phích-ga, là nơi người ta nhìn thấy đồng bằng của sa
mạc.
21. Vả, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến Si-hôn, vua dân A-mô-rít, đặng
nói rằng:
22. Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ vua, chúng tôi sẽ
không xây vào đồng ruộng, hay là vào vườn nho, và chúng tôi cũng sẽ không
uống nước các giếng, cứ đi đường cái của vua cho đến chừng nào qua khỏi bờ
cõi vua.
23. Nhưng Si-hôn không cho phép Y-sơ-ra-ên đi ngang qua bờ cõi
mình, bèn hiệp hết dân sự mình đi ra đón Y-sơ-ra-ên về hướng đồng vắng;
người đến Gia-hát, chiến trận cùng Y-sơ-ra-ên.
24. Song Y-sơ-ra-ên dùng
lưỡi gươm đánh bại người, và chiếm xứ người từ Ạt-nôn đến Gia-bốc, đến dân
Am-môn; vì bờ cõi dân Am-môn bền vững.
25. Y-sơ-ra-ên chiếm hết các
thành nầy, và ở trong các thành dân A-mô-rít, là ở tại Hết-bôn và trong
các thành địa-hạt.
26. Vì Hết-bôn là thành của Si-hôn, vua dân
A-mô-rít, là vua đã giao chiến cùng vua trước của Mô-áp, chiếm lấy khắp
hết xứ người đến Ạt-nôn.
27. Bởi cớ đó, những nhà văn sĩ nói rằng: Hãy
đến Hết-bôn! Thành Si-hôn phải xây cất và lập vững!
28. Vì có một đám
lửa bởi thành Hết-bôn, Một ngọn lửa bởi thành Si-hôn mà ra; Nó thiêu đốt
A-rơ của Mô-áp, Các chúa của nơi cao Ạt-nôn
29. Hỡi Mô-áp, khốn thay
cho ngươi! Hỡi dân Kê-móc, ngươi đã diệt mất! Người đã nộp con trai mình
làm kẻ trốn tránh, Và con gái mình làm phu tù cho Si-hôn, vua
A-mô-rít.
30. Chúng ta đã bắn tên nhằm chúng nó. Hết-bôn đã bị hủy diệt
cho đến Ði-bôn. Chúng ta đã làm tàn hại đến Nô-phách, Lửa đã lan đến
Mê-đê-ba.
31. Vậy, Y-sơ-ra-ên ở trong xứ dân A-mô-rít.
32. Môi-se
sai đi do thám Gia-ê-xe, chiếm các thành bổn hạt và đuổi dân A-mô-rít ở
tại đó.
33. Ðoạn, dân Y-sơ-ra-ên trở lại đi lên về hướng Ba-san, Óc,
vua Ba-san, và cả dân sự người đi ra đón đặng chiến trận tại
Ết-rê-i.
34. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ðừng sợ người,
vì ta đã phó người, luôn dân sự và xứ người vào tay ngươi; ngươi khá làm
cho người như đã làm cho Si-hôn, vua dân A-mô-rít ở tại Hết-bôn.
35.
Vậy, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại Óc, các con trai người và cả dân sự người,
cho đến chừng không còn người nào ở lại; dân Y-sơ-ra-ên chiếm lấy xứ người
vậy.
Dân-số Ký 22
chọn
đoạn khác
1. Ðoạn dân Y-sơ-ra-ên đi, đến đóng trại
trong đồng bắng Mô-áp, bên kia sông Giô-đanh, đối-diện Giê-ri-cô.
2.
Ba-lác, con trai Xếp-bô, thấy hết mọi điều Y-sơ-ra-ên đã làm cho dân
A-mô-rít.
3. Mô-áp lấy làm sợ sệt lắm và kinh khủng trước mặt dân
Y-sơ-ra-ên, vì dân đó rất đông.
4. Vậy, Mô-áp nói cùng các trưởng lão
Ma-đi-an rằng: Bây giờ, đoàn dân đông nầy sẽ nuốt hết thảy chung quanh ta,
khác nào con bò ăn cỏ trong đồng vậy. Ðương lúc đó, Ba-lác, con trai
Xếp-bô, làm vua Mô-áp.
5. Người sai sứ giả đến cùng Ba-la-am, con trai
Bê-ô, ở Phê-thô-rơ, tại trên mé sông, trong xứ của con cái dân sự mình,
đặng gọi người mà nói rằng: Nầy một dân đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô, phủ khắp
mặt đất, và đóng lại đối ngang ta.
6. Vậy, ta xin ngươi hãy đến bây
giờ, rủa sả dân nầy cho ta, vì nó mạnh hơn ta. Có lẽ ta sẽ đánh bại dân
nầy và đuổi nó khỏi xứ được; vì ta biết rằng kẻ nào ngươi chúc phước cho,
thì được phước; còn kẻ nào ngươi rủa sả, thì bị rủa sả.
7. Vậy, các
trưởng lão Mô-áp đi cùng các trưởng lão Ma-đi-an, trong tay có lễ vật cho
thầy bói, đến cùng Ba-la-am mà thuật lại những lời của Ba-lác.
8. Người
đáp rằng: Hãy ở lại đây đêm nay thì ta sẽ trả lời theo như lời Ðức
Giê-hô-va sẽ phán cùng ta. Các trưởng lão Mô-áp ở lại nhà Ba-la-am.
9.
Vả, Ðức Chúa Trời đến cùng Ba-la-am và phán rằng: Những người ngươi có
trong nhà là ai?
10. Ba-la-am thưa cùng Ðức Chúa Trời rằng: Ba-lác, con
trai Xếp-bô, vua Mô-áp, đã sai đến tôi đặng nói rằng:
11. Nầy, một dân
đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô, phủ khắp mặt đất; hãy đến bây giờ, rủa sả dân đó
cho ta; có lẽ ta sẽ đánh bại dân nầy và đuổi nó được.
12. Ðức Chúa Trời
phán cùng Ba-la-am rằng: Ngươi chớ đi với chúng nó, chớ rủa sả dân nầy, vì
dân nầy được ban phước.
13. Sớm mai Ba-la-am dậy, nói cùng các sứ thần
của Ba-lác rằng: Hãy trở về xứ các ngươi, vì Ðức Giê-hô-va không cho ta đi
cùng các ngươi.
14. Vậy, các sứ thần Mô-áp dậy, trở về Ba-lác mà tâu
rằng: Ba-la-am từ chối đến cùng chúng tôi.
15. Ba-lác lại sai nhiều sứ
thần hơn và tôn trọng hơn những người trước,
16. đến cùng Ba-la-am mà
rằng: Ba-lác, con trai Xếp-bô, có nói như vầy: Ta xin ngươi, chớ có chi
ngăn cản ngươi đến cùng ta,
17. vì ta sẽ tôn ngươi rất vinh hiển, và
làm theo mọi điều ngươi sẽ nói cùng ta. Ta xin ngươi hãy đến rủa sả dân
nầy.
18. Ba-la-am đáp cùng các sứ thần của Ba-lác rằng: Dầu Ba-lác sẽ
cho ta nhà người đầy vàng và bạc, ta cũng chẳng được vượt qua mạng của
Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của ta, đặng làm một việc hoặc nhỏ hay
lớn.
19. Song ta xin các ngươi cũng ở lại đêm nay, đặng ta biết Ðức
Giê-hô-va sẽ phán điều chi cùng ta nữa.
20. Trong lúc ban đêm, Ðức Chúa
Trời giáng đến Ba-la-am mà phán rằng: Nếu các người ấy đến đặng gọi ngươi,
hãy đứng dậy đi với chúng nó; nhưng chỉ hãy làm theo lời ta sẽ
phán.
21. Vậy, sớm mai, Ba-la-am dậy, thắng lừa cái mình và đi với các
sứ thần Mô-áp.
22. Nhưng cơn thạnh nộ của Ðức Chúa Trời nổi phừng lên,
vì người ra đi; thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đứng trên đường đặng cản người.
Vả, người đã cỡi lừa cái mình, và có hai đứa đầy tớ đi theo.
23. Lừa
cái thấy thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đứng trên đường có cây gươm trần nơi
tay, bèn tẻ đường đi vào trong ruộng; Ba-la-am đánh nó đặng dẫn nó vào
đường lại.
24. Nhưng thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đứng trong đường nhỏ
của vườn nho có vách bên nầy và bên kia.
25. Lừa thấy thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va thì nép vào vách và ép chân Ba-la-am; người đánh nó.
26.
Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va đi tới xa hơn, đứng trong một ngả rất hẹp không
chỗ nào trở qua bên hữu hay là bên tả;
27. lừa thấy thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va bèn nằm quị dưới Ba-la-am. Nhưng Ba-la-am nổi giận, đánh lừa
bằng một cây gậy.
28. Bấy giờ, Ðức Giê-hô-va mở miệng lừa ra, nó nói
cùng Ba-la-am rằng: Tôi có làm chi cho người, mà người đã đánh tôi ba
lần?
29. Ba-la-am đáp cùng lừa cái rằng: Ấy là tại mầy khinh nhạo ta.
Chớ chi ta có cây gươm trong tay, ta đã giết mầy rồi!
30. Lừa nói cùng
Ba-la-am rằng: Tôi há chẳng phải là lừa của người mà người đã cỡi luôn đến
ngày nay sao? Tôi há có thói làm như vậy cùng người chăng? Người đáp:
Không.
31. Ðức Giê-hô-va bèn mở mắt Ba-la-am ra, thấy thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va đứng trong đường, tay cầm một cây gươm. Người cúi đầu và sấp mặt
xuống đất.
32. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va nói: Sao ngươi đã đánh lừa
cái ngươi ba lần? Nầy, ta đi ra đặng cản ngươi, vì ta thấy ngươi đi theo
một con đường dẫn mình đến nơi hư nát.
33. Vả, con lừa cái có thấy ta,
đi tẻ trước mặt ta ba lần, nếu nó không đi tẻ trước mặt ta, chắc ta đã
giết ngươi rồi và để nó sống.
34. Ba-la-am bèn thưa cùng thiên sứ của
Ðức Giê-hô-va rằng: Tôi có phạm tội, vì chẳng biết người đã đứng trong
đường đặng cản tôi, bây giờ, nếu người không bằng lòng tôi đi, tôi sẽ trở
về.
35. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va nói cùng Ba-la-am rằng: Hãy đi cùng
các người đó, nhưng chỉ hãy nói điều chi ta sẽ phán dặn ngươi. Ba-la-am
bèn đi cùng các sứ thần của Ba-lác.
36. Khi Ba-lác hay rằng Ba-la-am
đến, bèn đi ra tới thành Mô-áp ở gần khe Ạt-nôn, tức là ở tận bờ cõi của
xứ, mà nghinh tiếp người.
37. Ba-lác nói cùng Ba-la-am rằng: Ta há
chẳng sai sứ vời ngươi sao? Sao ngươi không đến ta? Ta há không tôn vinh
hiển cho ngươi được sao?
38. Ba-la-am đáp cùng Ba-lác rằng: Nầy tôi đã
đến cùng vua, bây giờ tôi há có thể nói ra lời gì chăng? Tôi sẽ nói điều
chi Ðức Chúa Trời đặt trong miệng tôi vậy.
39. Ba-la-am đi cùng Ba-lác,
đến Ki-ri-át-Hút-sốt.
40. Ba-lác giết những bò và chiên, sai dâng cho
Ba-la-am và các sứ thần đã đi với người.
41. Khi đến sáng mai, Ba-lác
đem Ba-la-am lên Ba-mốt-Ba-anh, là nơi người thấy đầu cùng trại quân
Y-sơ-ra-ên.
