Mục Lục
[1] [2] [3]
[4] [5] [6] [7]
[8] [9] [10] [11]
[12] [13] [14] [15]
[16] [17] [18] [19]
[20] [21] [22] [23]
[24] [25] [26] [27]
[28] [29] [30] [31]
[32] [33] [34] [35]
[36] [37] [38] [39]
[40]
Xuất Ê-díp-tô Ký 1 chọn
đoạn khác
1. Ðây là
tên các con trai của Y-sơ-ra-ên, mỗi người đều dẫn người nhà mình đi với
Gia-cốp đến xứ Ê-díp-tô:
2. Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi và Giu-đa;
3.
Y-sa-ca, Sa-bu-lôn và Bên-gia-min;
4. Ðan, Nép-ta-li, Gát, và
A-se.
5. Hết thảy những người bởi Gia-cốp sanh ra, được bảy mươi người;
Giô-sép đã ở tại xứ Ê-díp-tô.
6. Vả, Giô-sép và anh em người cùng mọi
kẻ đồng đời đó đều chết hết.
7. Con cháu Y-sơ-ra-ên thêm nhiều lạ lùng,
nẩy nở ra, và trở nên rất cường thạnh; cả xứ đều đầy dẫy.
8. Nhưng bấy
giờ tại nước Ê-díp-tô, có một vua mới lên ngôi, chẳng quen biết
Giô-sép.
9. Vua phán cùng dân mình rằng: Nầy, dân Y-sơ-ra-ên đông và
mạnh hơn chúng ta;
10. hè! ta hãy dùng chước khôn ngoan đối cùng họ,
kẻo họ thêm nhiều lên, một mai nếu có cơn chinh chiến xảy đến, họ sẽ hiệp
cùng quân nghịch đánh lại ta, và ra khỏi xứ chăng.
11. Vậy, người
Ê-díp-tô bèn đặt các kẻ đầu xâu để bắt dân Y-sơ-ra-ên làm xâu khó nhọc; họ
xây thành Phi-thom và Ram-se dùng làm kho tàng cho Pha-ra-ôn.
12. Nhưng
người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm
nhiều lên, và tràn ra chừng nấy. Người Ê-díp-tô bèn đem lòng ghen ghét dân
Y-sơ-ra-ên,
13. bắt làm công việc nhọc nhằn,
14. gây cho đời dân ấy
nên cay đắng, vì nỗi khổ sở nhồi đất, làm gạch và mọi việc khác ở ngoài
đồng. Các công việc nầy người Ê-díp-tô bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nhọc nhằn
lắm.
15. Vua xứ Ê-díp-tô cũng phán cùng các bà mụ của dân Hê-bơ-rơ, một
người tên Siếp-ra và một người tên Phu-a,
16. mà rằng: Khi các ngươi đi
rước thai cho người đàn bà Hê-bơ-rơ, hễ thấy sanh con trai, thì hãy làm
cho chết đi; còn con gái, thì hãy để cho sống.
17. Nhưng các bà mụ kính
sợ Ðức Chúa Trời, chẳng làm theo lời vua Ê-díp-tô phán dặn, đều để cho các
con trai sống hết.
18. Vua xứ Ê-díp-tô bèn đòi những bà mụ mà phán
rằng: Sao các ngươi làm như vậy, để cho những con trai sống?
19. Các bà
mụ tâu rằng: Ấy tại người đàn bà Hê-bơ-rơ chẳng phải như người đàn bà
Ê-díp-tô; vì họ mạnh khỏe hơn, đã sanh nở trước khi mụ đến.
20. Ðức
Chúa Trời ban ơn cho những bà mụ; dân sự gia thêm và trở nên đông
đúc.
21. Ấy vậy, vì bà mụ có lòng kính sợ Ðức Chúa Trời, nên Ngài làm
cho nhà họ được thạnh vượng.
22. Pha-ra-ôn bèn truyền lịnh cho cả dân
mình rằng: Phàm con trai của dân Hê-bơ-rơ mới sanh, hãy liệng xuống sông;
còn con gái, thì để cho sống.
Xuất Ê-díp-tô Ký 2 chọn
đoạn khác
1. Vả, có
một người trong họ Lê-vi đi cưới con gái Lê-vi làm vợ.
2. Nàng thọ
thai, và sanh một con trai; thấy con ngộ, nên đem đi giấu trong ba
tháng.