Dân-số Ký
23 chọn
đoạn khác
1. Ba-la-am nói cùng Ba-lác rằng: Hãy
cất tại đây cho tôi bảy cái bàn thờ, cùng sắm sẵn cho tôi bảy con bò đực
và bảy con chiên đực.
2. Ba-lác làm như Ba-la-am đã nói; hai người dâng
một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.
3. Ðoạn, Ba-la-am
nói cùng Ba-lác rằng: Vua hãy đứng gần của lễ thiêu của vua, tôi sẽ đi; có
lẽ Ðức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng tôi chăng, tôi sẽ thuật lại cùng vua điều
chi Ngài cho tôi thấy. Người đi lên một nơi cao trống trải.
4. Ðức Chúa
Trời hiện ra cùng Ba-la-am, và Ba-la-am thưa cùng Ngài rằng: Tôi có lập
bảy cái bàn thờ, và trên mỗi bàn thờ tôi có dâng một con bò đực và một con
chiên đực.
5. Ðức Giê-hô-va để lời trong miệng Ba-la-am và phán rằng:
Hãy trở về cùng Ba-lác và nói như vậy.
6. Ba-la-am bèn trở về cùng
Ba-lác; nầy, người và các sứ thần Mô-áp đứng gần của lễ thiêu vua.
7.
Ba-la-am bèn nói lời ca mình mà rằng: Ba-lác, vua Mô-áp, sai vời tôi từ
A-ram, Từ những núi Ðông-phương, và nói: Hãy đến rủa sả Gia-cốp cho ta!
Hãy đến, giận mắng Y-sơ-ra-ên!
8. Kẻ mà Ðức Chúa Trời không rủa sả, tôi
sẽ rủa sả làm sao? Kẻ mà Ðức Chúa Trời không giận mắng, tôi sẽ giận mắng
làm sao?
9. Vì từ đỉnh các núi, tôi thấy người, Từ đầu cao gò đống, tôi
nhìn người: Kìa, là một dân ở riêng ra, Sẽ không nhập số các nước.
10.
Ai đếm được bụi cát của Gia-cốp, Ai tu bộ được phần tư của Y-sơ-ra-ên?
Người công chánh thác thể nào, tôi nguyện thác thể ấy; Cuối cùng người
nghĩa làm sao, tôi nguyện cuối cùng tôi làm vậy!
11. Bấy giờ, Ba-lác
nói cùng Ba-la-am rằng: Ngươi đã làm chi với ta? Ta thỉnh ngươi để rủa sả
những thù nghịch ta, kìa ngươi lại chúc phước cho!
12. Người đáp rằng:
Tôi há không nên cẩn thận nói điều Giê-hô-va đặt vào miệng tôi sao?
13.
Ba-lác bèn nói: Vậy, hãy đến cùng ta trong một chỗ khác, là nơi ngươi sẽ
thấy dân nầy, vì ngươi chỉ đã thấy ở đầu cùng nó, chớ không thấy hết; ở đó
hãy rủa sả nó cho ta.
14. Vậy, người dẫn Ba-la-am đến đồng Xô-phim,
trên chót núi Phích-ga, lập bảy cái bàn thờ, và trên mỗi cái dâng một con
bò đực và một con chiên đực.
15. Ba-la-am bèn nói cùng Ba-lác rằng: Hãy
đứng đây gần của lễ thiêu của vua, còn tôi sẽ đi lại đó, đón Ðức
Giê-hô-va.
16. Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng Ba-la-am, mà rằng: Hãy trở về
cùng Ba-lác và nói như vậy.
17. Ba-la-am trở về cùng Ba-lác; người và
các sứ thần Mô-áp đứng gần của lễ thiêu của vua. Ba-lác hỏi: Ðức Giê-hô-va
có phán chi?
18. Ba-la-am bèn nói lời ca mình mà rằng: Hỡi Ba-lác, hãy
đứng dậy và nghe! Hỡi con trai Xếp-bô, hãy lắng tai!
19. Ðức Chúa Trời
chẳng phải là người để nói dối, Cũng chẳng phải là con loài người đặng hối
cải. Ðiều Ngài đã nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Ðiều Ngài đã phán, Ngài há
sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao?
20. Nầy, tôi đã lãnh mạng chúc phước; Ngài
đã ban phước, tôi chẳng cải đâu.
21. Ngài chẳng xem tội ác nơi Gia-cốp,
Và không thấy tà vạy trong Y-sơ-ra-ên; Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời người, ở
cùng người, Trong Y-sơ-ra-ên có tiếng reo mừng của vua.
22. Ấy là Ðức
Chúa Trời đã rút dân đó ra khỏi xứ Ê-díp-tô; Chúng có sức mạnh như bò rừng
vậy
23. Không có phù chú nơi Gia-cốp, Cũng chẳng có bói-khoa trong
Y-sơ-ra-ên, Vì đến kỳ định, sẽ nói về Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên rằng: Việc Ðức
Chúa Trời làm lạ là dường nào!
24. Kìa, một thứ dân hưng lên như sư tử
cái, Và dược lên khác nào sư tử đực; Chỉ khi nào đã xé được mồi mới nằm
xuống, Và uống huyết những kẻ bị thương.
25. Bấy giờ, Ba-lác nói cùng
Ba-la-am rằng: Chớ rủa sả họ, nhưng cũng đừng chúc phước cho nữa.
26.
Ba-la-am đáp cùng Ba-lác rằng: Tôi há chẳng có nói: Tôi phải làm mọi điều
Ðức Giê-hô-va sẽ phán dặn sao?
27. Ba-lác lại nói cùng Ba-la-am rằng:
Vậy, hãy lại, ta dẫn ngươi đến một chỗ khác; có lẽ Ðức Chúa Trời sẽ ưng
cho ngươi rủa sả dân nầy tại đó chăng.
28. Ba-lác bèn dẫn Ba-la-am đến
chót núi Phê-ô, đối ngang đồng vắng.
29. Ba-la-am nói cùng Ba-lác rằng:
Tại đây, hãy lập cho tôi bảy cái bàn thờ, và sắm sẵn bảy con bò đực và bảy
con chiên đực.
30. Vậy, Ba-lác làm theo như Ba-la-am đã nói; trên mỗi
bàn thờ, người dâng một con bò đực và một con chiên đực.
Dân-số Ký 24
chọn
đoạn khác
1. Ba-la-am thấy rõ Ðức Giê-hô-va ưng ban phước cho
Y-sơ-ra-ên, thì không cậy đến phù chú như những lần khác; nhưng người xây
mặt về hướng đồng vắng,
2. nhướng mắt lên thấy Y-sơ-ra-ên đóng trại
từng chi phái, và Thần Ðức Chúa Trời cảm động người,
3. bèn nói lời ca
mình mà rằng: Lời ca của Ba-la-am, con trai Bê-ô, Lời ca của người có mắt
mở ra,
4. Lời ca của người nghe lời Ðức Chúa Trời, Xem sự hiện thấy của
Ðấng Toàn năng, Sấp mình xuống và mắt mở ra:
5. Hỡi Gia-cốp! trại ngươi
tốt dường bao! Hỡi Y-sơ-ra-ên! nhà tạm ngươi đẹp biết mấy!
6. Nó trương
ra như trũng núi, Khác nào cảnh vườn ở nơi mé sông, Tợ cây trầm hương mà
Ðức Giê-hô-va đã trồng, Tỉ như cây hương nam ở nơi mé nước.
7. Nước
chảy tràn ngoài thùng chứa, Hột giống của người nhuần tưới dư dật, Vua
người sẽ trổi cao hơn A-gát, Nước người được cao lên.
8. Ðức Chúa Trời
đã dẫn người ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Người có sức mạnh như bò rừng, Sẽ nuốt
các nước, tức kẻ thù nghịch mình, Bẻ gãy xương chúng nó, đánh chúng nó
bằng mũi tên mình.
9. Người sụm xuống, nằm như sư tử đực, khác nào sư
tử cái: Ai dễ khiến ngồi lên? Phước cho kẻ nào chúc phước ngươi, Rủa sả kẻ
nào rủa sả ngươi.
10. Bấy giờ, Ba-lác nổi giận cùng Ba-la-am, vỗ tay mà
nói cùng Ba-la-am rằng: Ta đã thỉnh ngươi đặng rủa sả kẻ thù nghịch ta;
nầy, ngươi lại chúc phước cho chúng nó đã ba lần rồi!
11. Vậy, bây giờ,
khá chạy trở về xứ ngươi! Ta đã nói ta sẽ tôn ngươi vinh hiển, nhưng nầy,
Ðức Giê-hô-va đã cản ngươi nhận lãnh.
12. Ba-la-am đáp cùng Ba-lác
rằng: Tôi há chẳng có nói cùng các sứ giả vua đã sai đến tôi rằng:
13.
Dầu Ba-lác cho tôi nhà người đầy bạc và vàng, tôi cũng chẳng được vượt qua
mạng Ðức Giê-hô-va để làm tự ý điều phải hay là điều quấy; tôi phải nói
điều chi Ðức Giê-hô-va sẽ phán!
14. Nầy, bây giờ, tôi trở cùng dân tôi,
hãy lại, tôi sẽ cáo cho vua biết điều dân nầy ngày sau cùng sẽ làm cho dân
sự vua.
15. Người bèn nói lời ca mình mà rằng: Lời ca của Ba-la-am, con
trai Bê-ô, Lời ca của người có mắt mở ra;
16. Lời ca của người nghe lời
Ðức Chúa Trời, Biết sự tri thức của Ðấng Chí cao, Xem sự hiện thấy của
Ðấng Toàn năng, Sấp mình xuống mà mắt tự mở ra:
17. Tôi thấy Người,
nhưng chẳng phải bây giờ; Tôi xem Người, nhưng chẳng phải ở gần; Một ngôi
sao hiện ra từ Gia-cốp, Một cây phủ việt trồi lên từ Y-sơ-ra-ên; Người sẽ
đâm lủng Mô-áp từ đầu nầy tới đầu kia, Hủy diệt dân hay dấy giặc
nầy.
18. Người sẽ được Ê-đôm làm cơ nghiệp; Sẽ được Sê-i-rơ, là kẻ thù
nghịch mình, làm sản nghiệp. Y-sơ-ra-ên sẽ tỏ ra sự cường thạnh
mình.
19. Ðấng ra từ Gia-cốp sẽ cầm quyền, Người sẽ diệt những dân sót
của thành.
20. Ba-la-am cũng thấy A-ma-léc, bèn nói lời ca mình rằng:
A-ma-léc đứng đầu các nước; Nhưng sau cùng người sẽ bị diệt vong.
21.
Kế đó, Ba-la-am thấy người Kê-nít, bèn nói lời ca mình rằng: Chỗ ở ngươi
là bền vững, Ổ ngươi đóng trong hòn đá.
22. Nhưng Ca-in sẽ bị hư nát,
Cho đến khi A-su-rơ bắt dẫn tù ngươi.
23. Người còn nói lời ca mình
rằng: Ôi! khi Ðức Chúa Trời đã làm các điều nầy, ai sẽ còn sống?
24.
Nhưng sẽ có những tàu từ gành Kít-tim đến, Hà khắc A-su, hà khắc Hê-be.
Rồi chính người cũng sẽ bị tuyệt diệt.
25. Ðoạn, Ba-la-am đứng dậy đi
về bổn xứ. Ba-lác cũng lên đường.
Dân-số Ký 25 chọn
đoạn khác
1. Dân Y-sơ-ra-ên
ở tại Si-tim, khởi thông dâm cùng những con gái Mô-áp.
2. Con gái mời
dân sự ăn sinh lễ cúng các thần mình; dân sự ăn và quì lạy trước các thần
chúng nó.
3. Y-sơ-ra-ên cũng thờ thần Ba-anh-Phê-ô, cơn giận của Ðức
Giê-hô-va bèn nổi lên cùng Y-sơ-ra-ên.
4. Ðức Giê-hô-va phán cùng
Môi-se rằng: Hãy bắt các đầu trưởng của dân sự, và treo lên trước mặt Ðức
Giê-hô-va, đối cùng mặt trời, để cơn giận của Ðức Giê-hô-va xây khỏi
Y-sơ-ra-ên.
5. Vậy, Môi-se nói cùng các quan án Y-sơ-ra-ên rằng: Mỗi
người trong các ngươi phải giết những kẻ nào thuộc về bọn cúng thờ
Ba-anh-Phê-ô.
6. Nầy, một người trong dân Y-sơ-ra-ên dẫn một người nữ
Ma-đi-an đến giữa anh em mình, hiện trước mắt Môi-se và cả hội dân
Y-sơ-ra-ên, đương khi hội chúng khóc tại cửa hội mạc.
7. Phi-nê-a, con
trai Ê-lê-a-sa, cháu A-rôn, thầy tế lễ, thấy sự nầy, bèn đứng dậy giữa hội
chúng, cầm một cây giáo,
8. đi theo người Y-sơ-ra-ên vào trong trại,
đâm ngang dạ dưới của người Y-sơ-ra-ên và người nữ; tai vạ giữa dân
Y-sơ-ra-ên bèn ngừng lại.
9. Vả, có hai mươi bốn ngàn người chết về tai
vạ nầy.
10. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
11. Phi-nê-a, con
trai Ê-lê-a-sa, cháu A-rôn, thầy tế lễ, đã xây dân Y-sơ-ra-ên khỏi cơn
giận ta, vì lòng kỵ tà thúc giục lòng người; vậy, ta không có diệt dân
Y-sơ-ra-ên trong cơn kỵ tà của ta.
12. Bởi cớ đó, hãy cáo cùng người
rằng: Ta ưng cho người sự giao ước bình yên ta;
13. ấy về phần người và
dòng dõi người sẽ là sự giao ước về một chức tế lễ đời đời, bởi vì người
có lòng sốt sắng về Ðức Chúa Trời mình, và có chuộc tội cho dân
Y-sơ-ra-ên.
14. Vả, người Y-sơ-ra-ên bị giết chung với người nữ
Ma-đi-an, tên là Xim-ri, con trai Sa-lu, quan trưởng của một tông tộc,
người Si-mê-ôn.
15. Tên người nữ Ma-đi-an bị giết là Cốt-bi, con gái
Xu-rơ, đầu trưởng của một tông tộc Ma-đi-an.
16. Ðức Giê-hô-va lại phán
cùng Môi-se rằng:
17. Hãy khuấy rối người Ma-đi-an và hãm đánh chúng
nó;
18. vì chúng nó đã lấy mưu chước mình mà khuấy rối các ngươi, dỗ
dành các ngươi về việc cúng thờ Phê-ô, và trong việc của Cốt-bi, con gái
quan trưởng Ma-đi-an, là chị chúng nó đã bị giết trong ngày tai vạ, vì cớ
việc cúng thờ Phê-ô.
Dân-số Ký 26 chọn
đoạn khác
1. Xảy sau tai vạ
nầy, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và Ê-lê-a-sa, con trai A-rôn, thầy tế
lễ, mà rằng:
2. Hãy dựng sổ cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, từ hai mươi tuổi
sắp lên, tùy theo tông tộc của họ, tức là hết thảy người trong Y-sơ-ra-ên
đi ra trận được.
3. Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên trong đồng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô, mà
rằng:
4. Hãy tu bộ dân sự từ hai mươi tuổi sắp lên, như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên, mà đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
5.
Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên. Con trai Ru-bên là Hê-nóc; do nơi
người sanh ra họ Hê-nóc; do nơi Pha-lu sanh họ Pha-lu;
6. do nơi
Hết-rôn sanh họ Hết-rôn; do nơi Cạt-mi sanh ra họ Cạt-mi.
7. Ðó là các
họ của Ru-bên, và những tên người mà người ta tu bộ, cộng được bốn mươi ba
ngàn bảy trăm ba mươi.
8. Con trai Pha-lu là Ê-li-áp.
9. Các con
trai của Ê-li-áp là Nê-mu-ên, Ða-than và A-bi-ram. Ấy là Ða-than và
A-bi-ram nầy, trưởng của hội chúng dấy loạn cùng Môi-se và A-rôn, tại phe
đảng Cô-rê, khi họ dấy loạn cùng Ðức Giê-hô-va.
10. Ấy, khi đất hả
miệng ra nuốt hai người và Cô-rê cùng những kẻ đã hiệp đảng chết luôn, lúc
lửa thiêu nuốt hai trăm rưởi người; họ làm gương như vậy.
11. Nhưng các
con trai Cô-rê không chết.
12. Các con trai Si-mê-ôn, tùy theo họ hàng
mình: do nơi Nê-mu-ên sanh ra họ Nê-mu-ên; do nơi Gia-min sanh ra họ
Gia-min; do nơi Gia-kin sanh ra họ Gia-kin;
13. do nơi Xê-rách sanh ra
họ Xê-rách; do nơi Sau-lơ sanh ra họ Sau-lơ.
14. Ðó là các họ của
Si-mê-ôn: số là hai mươi hai ngàn hai trăm người.
15. Các con trai của
Gát, tùy theo họ hàng mình: do nơi Xê-phôn sanh ra họ Xê-phôn; do nơi
Ha-ghi sanh ra họ Ha-ghi; do nơi Su-ni sanh ra họ Su-ni;
16. do nơi
Óc-ni sanh ra họ Óc-ni; do nơi Ê-ri sanh ra họ Ê-ri;
17. do nơi A-rốt
sanh ra họ A-rốt; do nơi A-rê-li sanh ra họ A-rê-li.
18. Ðó là các họ
của những con trai Gát, tùy theo tu bộ: số là bốn mươi ngàn năm trăm
người.
19. Các con trai Giu-đa: Ê-rơ và Ô-nan; nhưng Ê-rơ và Ô-nan đã
qua đời tại xứ Ca-na-an.
20. Các con trai Giu-đa, tùy theo họ hàng
mình: do nơi Sê-la sanh ra họ Sê-la; do nơi Phê-rết sanh ra họ Phê-rết; do
nơi Xê-rách sanh ra họ Xê-rách.
21. Các con trai của Pha-rết: do nơi
Hết-rôn sanh ra họ Hết-rôn; do nơi Ha-mun sanh ra họ Ha-mun.
22. Ðó là
các họ của Giu-đa, tùy theo tu bộ: số là bảy mươi sáu ngàn năm trăm
người.
23. Các con trai Y-sa-ca, tùy theo họ hàng mình: do nơi Thô-la
sanh ra họ Thô-la; do nơi Phu-va sanh ra họ Phu-va;
24. do nơi Gia-súp
sanh ra họ Gia-súp; do nơi Sim-rôn sanh ra họ Sim-rôn.
25. Ðó là các họ
Y-sa-ca, tùy theo tu bộ: số là sáu mươi bốn ngàn ba trăm người.
26. Các
con trai Sa-bu-lôn, tùy theo họ hàng mình: do nơi Sê-rết sanh ra họ
Sê-rết; do nơi Ê-lôn sanh ra họ Ê-lôn; do nơi Gia-lê-ên sanh ra họ
Gia-lê-ên.
27. Ðó là các họ của Sa-bu-lôn tùy theo tu bộ: số là sáu
mươi ngàn năm trăm người.
28. Các con trai Giô-sép, tùy theo họ hàng
mình, là Ma-na-se và Ép-ra-im.
29. Các con trai Ma-na-se: do nơi Ma-ki
sanh ra họ Ma-ki, Ma-ki sanh Ga-la-át: do nơi Ga-la-át sanh ra họ
Ga-la-át.
30. Nầy là các con trai Ga-la-át: do nơi Giê-xe sanh ra họ
Giê-xe; do nơi Hê-léc sanh ra họ Hê-léc;
31. do nơi Ách-ri-ên sanh ra
họ Ách-ri-ên; do nơi Si-chem sanh ra họ Si-chem;
32. do nơi Sê-mi-đa
sanh ra họ Sê-mi-đa; do nơi Hê-phe sanh ra họ Hê-phe.
33. Vả,
Xê-lô-phát, con trai Hê-phe, không có con trai, nhưng có con gái. Tên các
con gái Xê-lô-phát là Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Thiệt-sa.
34.
Ðó là các họ Ma-na-se, tùy theo tu bộ: số là năm mươi hai ngàn bảy trăm
người.
35. Nầy là các con trai Ép-ra-im, tùy theo họ hàng mình: do nơi
Su-thê-lách sanh ra họ Su-thê-rách; do nơi Bê-ke sanh ra họ Bê-ke; do nơi
Tha-chan sanh ra họ Tha-chan.
36. Nầy là con trai của Su-thê-lách: do
nơi Ê-ran sanh ra họ Ê-ran.
37. Ðó là họ của các con trai Ép-ra-im, tùy
theo tu bộ: số là ba mươi hai ngàn năm trăm người. Ấy là các con trai
Giô-sép, tùy theo họ hàng mình vậy.
38. Các con trai Bên gia-min, tùy
theo họ hàng mình: do nơi Bê-la sanh ra họ Bê-la; do nơi Ách-bên sanh ra
họ Ách-bên, do nơi A-chi-ram sanh ra họ A-chi-ram;
39. do nơi
Sê-phu-pham sanh ra họ Sê-phu-pham; do nơi Hu-pham sanh ra họ
Hu-pham.
40. Các con trai Bê-la là A-rết và Na-a-man; do nơi A-rết sanh
ra họ A-rết; do nơi Na-a-man sanh ra họ Na-a-man.
41. Ðó là các con
trai Bên-gia-min, tùy theo họ hàng và tùy theo tu bộ: số là bốn mươi lăm
ngàn sáu trăm người.
42. Nầy là các con trai của Ðan, tùy theo họ hàng
mình: do nơi Su-cham sanh ra họ Su-cham. Ðó là họ của Ðan;
43. họ
Su-cham, tùy theo tu bộ: số là sáu mươi bốn ngàn bốn trăm người.
44.
Các con trai A-se, tùy theo họ hàng mình: do nơi Di-ma sanh ra họ Di-ma;
do nơi Dích-vi sanh ra họ Dích-vi; do nơi Bê-ri-a sanh ra họ
Bê-ri-a.
45. Các con trai Bê-ri-a: do nơi Hê-be sanh ra họ Hê-be; do
nơi Manh-ki-ên sanh ra họ Manh-ki-ên.
46. Tên của con gái A-se là
Sê-rách.
47. Ðó là những họ của các con trai A-se, tùy theo tu bộ: số
là năm mươi ba ngàn bốn trăm người.
48. Các con trai Nép-ta-li, tùy
theo họ hàng mình: do nơi Giát-sê-ên sanh ra họ Giát-sê-ên; do nơi Gu-ni
sanh ra họ Gu-ni;
49. do nơi Dít-se sanh ra họ Dít-se: do nơi Si-lem
sanh ra họ Si-lem.
50. Ðó là các họ của Nép-ta-li, tùy theo họ hàng và
tu bộ mình: số là bốn mươi lăm ngàn bốn trăm người.
51. Ðó là những
người trong dân Y-sơ-ra-ên mà người ta tu bộ lại: số là sáu trăm một ngàn
bảy trăm ba mươi người.
52. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
53.
Phải tùy theo số các danh mà chia xứ ra cho những người nầy làm sản
nghiệp;
54. chi phái nào số dân đông thì ngươi phải cho một sản nghiệp
lớn hơn, chi phái nào số dân ít, thì phải cho một sản nghiệp nhỏ hơn, tức
là phải cho mỗi chi phái sản nghiệp mình cân phân cùng số tu bộ.
55.
Nhưng phải bắt thăm mà chia xứ ra; dân Y-sơ-ra-ên sẽ lãnh phần sản nghiệp
mình theo tên của các chi phái tổ tông.
56. Phải tùy sự bắt thăm mà
chia sản nghiệp ra cho mỗi chi phái, hoặc số dân đông hay ít.
57. Nầy
là người Lê-vi mà người ta tu bộ lại, tùy theo họ hàng mình: do nơi
Ghẹt-sôn sanh ra họ Ghẹt-sôn; do nơi Kê-hát sanh ra họ Kê-hát; do nơi
Mê-ra-ri sanh ra họ Mê-ra-ri.
58. Nầy là các họ Lê-vi: họ Líp-ni, họ
Hếp-rôn, họ Mách-li, họ Mu-si, họ Cô-rê. Vả, Kê-hát sanh Am-ram.
59.
Tên vợ Am-ram là Giô-kê-bết, con gái của Lê-vi, sanh trong xứ Ê-díp-tô;
nàng sanh cho Am-ram, A-rôn, Môi-se và chị của hai người là
Mi-ri-am.
60. Còn A-rôn sanh Na-đáp và A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và
Y-tha-ma.
61. Nhưng Na-đáp và A-bi-hu chết trong khi dâng một thứ lửa
lạ trước mặt Ðức Giê-hô-va.
62. Những nam đinh mà người ta tu bộ từ một
tháng sắp lên, cộng được hai mươi ba ngàn; vì người Lê-vi không được kể
vào số tu bộ của dân Y-sơ-ra-ên, bởi người Lê-vi không được phần sản
nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên.
63. Ðó là sự tu bộ mà Môi-se và Ê-lê-a-sa,
thầy tế lễ, làm về dân Y-sơ-ra-ên trong đồng bằng Mô-áp gần Giô-đanh, đối
ngang Giê-ri-cô.
64. Trong các người nầy không có một ai thuộc về bọn
mà Môi-se và A-rôn, thầy tế lễ, đã kiểm soát khi hai người tu bộ dân
Y-sơ-ra-ên tại đồng vắng Si-na-i.
65. Vì Ðức Giê-hô-va có phán về bọn
đó rằng: Chúng nó hẳn sẽ chết trong đồng vắng! Vậy, chẳng còn lại một tên,
trừ ra Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, và Giô-suê, con trai Nun.
Dân-số Ký 27
chọn
đoạn khác
1. Các con gái của Xê-lô-phát, là con trai Hê-phe, cháu của
Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, thuộc về họ hàng Ma-na-se, là
con trai của Giô-sép, đến gần; đây là tên của con gái người: Mách-la,
Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Thiệt-sa.
2. Các con gái đó đến ra mắt Môi-se,
Ê-lê-a-sa thầy tế lễ, các quan trưởng, và cả hội chúng tại cửa hội mạc, mà
nói rằng:
3. Cha chúng tôi đã chết trong đồng vắng; người chẳng phải về
phe đảng của kẻ hiệp lại nghịch cùng Ðức Giê-hô-va tức là phe đảng Cô-rê;
nhưng người chết vì tội lỗi mình, và không có con trai.
4. Cớ sao danh
cha chúng tôi bị trừ ra khỏi giữa họ người, bởi không có con trai? Hãy cho
chúng tôi một phần sản nghiệp giữa anh em của cha chúng tôi.
5. Môi-se
bèn đem cớ sự của các con gái ấy đến trước mặt Ðức Giê-hô-va.
6. Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
7. Các con gái Xê-lô-phát nói có lý;
ngươi phải cho chúng nó một phần sản nghiệp giữa anh em của cha chúng nó,
tức là phải giao cho chúng nó sản nghiệp của cha chúng nó.
8. Ngươi
cũng phải nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi một người nào chết không có
con trai, thì các ngươi phải giao sản nghiệp của người lại cho con gái
người.
9. Nhược bằng không có con gái, thì phải giao sản nghiệp cho anh
em người.
10. Ví bằng người không có anh em, thì phải giao sản nghiệp
cho chú bác người.
11. Nếu không có chú bác, thì phải giao sản nghiệp
người cho người bà con gần hơn hết; và người ấy sẽ được lấy làm của. Ấy sẽ
là một luật lệ để định cho dân Y-sơ-ra-ên, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
12. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy lên trên núi
A-ba-rim nầy và nhìn xem xứ mà ta đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên.
13. Ngươi
sẽ nhìn xem xứ đó, rồi ngươi cũng sẽ được về cùng tổ phụ, như A-rôn, anh
ngươi, đã được về vậy;
14. bởi vì, tại đồng vắng Xin, các ngươi có bội
nghịch mạng lịnh ta, trong lúc hội chúng cãi cọ, và vì trước mặt chúng nó,
các ngươi không tôn ta nên thánh về việc nước. Ấy là nước về sự cãi cọ tại
Ca-đe, trong đồng vắng Xin.
15. Môi-se thưa cùng Ðức Giê-hô-va
rằng:
16. Lạy Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời của thần linh mọi xác thịt,
xin Ngài lập trên hội chúng một người
17. để vào ra trước mặt chúng nó
khiến chúng nó ra vào, hầu cho hội chúng của Ðức Giê-hô-va chớ như con
chiên không người chăn.
18. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy
chọn lấy Giô-suê con trai của Nun, người có Thần cảm động; phải đặt tay
trên mình người;
19. rồi đem người ra mắt Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và cả
hội chúng, truyền lịnh cho người trước mặt họ,
20. và trao phần vinh
hiển ngươi lại cho người, hầu cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên nghe
người.
21. Người phải ra mắt Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, rồi người sẽ vì
Giô-suê cầu hỏi sự xét đoán của u-rim trước mặt Ðức Giê-hô-va; theo lịnh
Ê-lê-a-sa, người và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra và đi vào.
22.
Vậy, Môi-se làm y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn mình, chọn lấy Giô-suê để
trước mặt Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và trước mặt cả hội chúng,
23. đặt tay
trên mình người, và truyền lịnh cho, y như Ðức Giê-hô-va đã cậy Môi-se
phán dặn vậy.
Dân-số Ký
28 chọn
đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se
rằng:
2. Hãy truyền lịnh nầy cho dân Y-sơ-ra-ên mà rằng: Các ngươi phải
lo dâng cho ta trong kỳ định lễ vật và thực vật của ta, cùng các của lễ
dùng lửa dâng lên có mùi thơm cho ta.
3. Vậy, ngươi phải nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là của lễ dùng lửa đốt mà các ngươi sẽ dâng cho Ðức
Giê-hô-va: Mỗi ngày, hai con chiên con đực giáp năm, không tì vít, làm của
lễ thiêu hằng hiến.
4. Ngươi phải dâng con nầy vào buổi sớm mai và con
kia vào buổi chiều tối;
5. còn về của lễ chay, thì phải dâng một phần
mười ê-pha bột lọc nhồi với một phần tư hin dầu ô-li-ve ép.
6. Ấy là
của lễ thiêu hằng hiến đã lập tại núi Si-na-i. là một của lễ dùng lửa dâng
lên có mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
7. Lễ quán sẽ bằng một phần tư hin
rượu cho mỗi một chiên con. Ngươi phải dâng lễ quán bằng rượu cho Ðức
Giê-hô-va trong nơi thánh.
8. Ngươi phải dâng chiên con kia vào buổi
chiều tối, và làm một của lễ chay và một lễ quán như buổi sớm mai; ấy là
một của lễ dùng lửa dâng lên có mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
9. Ngày
sa-bát, ngươi phải dâng hai chiên con đực giáp năm, không tì vít, và hai
phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu làm của lễ chay với lễ quán cặp
theo.
10. Ấy là của lễ thiêu về mỗi ngày sa-bát, ngoại trừ của lễ thiêu
hằng hiến và lễ quán cặp theo.
11. Mỗi đầu tháng, các ngươi phải dâng
cho Ðức Giê-hô-va hai con bò đực tơ, một con chiên đực, và bảy chiên con
đực giáp năm, không tì vít, làm của lễ thiêu;
12. ba phần mười ê-pha
bột lọc nhồi dầu dùng làm của lễ chay về mỗi con bò đực; hai phần mười
ê-pha bột lọc nhồi dầu dùng làm của lễ chay về con chiên đực;
13. một
phần mười ê-pha bột lọc nhồi dầu dùng làm của lễ chay về mỗi con chiên
con. Ấy là một của lễ thiêu có mùi thơm, tức một của lễ dùng lửa dâng cho
Ðức Giê-hô-va.
14. Lễ quán sẽ bằng phân nửa hin rượu nho về mỗi con bò
đực, một phần ba hin về con chiên đực và một phần tư hin về mỗi con chiên
con. Ấy là của lễ thiêu về các đầu tháng trong năm.
15. Ngoại trừ của
lễ thiêu hằng hiến và lễ quán cặp theo, cũng phải dâng cho Ðức Giê-hô-va
một con dê đực làm của lễ chuộc tội.
16. Ngày mười bốn tháng giêng,
phải giữ lễ Vượt-qua cho Ðức Giê-hô-va.
17. Qua ngày mười lăm sẽ là
ngày lễ; phải ăn bánh không men trong bảy ngày.
18. Ngày thứ nhứt các
ngươi sẽ có sự hội hiệp thánh: chớ nên làm một công việc xác thịt
nào.
19. Các ngươi phải dâng cho Ðức Giê-hô-va hai con bò đực tơ, và
bảy chiên con đực giáp năm, đều không tì vít, làm của lễ thiêu.
20. Của
lễ chay sẽ bằng bột lọc nhồi dầu; các ngươi phải dâng ba phần mười ê-pha
về một con bò đực, hai phần mười ê-pha về con chiên đực,
21. và một
phần mười ê-pha về mỗi chiên con,
22. luôn một con dê đực làm của lễ
chuộc tội, đặng làm lễ chuộc tội cho các ngươi.
23. Các ngươi phải dâng
các lễ vật nầy, ngoài của lễ thiêu buổi sớm mai, là một của lễ thiêu hằng
hiến.
24. Mỗi bữa trong bảy ngày, các ngươi phải dâng những lễ vật ngần
ấy, như thực vật về của lễ dùng lửa dâng lên có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va. Người ta phải dâng lễ vật đó ngoài của lễ thiêu hằng hiến và lễ
quán cặp theo.
25. Ngày thứ bảy các ngươi sẽ có sự hội hiệp thánh, chớ
nên làm một công việc xác thịt nào.
26. Trong kỳ lễ của các tuần, nhằm
ngày hoa quả đầu mùa, khi các ngươi dâng cho Ðức Giê-hô-va của lễ chay
mới, thì phải có sự hội hiệp thánh; chớ nên làm một công việc xác thịt
nào.
27. Các ngươi sẽ dùng hai con bò đực tơ, một con chiên đực, và bảy
chiên con đực giáp năm, đặng làm của lễ thiêu có mùi thơm cho Ðức
Giê-hô-va;
28. của lễ chay sẽ bằng bột lọc nhồi dầu, ba phần mười ê-pha
về mỗi con bò đực, hai phần mười ê-pha về con chiên đực,
29. một phần
mười ê-pha về mỗi con chiên con;
30. cũng phải dâng một con dê đực, để
làm lễ chuộc tội cho mình.
31. Ngoài của lễ thiêu hằng hiến và của lễ
chay cặp theo, các ngươi cũng phải dâng mấy lễ vật đó, không tì vít, và
thêm những lễ quán cặp theo.
Dân-số Ký 29 chọn
đoạn khác
1. Ngày mồng một
tháng bảy, các ngươi sẽ có sự nhóm hiệp thánh; chớ nên làm một công việc
xác thịt nào; về phần các ngươi, ấy sẽ là một ngày người ta thổi kèn
vậy.
2. Các ngươi phải dùng một con bò đực tơ, một con chiên đực, và
bảy chiên con đực giáp năm, không tì vít, dâng làm của lễ thiêu có mùi
thơm cho Ðức Giê-hô-va,
3. luôn với của lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu,
ba phần mười ê-pha về con bò đực, hai phần mười ê-pha về con chiên
đực,
4. một phần mười ê-pha về mỗi con chiên con;
5. và dâng một con
dê đực làm của lễ chuộc tội, để làm lễ chuộc tội cho các ngươi;
6. các
ngươi phải dâng những lễ vật nầy ngoài của lễ thiêu đầu tháng, và của lễ
chay cặp theo, của lễ thiêu hằng hiến, và của lễ chay với lễ quán cặp
theo, tùy theo những lệ đã định về mấy của lễ đó, mà làm của lễ dùng lửa
dâng lên có mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va.
7. Ngày mồng mười tháng bảy
nầy, các ngươi sẽ có sự nhóm hiệp thánh, phải ép linh hồn mình, chớ nên
làm một công việc xác thịt nào.
8. Các ngươi phải dâng một con bò đực
tơ, một con chiên đực, và bảy chiên con đực giáp năm, không tì vít, làm
của lễ thiêu có mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va:
9. của lễ chay sẽ bằng bột
lọc nhồi dầu, ba phần mười ê-pha về con bò đực, hai phần mười ê-pha về con
chiên đực,
10. một phần mười ê-pha về mỗi con chiên con.
11. Các
ngươi phải dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ chuộc
tội mà người ta dâng trong ngày chuộc tội, của lễ thiêu hằng hiến và của
lễ chay với lễ quán cặp theo.
12. Ngày rằm tháng bảy, các ngươi sẽ có
sự nhóm hiệp thánh. Chớ nên làm một công việc xác thịt nào, nhưng các
ngươi phải giữ một lễ cho Ðức Giê-hô-va trong bảy ngày.
13. Các ngươi
phải dùng mười ba con bò đực tơ, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con
đực giáp năm, không tì vít, dâng làm của lễ thiêu, tức là của lễ dùng lửa
dâng lên có mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va:
14. của lễ chay cặp theo sẽ
bằng bột lọc nhồi dầu, ba phần mười ê-pha về mỗi con bò đực, hai phần mười
ê-pha về mỗi con chiên đực,
15. và một phần mười ê-pha về mỗi con chiên
con.
16. Các ngươi cũng phải dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội,
ngoài của lễ thiêu hằng hiến, và của lễ chay với lễ quán cặp theo.
17.
Ngày thứ hai, các ngươi phải dâng mười hai con bò đực tơ, hai con chiên
đực, mười bốn chiên con đực giáp năm, không tì vít,
18. với của lễ chay
và các lễ quán về những bò đực, chiên đực, và chiên con cứ theo số như lệ
đã định.
19. Các ngươi phải dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội,
ngoài của lễ thiêu hằng hiến cùng lễ quán cặp theo.
20. Ngày thứ ba,
các ngươi phải dâng mười một con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn chiên
con đực giáp năm, không tì vít,
21. với của lễ chay và các lễ quán về
những bò đực, chiên đực và chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
22.
Các ngươi phải dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ quán cặp theo.
23. Ngày thứ tư,
các ngươi phải dâng mười con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn chiên con
đực giáp năm, không tì vít,
24. với của lễ chay và các lễ quán về những
bò đực, chiên đực, và chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
25. Các
ngươi phải dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ thiêu
hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ quán cặp theo.
26. Ngày thứ năm, các
ngươi phải dâng chín con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn chiên con đực
giáp năm, không tì vít,
27. với của lễ chay và các lễ quán về những bò
đực, chiên đực, và chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
28. Các ngươi
phải dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ thiêu hằng
hiến, cùng của lễ chay và lễ quán cặp theo.
29. Ngày thứ sáu, các ngươi
phải dâng tám con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn chiên con đực giáp
năm, không tì vít,
30. với của lễ chay và các lễ quán về những bò đực;
chiên đực, và chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
31. Các ngươi phải
dâng một con dê đực làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ thiêu hằng hiến,
cùng của lễ chay và lễ quán cặp theo.
32. Ngày thứ bảy, các ngươi phải
dâng bảy con bò đực, hai con chiên đực, mười bốn chiên con đực giáp năm,
không tì vít,
33. với của lễ chay và các lễ quán về những bò đực, chiên
đực, và chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
34. Các ngươi phải dâng
một con dê đực làm của lễ chuộc tội, ngoài của lễ thiêu hằng hiến, cùng
của lễ chay và lễ quán cặp theo.
35. Ngày thứ tám, các ngươi phải có sự
nhóm hiệp trọng thể; chớ nên làm một công việc xác thịt nào;
36. phải
dùng một con bò đực, một con chiên đực, và bảy chiên con đực giáp năm,
không tì vít, dâng làm của lễ thiêu, tức là của lễ dùng lửa dâng lên có
mùi thơm cho Ðức Giê-hô-va,
37. với của lễ chay và các lễ quán về những
bò đực, chiên đực, và chiên con, cứ theo số như lệ đã định.
38. Các
ngươi phải dâng một con dê đực làm của của lễ chuộc tội, ngoài của lễ
thiêu hằng hiến, cùng của lễ chay và lễ quán cặp theo.
39. Ðó là những
lễ vật mà các ngươi phải dâng cho Ðức Giê-hô-va trong những ngày lễ trọng
thể mình, đặng làm của lễ thiêu, của lễ chay, lễ quán, và làm của lễ thù
ân, ngoài những của lễ hứa nguyện, và những của lễ lạc ý của các
ngươi.
40. (30:1) Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên mọi điều Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn người.
Dân-số Ký 30 chọn
đoạn khác
1. (30:2) Môi-se
cũng nói cùng những quan trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên rằng: Này là
điều mà Ðức Giê-hô-va đã phán:
2. (30:3) Khi một người nào có hứa
nguyện cùng Ðức Giê-hô-va, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ một
sự gì, thì chớ nên thất tín. Mọi lời ra khỏi miệng người, người phải làm
theo.
3. (30:4) Khi một người nữ, trong buổi còn thơ ấu, ở nhà cha
mình, có hứa nguyện cùng Ðức Giê-hô-va, và buộc lấy lòng mình phải giữ một
điều chi,
4. (30:5) nếu người cha đã biết lời hứa nguyện nàng, và sự
buộc lòng nàng tự chịu lấy, mà đối với nàng vẫn làm thinh, thì nàng phải
làm y lời hứa nguyện, và giữ mọi sự buộc lòng mình mà nàng tự chịu
lấy.
5. (30:6) Còn nhược bằng ngày nào cha màng biết mà cấm đi, thì
nàng sẽ không mắc lời hứa nguyện mình hay là các sự buộc lòng giữ mà nàng
đã tự chịu lấy; Ðức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng, vì cha nàng cấm nàng
vậy.
6. (30:7) Nếu người nữ ấy đã kết hôn, hoặc vì hứa nguyện, hoặc vì
lời chi lỡ ra khỏi môi mà nàng đã chịu lấy một sự buộc mình,
7. (30:8)
nhược bằng ngày nào chồng nàng hay mà đối cùng nàng vẫn làm thinh, thì
nàng phải làm y lời hứa nguyện, và giữ những sự buộc lòng mình mà nàng tự
chịu lấy.
8. (30:9) Còn nếu ngày nào chồng đã biết, cấm nàng đi, hủy
lời hứa nguyện mà nàng mắc đó và lời gì lỡ ra khỏi môi, mà vì cớ đó nàng
đã buộc lấy mình, thì Ðức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng.
9. (30:10) Lời
hứa nguyện của một người đàn bà góa hoặc một người đàn bà bị để, mọi điều
chi người đã buộc mình, thì phải giữ lấy.
10. (30:11) Nếu một người đàn
bà đã hứa nguyện trong nhà chồng mình, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình
phải giữ một sự gì,
11. (30:12) và nếu chồng đã hay, vẫn làm thinh cùng
nàng, không cấm, thì nàng phải làm y lời hứa nguyện và giữ mọi sự buộc
lòng mà nàng đã tự chịu lấy.
12. (30:13) Nhưng nhược bằng ngày nào
chồng nàng hay biết, hủy đi, thì mọi lời đã ra khỏi môi về những sự hứa
nguyện, và về sự buộc lòng mình sẽ bị hủy đi; chồng nàng đã hủy các lời
đó, thì Ðức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng.
13. (30:14) Chồng nàng có
thể ưng hay hủy mọi sự hứa nguyện, và mọi lời thề mà nàng sẽ buộc mình
đặng ép linh hồn mình.
14. (30:15) Nhược bằng chồng vẫn làm thinh cùng
nàng ngày nay qua ngày mai, như vậy chồng ưng các sự hứa nguyện của nàng;
chồng ưng, vì không nói chi ngày mà người đã hay biết.
15. (30:16) Còn
nếu chồng hủy các sự hứa nguyện một ít lâu sau khi đã hay biết thì chồng
sẽ mang sự hình phạt về tội lỗi của vợ mình.
16. (30:17) Ðó là các lệ
định mà Ðức Giê-hô-va truyền cho Môi-se về một người chồng và vợ mình, một
người cha và con gái mình, buổi thơ ấu khi còn ở nhà cha.
Dân-số Ký 31
chọn
đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy báo
thù dân Ma-đi-an cho dân Y-sơ-ra-ên; rồi ngươi sẽ được về cùng tổ
phụ.
3. Vậy, Môi-se truyền cho dân sự rằng: Trong các ngươi hãy sắm sửa
binh khí mà ra trận hãm đánh dân Ma-đi-an đặng báo thù dân đó cho Ðức
Giê-hô-va.
4. Về mỗi chi phái Y-sơ-ra-ên, các ngươi phải sai một ngàn
lính ra trận.
5. Vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên người ta cứ mỗi chi phái
chọn một ngàn lính, là mười hai ngàn người sắm sửa binh khí đặng ra
trận.
6. Môi-se sai mười hai ngàn người đó ra trận, tức là sai một ngàn
người về mỗi chi phái, với Phi-nê-a, con trai của Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ,
đem đi theo mình, những khí giới thánh cùng kèn có tiếng vang.
7. Vậy,
chúng giao chiến cùng dân Ma-đi-an, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se, và giết hết thảy nam đinh.
8. Trong các người bị giết chúng
cũng giết năm vua Ma-đi-an, là: Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ, và Rê-ba; cũng
lấy gươm giết Ba-la-am, con trai của Bê-ô.
9. Dân Y-sơ-ra-ên bắt đàn bà
và con nít Ma-đi-an dẫn theo, cướp hết thảy súc vật, bầy chiên và của cải
họ,
10. đốt hết những thành, nhà ở, và hương thôn chúng nó,
11. cũng
lấy đem theo hết thảy của đoạt được, bất kỳ người hay vật.
12. Chúng
dẫn những kẻ bị bắt và những của đoạt được đến cho Môi-se, cho Ê-lê-a-sa,
thầy tế lễ, và cho hội dân Y-sơ-ra-ên đương đóng trại tại đồng bằng Mô-áp,
gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.
13. Bấy giờ, Môi-se, Ê-lê-a-sa,
thầy tế lễ, và hết thảy hội trưởng đi ra đón rước chúng binh ngoài trại
quân.
14. Môi-se nổi giận cùng các quân trưởng, tức là quan tướng một
ngàn quân và quan tướng một trăm quân đi đánh giặc nầy trở về.
15.
Môi-se nói cùng họ rằng: Các ngươi để hết thảy người nữ còn sống
sao?
16. Kìa, ấy là chúng nó theo mưu kế của Ba-la-am mà dụ dỗ dân
Y-sơ-ra-ên cùng thờ Phê-ô, và phạm một tội trọng cùng Ðức Giê-hô-va; và
tội đó xui cho hội chúng của Ðức Giê-hô-va bị tai vạ.
17. Vậy bây giờ,
hãy giết hết thảy nam đinh trong bọn con trẻ, và giết người nữ nào đã kết
bạn cùng một người nam;
18. nhưng hãy để sống cho các ngươi hết thảy
con gái chưa hề kết bạn cùng người nam.
19. Còn về phần các ngươi, hãy
đóng trại ngoài trại quân trong bảy ngày. Ai có giết một người và có đụng
đến một xác chết, thì ai đó cùng kẻ bị bắt, phải dọn cho mình được sạch
ngày thứ ba và ngày thứ bảy.
20. Cũng phải làm cho sạch hết thảy áo
xống, mọi vật bằng da, mọi vật bằng lông dê, và mọi đồ đạc bằng
cây.
21. Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nói cùng những lính trận đi về, mà
rằng: Nầy là điều luật pháp dạy mà Ðức Giê-hô-va đã truyền cho
Môi-se:
22. vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì,
23. tức là mọi vật đưa
vào lửa được, thì các ngươi phải đưa ngang qua lửa đặng luyện nó; nhưng
người ta cũng phải dùng nước tẩy uế mà làm cho nó được sạch nữa. Còn mọi
vật chi không đưa qua lửa được, thì phải ngâm nó trong nước.
24. Ngày
thứ bảy các ngươi phải giặt áo xống mình, thì sẽ được sạch; đoạn mới được
vào trại quân.
25. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
26.
Ngươi, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và các quan trưởng của những tông tộc, hãy
dựng sổ về của giặc mà người ta đã đoạt được, nào người, nào vật,
27.
rồi chia của đó cho các người đã ra trận và cho cả hội chúng.
28. Trong
phần thuộc về quân binh đã ra trận, hoặc người, hoặc bò, hoặc lừa hay
chiên, ngươi phải cứ thâu một phần trong năm trăm mà đóng thuế cho Ðức
Giê-hô-va,
29. tức phải thâu thuế đó trong phân nửa thuộc về quân binh
và giao cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm lễ vật dâng cho Ðức
Giê-hô-va.
30. Còn trong phân nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, hoặc
người, hoặc bò, hoặc lừa hay chiên, tức các súc vật, ngươi phải cứ mỗi năm
chục mà để riêng ra một, và giao cho người Lê-vi có chức phận coi sóc đền
tạm của Ðức Giê-hô-va.
31. Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm y như
Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
32. Vả, của giặc còn lại mà quân binh
cướp lấy được, là sáu trăm bảy mươi lăm ngàn con chiên cái;
33. bảy
mươi hai ngàn con bò,
34. sáu mươi mốt ngàn con lừa đực.
35. Người
nữ chưa kết bạn cùng người nam nào, hết thảy được ba mươi hai ngàn
người.
36. Phân nửa thuộc về kẻ đã đi trận, là ba trăm ba mươi bảy ngàn
năm trăm con chiên cái,
37. đóng thuế cho Ðức Giê-hô-va là sáu trăm bảy
mươi lăm con;
38. ba mươi sáu ngàn con bò, đóng thuế cho Ðức Giê-hô-va
là bảy mươi hai con;
39. ba ngàn năm trăm con lừa đực, và đóng thuế cho
Ðức Giê-hô-va sáu mươi mốt con;
40. mười sáu ngàn người, và đóng thuế
cho Ðức Giê-hô-va là ba mươi hai người.
41. Môi-se giao cho Ê-lê-a-sa,
thầy tế lễ của thuế làm lễ vật dâng cho Ðức Giê-hô-va, y như Ðức Giê-hô-va
đã phán dặn Môi-se.
42. Phân nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, tức là
phân nửa mà Môi-se chia ra với phân nửa của quân binh đã đi trận,
43.
phân nửa nầy thuộc về hội chúng, số là ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm
con chiên cái,
44. ba mươi sáu ngàn con bò,
45. ba mươi ngàn năm
trăm con lừa,
46. và mười sáu ngàn người.
47. Trong phân nửa nầy
thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, Môi-se cứ mỗi năm chục thì để riêng ra một, bất
luận người hay vật, và giao cho người Lê-vi có chức phận coi sóc đền tạm
của Ðức Giê-hô-va, y như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
48. Những quan
trưởng, tức là quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân, đến
gần Môi-se
49. mà rằng: Những kẻ tôi tớ ông đã dựng sổ chiến sĩ, là
người ở dưới quyền chúng tôi, và không thiếu một tên.
50. Mỗi người
trong chúng tôi có đem đến đồ bằng vàng mình đã được, hoặc dây chuyền,
hoặc vòng, hoặc cà-rá, hoặc hoa tai, hoặc kiềng, làm lễ vật dâng cho Ðức
Giê-hô-va đặng chuộc tội cho mình trước mặt Ngài.
51. Môi-se và
Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, bèn nhận lãnh vàng, và hết thảy đồ trang sức làm
công kỹ.
52. Hết thảy vàng về lễ vật mà những quan tướng một ngàn quân
và quan tướng một trăm quân dâng cho Ðức Giê-hô-va, cộng là mười sáu ngàn
bảy trăm năm mươi siếc-lơ.
53. Vả, mỗi người trong quân binh đều có
cướp lấy vật cho mình.
54. Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nhận
lãnh vàng của quan tướng ngàn quân và trăm quân, rồi đem vào hội mạc làm
kỷ niệm về dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Ðức Giê-hô-va.
Dân-số Ký 32
chọn
đoạn khác
1. Vả, con cháu Ru-bên cùng con cháu Gát có bầy súc vật rất
nhiều; thấy xứ Gia-ê-xe và xứ Ga-la-át là đất tiện hiệp nuôi bầy súc
vật:
2. bèn đến thưa cùng Môi-se, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và các hội
trưởng mà rằng:
3. A-ta-rốt, Ði-bôn, Gia-ê-xe, Nim-ra, Hết-bôn,
Ê-lê-a-sa, Sê-bam, Nê-bô và Bê-ôn,
4. xứ mà Ðức Giê-hô-va đã đánh bại
trước mặt hội chúng Y-sơ-ra-ên, là một xứ tiện hiệp nuôi bầy súc vật, và
các tôi tớ ông có bầy súc vật.
5. Lại tiếp rằng: Nếu chúng tôi được ơn
trước mặt ông, chớ chi ban xứ nầy cho kẻ tôi tớ ông làm sản nghiệp, xin
đừng biểu chúng tôi đi ngang qua sông Giô-đanh.
6. Nhưng Môi-se đáp
cùng con cháu Gát và con cháu Ru-bên rằng: Anh em các ngươi há sẽ đi trận,
còn các ngươi ở lại đây sao?
7. Sao các ngươi xui dân Y-sơ-ra-ên trở
lòng, không khứng đi qua xứ mà Ðức Giê-hô-va đã cho?
8. Ấy, tổ phụ các
ngươi cũng làm như vậy khi ở từ Ca-đe-Ba-nê-a, ta sai họ đi do thám
xứ.
9. Vì tổ phụ các ngươi lên đến đèo Ếch-côn, thấy xứ, rồi xui dân
Y-sơ-ra-ên trở lòng, không khứng vào xứ mà Ðức Giê-hô-va đã ban
cho.
10. Trong ngày đó, cơn thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va phừng lên và
Ngài thề rằng:
11. Những người đi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, từ hai mươi
tuổi sắp lên, sẽ chẳng hề thấy xứ mà ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác,
và Gia-cốp, vì các người đó không theo ta cách trung thành,
12. trừ ra
Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là người Kê-nít, và Giô-suê, con trai của
Nun: hai người đó đã theo Ðức Giê-hô-va cách trung thành.
13. Ấy vậy,
cơn thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên, Ngài
làm cho dân đó đi lưu lạc trong đồng vắng bốn mươi năm, cho đến chừng nào
cả dòng dõi đã làm điều ác trước mặt Ðức Giê-hô-va bị tiêu diệt
hết.
14. Nầy các ngươi dấy lên thế cho tổ phụ mình, là dòng dõi tội
nhân, đặng gia thêm sức thạnh nộ của Ðức Giê-hô-va cùng Y-sơ-ra-ên
nữa.
15. Vì nhược bằng các ngươi đi tẻ Ngài ra, thì Ngài sẽ cứ để dân
nầy ở trong đồng vắng, và các ngươi làm cho dân chết sạch hết vậy.
16.
Nhưng các người đó đến gần Môi-se mà rằng: Tại đây, chúng tôi sẽ dựng
chuồng cho súc vật và thành cho con trẻ chúng tôi;
17. rồi chúng tôi
cầm binh khí lập tức đặng đi trước dân Y-sơ-ra-ên cho đến chừng nào đưa
dân ấy vào cõi đã phân định cho họ. Còn con trẻ chúng tôi phải ở trong
thành kiên cố, vì cớ dân bổn xứ.
18. Chúng tôi không trở về nhà chúng
tôi trước khi mọi người trong dân Y-sơ-ra-ên chưa lãnh được sản nghiệp
mình.
19. Chúng tôi sẽ chẳng được chi với dân Y-sơ-ra-ên về bên kia
sông Giô-đanh hay là xa hơn, vì chúng tôi được sản nghiệp mình ở bên nầy
sông Giô-đanh, về phía đông.
20. Môi-se đáp cùng các người rằng: Nếu
các ngươi làm điều đó, nếu cầm binh khí đặng đi chiến trận trước mặt Ðức
Giê-hô-va,
21. nếu mọi người cầm binh khí đi ngang qua sống Giô-đanh
trước mặt Ðức Giê-hô-va, cho đến khi nào đuổi quân-nghịch chạy khỏi trước
mặt Ngài,
22. và nếu chỉ trở về sau khi xứ đã phục trước mặt Ðức
Giê-hô-va, thì đối cùng Ðức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên, các ngươi sẽ không bị
trách móc chi, và đất nầy sẽ làm sản nghiệp cho các ngươi trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
23. Còn nếu không làm như vậy, nầy các ngươi sẽ phạm tội
cùng Ðức Giê-hô-va, và phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các
ngươi.
24. Vậy, hãy cất thành cho con trẻ mình, cùng dựng chuồng cho
bầy súc vật và làm điều các ngươi đã nói.
25. Con cháu Gát và con cháu
Ru-bên bèn nói cùng Môi-se rằng: Các tôi tớ ông sẽ làm điều mà chúa tôi
phán dặn.
26. Con trẻ, vợ, bầy chiên, và hết thảy súc vật chúng tôi sẽ
ở đây trong những thành xứ Ga-la-át;
27. còn hết thảy tôi tớ ông sẽ cầm
binh khí, đi ngang qua, sẵn ngừa mà chiến trận trước mặt Ðức Giê-hô-va,
như chúa tôi đã phán dặn.
28. Vậy, Môi-se về phần các người đó truyền
lịnh cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, cho Giô-suê, con trai Nun, và cho các quan
trưởng của những chi phái dân Y-sơ-ra-ên,
29. mà rằng: Nếu con cháu Gát
và con cháu Ru-bên cầm binh khí đi ngang qua sông Giô-đanh với các ngươi
đặng chiến trận trước mặt Ðức Giê-hô-va, và nếu xứ phục các ngươi, thì các
ngươi phải ban cho họ xứ Ga-la-át làm sản nghiệp.
30. Nhưng nếu họ
không cầm binh khí mà đi ngang qua với các ngươi, thì họ sẽ có sản nghiệp
giữa các ngươi trong xứ Ca-na-an.
31. Con cháu Gát và con cháu Ru-bên
thưa rằng: Chúng tôi sẽ làm điều chi mà Ðức Giê-hô-va đã phán cùng kẻ tôi
tớ ông.
32. Chúng tôi sẽ cầm binh khí đi qua trong xứ Ca-na-an trước
mặt Ðức Giê-hô-va; nhưng chúng tôi sẽ lãnh sản nghiệp mình về phía bên nầy
sông Giô-đanh.
33. Ấy vậy, Môi-se ban cho con cháu Gát, con cháu
Ru-bên, và phân nữa chi phái Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, nước của
Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và nước của Óc, vua xứ Ba-san, tức là ban xứ với
những thành nó và các thành địa-hạt ở chung quanh.
34. Con cháu Gát bèn
xây cất Ði-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e,
35. Ạt-rốt-Sô-phan, Gia-ê-xe,
Giô-bê-ha,
36. Bết-Nim-ra, và Bết-Ha-ran, là những thành kiên cố. Cũng
dựng chuồng cho bầy súc vật nữa.
37. Con cháu Ru-bên xây cất Hết-bôn,
Ê-lê-a-lê, Ki-ri-a-ta-im,
38. Nê-bô, Ba-anh-Mê-ôn, tên các thành nầy bị
đổi, và Síp-ma; rồi đặt tên cho các thành nào mình xây cất.
39. Con
cháu Ma-ki, là con trai Ma-na-se, đi vào chiếm xứ Ga-la-át và đuổi người
A-mô-rít ở trong đó ra.
40. Vậy, Môi-se ban xứ Ga-la-át cho Ma-ki, là
con trai Ma-na-se, và người ở tại đó.
41. Giai-rơ, là con trai
Ma-na-se, đi chiếm các thôn dân A-mô-rít, đặt tên là thôn Giai-rơ.
42.
Nô-bách đi lấy thành Kê-nát với các thành địa hạt, đặt tên là Nô-bách theo
chánh danh mình.
Dân-số
Ký 33 chọn
đoạn khác
1. Nầy là các nơi đóng trại của dân
Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô tùy theo các đội ngũ, có Môi-se và
A-rôn quản lý.
2. Môi-se vâng mạng Ðức Giê-hô-va chép sự hành trình của
dân chúng, tùy theo các nơi đóng trại. Vậy, nầy là các nơi đóng trại tùy
theo sự hành trình của họ.
3. Ngày rằm tháng giêng, tức ngày sau lễ
Vượt-qua, dân Y-sơ-ra-ên ra đi từ Ram-se, cách dạn dĩ, có mắt của hết thảy
người Ê-díp-tô thấy.
4. Người Ê-díp-tô chôn những kẻ mà Ðức Giê-hô-va
đã hành hại giữa bọn mình, tức là hết thảy con đầu lòng: Ðức Giê-hô-va đã
đoán xét các thần chúng nó.
5. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến đóng
trại tại Su-cốt;
6. rồi đi từ Su-cốt đến đóng trại tại Ê-tam, ở cuối
đồng vắng.
7. Kế đó, đi từ Ê-tam vòng về hướng Phi-Ha-hi-rốt, đối ngang
cùng Ba-anh-Sê-phôn, và đóng trại trước Mít-đôn.
8. Dân Y-sơ-ra-ên bỏ
Phi-Ha-hi-rốt, đi qua giữa biển về hướng đồng vắng đi ba ngày đường ngang
đồng vắng Ê-tam, rồi đóng trại tại Ma-ra.
9. Ðoạn, đi từ Ma-ra đến
Ê-lim; vả, tại Ê-lim có mười hai cái suối và bảy chục cây chà-là, bèn đóng
trại tại đó.
10. Dân sự đi từ Ê-lim và đóng trại gần Biển đỏ.
11.
Ðoạn, di từ Biển đỏ và đóng trại tại đồng vắng Sin.
12. Ði từ đồng vắng
Sin và đóng trại tại Ðáp-ca.
13. Ði từ Ðáp-ca và đóng trại tại
A-lúc.
14. Ði từ A-lúc và đóng trại tại Rê-phi-đim, là nơi không có
nước cho dân sự uống.
15. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Rê-phi-đim và đóng trại
trong đồng vắng Si-na-i.
16. Kế đó, đi từ đồng vắng Si-na-i và đóng
trại tại Kíp-rốt Ha-tha-va.
17. Ði từ Kíp-rốt-Ha-tha-va và đóng trại
tại Hát-sê-rốt.
18. Ðoạn, đi từ Hát-sê-rốt và đóng trại tại
Rít-ma.
19. Ði từ Rít-ma và đóng trại tại Ri-môn Phê-rết.
20. Ði từ
Ri-môn-Phê-rết và đóng trại tại Líp-na.
21. Ði từ Líp-na và đóng trại
tại Ri-sa.
22. Kế đó, đi từ Ri-sa và đóng trại tại Kê-hê-la-tha.
23.
Ði từ Kê-hê-la-tha đóng trại tại núi Sê-phe.
24. Ði từ núi Sê-phe và
đóng trại tại Ha-ra-đa.
25. Ði từ Ha-ra-đa và đóng trại tại
Mác-hê-lốt.
26. Ðoạn, đi từ Mác-hê-lốt và đóng trại tại Ta-hát.
27.
Ði từ Ta-hát và đóng trại tại Ta-rách.
28. Ði từ Ta-rách và đóng trại
tại Mít-ga.
29. Ði từ Mít-ga và đóng trại tại Hách-mô-na.
30. Ði từ
Hách-mô-na và đóng trại tại Mô-sê-rốt.
31. Ði từ Mô-sê-rốt và đóng trại
tại Bê-be-Gia-can.
32. Ði từ Bê-ne-Gia-can và đóng trại tại
Hô-Ghi-gát.
33. Ði từ Hô-Ghi-gát và đóng trại tại Dốt-ba-tha.
34. Ði
từ Dốt-ba-tha và đóng trại tại Áp-rô-na.
35. Ðoạn, đi từ Áp-rô-na và
đóng trại tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.
36. Ði từ Ê-xi-ôn-Ghê-be và đóng trại tại
đồng vắng Xin, nghĩa là tại Ca-đe.
37. Kế đó, đi từ Ca-đe và đóng trại
tại núi Hô-rơ, ở chót đầu xứ Ê-đôm.
38. A-rôn, thầy tế lễ, theo mạng
Ðức Giê-hô-va lên trên núi Hô-rơ, rồi qua đời tại đó, nhằm ngày mồng một
tháng năm, năm thứ bốn mươi sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
39. Khi A-rôn qua đời trên núi Hô-rơ, người đã được một trăm
hai mươi ba tuổi.
40. Bấy giờ, vua A-rát, là người Ca-na-an, ở miền nam
xứ Ca-na-an, hay rằng dân Y-sơ-ra-ên đến.
41. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ núi
Hô-rơ và đóng trại tại Xa-mô-na.
42. Ði từ Xa-mô-na và đóng trại tại
Phu-nôn.
43. Ði từ Phu-nôn và đóng trại tại Ô-bốt.
44. Kế đó, đi từ
Ô-bốt và đóng trại tại Y-giê-A-ba-rim, trên bờ cõi Mô-áp.
45. Ði từ
Y-giê-A-ba-rim và đóng trại tại Ði-bôn-Gát.
46. Ði từ Ði-bôn-Gát và
đóng trại tại Anh-môn-Ðíp-la-tha-im.
47. Kế ấy, đi từ
Anh-môn-Ðíp-la-tha-im và đóng trại tại núi A-ba-rim trước Nê-bô.
48. Ði
từ núi A-ba-rim và đóng trại tại đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối
ngang Giê-ri-cô.
49. Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại gần đông Giô-đanh, từ
Bết-Giê-si-mốt chi A-bên-Si-tim trong đồng Mô-áp.
50. Ðức Giê-hô-va
phán cùng Môi-se trong đồng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô,
mà rằng:
51. Hãy truyền cùng dân Y-sơ-ra-ên mà rằng: Khi nào các ngươi
đã đi ngang qua sông Giô-đanh đặng vào xứ Ca-na-an rồi,
52. thì phải
đuổi hết thảy dân của xứ khỏi trước mặt các ngươi, phá hủy hết thảy hình
tượng chạm và hình đúc, cùng đạp đổ các nơi cao của chúng nó.
53. Các
ngươi sẽ lãnh xứ làm sản nghiệp và ở tại đó; vì ta đã ban xứ cho các ngươi
đặng làm cơ nghiệp.
54. Phải bắt thăm chia xứ ra tùy theo họ hàng các
ngươi. Hễ ai số đông, các ngươi phải cho một sản nghiệp lớn hơn; còn hễ ai
số ít, thì phải cho một sản nghiệp nhỏ hơn. Mỗi người sẽ nhận lãnh phần
mình bắt thăm được; phải cứ những chi phái tổ phụ các ngươi mà chia xứ
ra.
55. Còn nếu các ngươi không đuổi dân của xứ khỏi trước mặt mình,
thì những kẻ nào trong bọn họ mà các ngươi còn chừa lại, sẽ như gai trong
con mắt, và như chông nơi hông các ngươi, chúng nó sẽ theo bắt riết các
ngươi tại trong xứ các ngươi ở;
56. rồi xảy đến ta sẽ hành hại các
ngươi khác nào ta đã toan hành hại chúng nó vậy.
Dân-số Ký 34 chọn
đoạn khác
1.
Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền điều nầy cho dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Các ngươi sẽ vào xứ Ca-na-an đặng lãnh xứ làm sản
nghiệp, tức là xứ Ca-na-an khắp bốn bề:
3. Miền nam sẽ thuộc về các
ngươi, từ đồng vắng Xin chạy dài theo Ê-đôm. Ấy vậy, giới hạn của các
ngươi về phía nam sẽ chạy từ đầu Biển-mặn về bên hướng đông.
4. Giới
hạn nầy chạy vòng phía nam của núi Ạc-ráp-bim, đi ngang về hướng Xin và
giáp phía nam Ca-đe-Ba-nê-a; đoạn chạy qua Hát-sa-Át-đa, và đi ngang hướng
Át-môn.
5. Từ Át-môn giới hạn chạy vòng về lối suối Ê-díp-tô và giáp
biển.
6. Còn về giới hạn phía tây thì các ngươi sẽ có biển lớn dùng làm
hạn, ấy sẽ là giới hạn về phía Tây.
7. Nầy là giới hạn của các ngươi về
phía Bắc: Từ biển lớn, các ngươi sẽ chấm núi Hô-rơ làm hạn;
8. từ núi
Hô-rơ, các ngươi sẽ chấm tại đầu Ha-mát làm hạn; rồi giới hạn sẽ giáp tại
Xê-đát.
9. Giới hạn sẽ chạy về hướng Xíp-rôn và ăn cuối Hát-sa-Ê-nan,
đó là giới hạn của các ngươi về phía Bắc.
10. Phía đông các ngươi sẽ
chấm ranh mình từ Hát-sa-Ê-nan tới Sê-pham;
11. rồi chạy từ Sê-pham
xuống đến Ríp-la về hướng đông của A-in; đoạn chạy xuống và giáp gành biển
Ki-nê-rết về phía đông.
12. Rốt lại, giới hạn sẽ chạy xuống về phía
sông Giô-đanh và giáp Biển-mặn. Ðó là xứ các ngươi sẽ có, cùng các giới
hạn nó xung quanh vậy.
13. Môi-se bèn truyền lịnh nầy cho dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Ấy đó là xứ các ngươi sẽ bắt thăm chia ra mà Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn cho chín chi phái và phân nửa của một chi
phái.
14. Vì chi phái con cháu Ru-bên, tùy theo tông tộc mình, và chi
phái con cháu Gát, tùy theo tông tộc mình, cùng phân nửa chi phái Ma-na-se
đã lãnh phần sản nghiệp mình rồi.
15. Hai chi phái và nửa chi phái nầy
đã nhận lãnh sản nghiệp mình ở phía bên kia sông Giô-đanh, đối ngang
Giê-ri-cô về hướng đông, tức về phía mặt trời mọc.
16. Ðức Giê-hô-va
lại phán cùng Môi-se rằng:
17. Ðây là tên những người sẽ đứng chia xứ:
Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và Giô-suê, con trai Nun.
18. Các ngươi cũng
phải cứ mỗi chi phái chọn một quan trưởng đặng chia xứ ra.
19. Ðây là
tên các người đó: Về chi phái Giu-đa, Ca-lép, con trai Giê-phu-nê;
20.
về chi phái con cháu Si-mê-ôn, Sê-mu-ên, con trai A-mi-hút;
21. về chi
phái Bên-gia-min, Ê-li-đát, con trai Kít-lon;
22. về chi phái con cháu
Ðan, một quan trưởng tên là Bu-ki, con trai Giốc-li;
23. về con cháu
Giô-sép; về chi phái con cháu Ma-na-se, một quan trưởng tên là Ha-ni-ên,
con trai Ê-phát;
24. và về chi phái con cháu Ép-ra-im, một quan trưởng
tên là Kê-mu-ên, con trai Síp-tan;
25. về chi phái con cháu Sa-bu-lôn,
một quan trưởng tên là Ê-lít-sa-phan, con trai Phác-nát;
26. về chi
phái con cháu Y-sa-ca, một quan trưởng tên là Pha-ti-ên, con trai
A-xan;
27. về chi phái con cháu A-se, một quan trưởng tên là A-hi-hút,
con trai Se-lu-mi;
28. và về chi phái con cháu Nép-ta-li, một quan
trưởng tên là Phê-đa-ên, con trai A-mi-hút.
29. Ðó là những người mà
Ðức Giê-hô-va phán biểu đứng chia sản nghiệp cho dân Y-sơ-ra-ên trong xứ
Ca-na-an.
Dân-số Ký 35
chọn
đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trong
đồng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô, mà rằng:
2. Hãy
biểu dân Y-sơ-ra-ên do trong phần sản nghiệp mình đã có, nhường những
thành cho người Lê-vi đặng ở; cho luôn một miếng đất ở chung quanh các
thành đó.
3. Người Lê-vi sẽ có những thành đặng ở; còn đất chung quanh
các thành nầy sẽ dùng cho súc vật, cho sản vật, và cho hết thảy thú vật
của họ.
4. Ðất chung quanh thành mà các ngươi nhường cho người Lê-vi sẽ
là một ngàn thước chu vi, kể từ vách thành và ở ngoài.
5. Vậy các ngươi
phải đo, phía ngoài thành về hướng đông hai ngàn thước, về hướng nam hai
ngàn thước, về hướng tây hai ngàn thước, và về hướng bắc hai ngàn thước;
cái thành sẽ ở chính giữa. Ðó sẽ là đất của những thành người Lê-vi.
6.
Trong số thành các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi, sẽ có sáu cái thành ẩn
náu mà các ngươi phải chỉ cho, để kẻ sát nhân trốn tránh tại đó; ngoài sáu
thành đó, các ngươi phải nhường cho người Lê-vi bốn mười hai cái
thành.
7. Hết thảy thành các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi luôn với
đất, số là bốn mươi tám cái.
8. Về những thành do trong sản nghiệp của
dân Y-sơ-ra-ên mà các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi phải lấy bớt nhiều
hơn của chi phái có nhiều, và lấy bớt ít hơn của chi phái có ít; mỗi chi
phái nhường cho người Lê-vi những thành cân phân theo sản nghiệp của mình
sẽ được.
9. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
10. Hãy nói
cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã đi qua sông Giô-đanh đặng
vào xứ Ca-na-an,
11. thì phải lựa những thành dùng làm thành ẩn náu cho
mình, là nơi kẻ sát nhân, vì vô ý đánh chết ai, chạy ẩn náu mình
được.
12. Những thành đó sẽ dùng làm thành ẩn náu để trốn khỏi kẻ báo
thù huyết, hầu cho kẻ sát nhân không chết cho đến chừng nào ứng hầu trước
mặt hội chúng đặng chịu xét đoán.
13. Vậy, trong những thành các ngươi
nhường cho, sẽ có sáu thành ẩn náu cho các ngươi.
14. Các ngươi phải
chỉ ba thành phía bên kia sông Giô-đanh, và lập ba thành khác trong xứ
Ca-na-an; ấy sẽ là những thành ẩn náu.
15. Sáu thành nầy sẽ dùng làm
chỗ ẩn náu cho dân Y-sơ-ra-ên, luôn cho khách ngoại bang và kẻ nào kiều
ngụ ở trong dân đó, để ai vì vô ý đánh chết một người có thế chạy ẩn mình
tại đó.
16. Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người bị đánh chết
đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.
17. Nếu người
đánh bằng một cục đá cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết
đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.
18. Cũng vậy,
nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh
chết đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.
19. Ấy
là kẻ báo thù huyết sẽ làm cho kẻ sát nhân phải chết; khi nào kẻ báo thù
huyết gặp kẻ sát nhân thì phải làm cho nó chết đi.
20. Nếu một người
nào vì lòng ganh ghét xô lấn một người khác, hay là cố ý liệng vật chi
trên mình nó, và vì cớ đó nó bị chết;
21. hoặc vì sự thù đánh bằng bàn
tay, và vì cớ đó nó bị chết, thì người nào đánh đó hẳn phải bị xử tử. Ấy
là một kẻ sát nhân; người báo thù huyết khi nào gặp kẻ sát nhân phải làm
cho nó chết đi.
22. Nếu vì tình cờ, vẫn hòa thuận nhau, mà người có lấn
xô, hoặc liệng vật chi trên mình người kia,
23. hoặc nếu không phải thù
nghịch chẳng có ý làm hại, lại không thấy mà làm rớt một cục đá trên mình
người kia, có thế làm chết được, và nếu người chết đi,
24. thì cứ theo
luật lệ nầy, hội chúng phải xử đoán cho kẻ đã đánh và kẻ báo thù
huyết:
25. hội chúng sẽ giải cứu kẻ sát nhân khỏi tay người báo thù
huyết, và biểu người trở về thành ẩn náu, là nơi người đã chạy ẩn mình; và
người phải ở đó cho đến chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu
thánh qua đời.
26. Nhưng nếu kẻ sát nhân đi ra ngoài giới hạn của thành
ẩn náu, là nơi người đã chạy ẩn mình,
27. và nếu kẻ báo thù huyết gặp,
giết người ở ngoài giới hạn thành ẩn náu, thì kẻ báo thù huyết sẽ không
mắc tội sát nhân.
28. Vì kẻ sát nhân phải ở trong thành ẩn náu cho đến
chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm qua đời, kẻ sát nhân sẽ được trở về trong
sản nghiệp mình.
29. Bất luận các ngươi ở nơi nào, điều nầy phải dùng
làm một luật lệ xét đoán cho các ngươi trải qua các đời.
30. Nếu ai
giết một người nào, người ta sẽ cứ theo lời khai của những người chứng mà
giết kẻ sát nhân; nhưng một người chứng không đủ cớ đặng giết ai.
31.
Các ngươi chớ lãnh tiền chuộc mạng của một người sát nhân đã có tội và
đáng chết, vì nó hẳn phải bị xử tử.
32. Các ngươi đừng lãnh tiền chuộc
kẻ đã chạy ẩn mình trong thành ẩn náu, hầu cho nó trở về ở trong xứ sau
khi thầy tế lễ qua đời.
33. Các ngươi chớ làm ô uế xứ mà các ngươi sẽ
ở; vì huyết làm ô uế xứ. Nhược bằng có kẻ làm đổ huyết ra trong xứ, nếu
không làm đổ huyết nó lại, thì không thế chuộc tội cho xứ được.
34.
Vậy, các ngươi chớ làm ô uế xứ, là nơi các ngươi sẽ ở, và chánh giữa đó là
nơi ta sẽ ngự; vì ta là Ðức Giê-hô-va ngự giữa dân
Y-sơ-ra-ên.
Dân-số Ký
36 chọn
đoạn khác
1. Vả, những trưởng tộc Ga-la-át, là
con trai Ma-ki, cháu Ma-na-se, trong dòng con cháu Giô-sép, đến gần và nói
trước mặt Môi-se cùng trước mặt các tổng trưởng của những chi phái
Y-sơ-ra-ên,
2. mà rằng: Ðức Giê-hô-va có phán cùng chúa tôi bắt thăm
chia xứ cho dân Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp, và chúa tôi có lãnh mạng Ðức
Giê-hô-va giao sản nghiệp của Xê-lô-phát, anh chúng tôi, cho các con gái
người.
3. Nếu các con gái kết hôn với một trong những con trai về các
chi phái khác của dân Y-sơ-ra-ên, sản nghiệp chúng nó sẽ truất khỏi sản
nghiệp của tổ phụ chúng tôi mà thêm vào sản nghiệp của chi phái nào chúng
nó sẽ thuộc về; như vậy phần đó phải truất khỏi sản nghiệp đã bắt thăm về
chúng tôi.
4. Khi đến năm hân hỉ cho dân Y-sơ-ra-ên, sản nghiệp chúng
nó sẽ thêm vào sản nghiệp của chi phái nào chúng nó sẽ thuộc về; như vậy,
sản nghiệp chúng nó sẽ truất khỏi sản nghiệp của chi phái tổ phụ chúng
tôi.
5. Môi-se bèn truyền các lịnh nầy của Ðức Giê-hô-va cho dân
Y-sơ-ra-ên mà rằng: Chi phái con cháu Giô-sép nói có lý.
6. Nầy là điều
Ðức Giê-hô-va có phán về phần các con gái Xê-lô-phát: Chúng nó muốn kết
thân với ai thì muốn, những chỉ hãy kết thân với một trong những nhà của
chi phái tổ phụ mình.
7. Như vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên, một sản nghiệp
nào chẳng được từ chi phái nầy đem qua chi phái khác, vì mỗi người trong
dân Y-sơ-ra-ên sẽ ở đeo theo sản nghiệp về chi phái tổ phụ mình.
8.
Phàm người con gái nào được một phần sản nghiệp trong một của các chi phái
Y-sơ-ra-ên, thì phải kết thân cùng một người của một nhà nào về chi phái
tổ phụ mình, hầu cho mỗi người trong dân Y-sơ-ra-ên hưởng phần sản nghiệp
của tổ phụ mình.
9. Vậy, một phần sản nghiệp nào chẳng được từ chi phái
nầy đem qua chi phái kia; nhưng mỗi chi phái Y-sơ-ra-ên sẽ giữ sản nghiệp
mình vậy.
10. Các con gái Xê-lô-phát làm như Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
11. Mách-la, Thiệt-sa, Hốt-la, Minh-ca, và Nô-a, các con gái
của Xê-lô-phát, đều kết thân cùng các con trai của cậu mình.
12. Chúng
nó kết thân trong những nhà của con cháu Ma-na-se, là con trai Giô-sép, và
phần sản nghiệp họ còn lại trong chi phái tổ phụ mình.
13. Ðó là các
mạng lịnh và luật lệ mà Ðức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền cho dân
Y-sơ-ra-ên, tại trong đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang
Giê-ri-cô.