3. Nhưng giấu lâu hơn nữa không được, nàng bèn lấy một cái rương
mây, trét chai và nhựa thông, rồi để đứa trẻ vào, đem thả trong đám sậy
dựa mé sông.
4. Người chị đứa trẻ đứng xa nơi đó đặng cho biết nó sẽ ra
sao.
5. Vả, bấy giờ, con gái Pha-ra-ôn xuống sông tắm, còn các con đòi
đi dạo chơi trên mé sông; công chúa thấy cái rương mây đó giữa đám sậy,
bèn sai con đòi mình đi vớt lên.
6. Công chúa mở rương ra, thấy đứa
trẻ, là một đứa con trai nhỏ đương khóc, bèn động lòng thương xót mà rằng:
Ấy là một đứa con của người Hê-bơ-rơ.
7. Người chị đứa trẻ bèn nói cùng
công chúa rằng: Tôi phải đi kêu một người vú trong bọn đàn bà Hê-bơ-rơ
đặng cho dứa trẻ bú chớ?
8. Công chúa đáp rằng: Hãy đi đi. Người gái
trẻ đó kêu mẹ của đứa trẻ.
9. Công chúa nói rằng: Hãy đem đứa trẻ nầy
về nuôi bú cho ta; ta sẽ trả tiền công cho. Người đàn bà ẵm đứa trẻ mà cho
bú.
10. Khi lớn khôn rồi, người bèn dẫn nó vào cho công chúa, nàng nhận
làm con, và đặt tên là Môi-se, vì nàng nói rằng: Ta đã vớt nó khỏi
nước.
11. Vả, đang lúc đó, Môi-se đã lớn khôn rồi, ra đi đến cùng anh
em mình, xem thấy công việc nhọc nhằn của họ; cũng thấy một người Ê-díp-tô
đánh một người Hê-bơ-rơ trong vòng anh em mình;
12. ngó quanh quất
chẳng thấy ai, bèn giết người Ê-díp-tô đem vùi trong cát.
13. Qua ngày
sau, Môi-se đi ra nữa, thấy hai người Hê-bơ-rơ đánh lộn, bèn nói cùng
người có lỗi rằng: Sao ngươi đánh người đồng loại mình?
14. Nhưng người
đó đáp rằng: Ai đặt ngươi làm vua, làm quan án cho chúng ta? Có phải muốn
giết ta như đã giết người Ê-díp-tô kia chăng? Môi-se sợ, nói rằng: Chắc
thật, việc nầy phải lậu rồi.
15. Pha-ra-ôn hay việc đó, thì tìm giết
Môi-se; nhưng người trốn đi khỏi mặt Pha-ra-ôn, dừng chân tại xứ Ma-đi-an,
và ngồi gần bên một cái giếng.
16. Vả, thầy tế lễ xứ Ma-đi-an có bảy
con gái; các nàng đó đến giếng xách nước đổ đầy máng đặng cho bầy chiên
cha mình uống.
17. Nhưng các kẻ chăn chiên đến đuổi đi; Môi-se bèn đứng
dậy, binh vực các nàng đó và cho những bầy chiên uống nước.
18. Khi mấy
nàng trở về nhà Rê-u-ên, cha mình, thì người hỏi rằng: Sao bữa nay các con
về sớm vậy?
19. Thưa rằng: Một người Ê-díp-tô cứu chúng tôi ra khỏi tay
bọn chăn chiên, và cũng có xách nước nhiều quá cho bầy chiên uống
nữa.
20. Cha lại hỏi rằng: Người đó bây giờ ở đâu? Sao các con bỏ người
đi? Hãy mời đến đặng ăn bánh.
21. Môi-se ưng ở cùng người nầy, người
bèn gả Sê-phô-ra, con gái mình, cho Môi-se.
22. Nàng sanh một con trai;
Môi-se đặt tên là Ghẹt-sôn vì nói rằng: Tôi kiều ngụ nơi ngoại
bang.
23. Sau cách lâu, vua xứ Ê-díp-tô băng; dân Y-sơ-ra-ên than thở
kêu van vì phải phục dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Ðức Chúa
Trời.
24. Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự giao ước mình kết
lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
25. Ðức Chúa Trời đoái lại dân
Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 3
chọn đoạn khác
1. Vả, Môi-se chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là
thầy tế lễ tại xứ Ma-đi-an; dẫn bầy chiên qua phía bên kia đồng vắng, đến
núi của Ðức Chúa Trời, là núi Hô-rếp.
2. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va
hiện ra cùng người trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia. Người nhìn thấy cả
bụi gai đang cháy, nhưng không hề tàn.
3. Môi-se bèn nói rằng: Ta hãy
tẻ bước lại đặng xem sự lạ lớn nầy, vì cớ sao bụi gai chẳng tàn chút
nào.
4. Ðức Giê-hô-va thấy người tẻ bước lại xem, Ðức Chúa Trời bèn ở
giữa bụi gai gọi rằng: Hỡi Môi-se, hỡi Môi-se! Người thưa rằng: Có tôi
đây!
5. Ðức Chúa Trời phán rằng: Chớ lại gần chốn nầy, Hãy cổi giầy
ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất thánh.
6. Rồi Ngài lại nói: Ta
là Ðức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa
Trời của Y-sác, và Ðức Chúa Trời của Gia-cốp. Môi-se liền che mặt, vì sợ
nhìn đến Ðức Chúa Trời.
7. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng
sự cực khổ của dân ta tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ
người đốc công của nó; phải, ta biết được nỗi đau đớn của nó.
8. Ta ngự
xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một
xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân
Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít
ở.
9. Nầy, tiếng kêu rêu của dân Y-sơ-ra-ên thấu đến ta, và ta đã thấy
dân Ê-díp-tô hà hiếp chúng nó thể nào;
10. vậy bây giờ, hãy lại đây,
đặng ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra
khỏi xứ Ê-díp-tô.
11. Môi-se bèn thưa rằng: Tôi là ai, dám đi đến
Pha-ra-ôn, đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô?
12. Ðức Chúa
Trời phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi; nầy là điều làm dấu cho ngươi biết
rằng ta đã sai ngươi đi: Khi ngươi dắt dân sự ra khỏi xứ Ê-díp-tô rồi, thì
các ngươi sẽ phụng sự Ðức Chúa Trời tại trên núi nầy.
13. Môi-se thưa
cùng Ðức Chúa Trời rằng: Nầy, tôi sẽ đi đến dân Y-sơ-ra-ên, nói cùng họ
rằng: Ðức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi sai ta đến cùng các ngươi; nhưng
nếu họ hỏi: Tên Ngài là chi? thì tôi nói với họ làm sao?
14. Ðức Chúa
Trời phán rằng: Ta là Ðấng Tự Hữu Hằng Hữu; rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho
dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Ðấng Tự Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi.
15.
Ðức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se rằng: Ngươi sẽ nói cho dân Y-sơ-ra-ên
như vầy: Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Ðức Chúa Trời của
Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Y-sác, Ðức Chúa Trời của Gia-cốp, sai ta đến
cùng các ngươi. Ấy đó là danh đời đời của ta, ấy sẽ là kỷ niệm của ta trải
qua các đời.
16. Hãy đi, hội hiệp các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, mà nói
cùng họ rằng: Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, Ðức Chúa Trời
của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Y-sác, Ðức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện
ra cùng ta mà phán rằng: Thật vậy, ta đã thăm viếng các ngươi, thấy điều
họ đãi các ngươi tại xứ Ê-díp-tô,
17. nên ta đã phán rằng: Ta sẽ rút
các ngươi ra khỏi cảnh khổ tại xứ Ê-díp-tô, đặng đem lên xứ của dân
Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít, tức là một xứ đượm sữa và mật.
18. Dân sự sẽ vâng theo lời
ngươi; vậy, ngươi và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy đi yết-kiến vua xứ
Ê-díp-tô mà tâu rằng: Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện
ra cùng chúng tôi. Vây bây giờ, xin để cho chúng tôi đi đến nơi đồng vắng,
cách chừng ba ngày đường đặng dâng của lễ cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
chúng tôi.
19. Vả, ta biết rằng dẫu lấy quyền lực ép buộc vua Ê-díp-tô,
thì người cũng chẳng bao giờ cho các ngươi đi!
20. Nhưng ta sẽ giơ tay
ra hành xứ Ê-díp-tô bằng các phép lạ ta làm giữa xứ đó, sau rồi họ sẽ cho
các ngươi đi.
21. Ta sẽ làm cho dân nầy được ơn trước mắt người
Ê-díp-tô; vậy, khi nào các ngươi ra đi, thì sẽ chẳng ra đi tay
không;
22. nhưng mỗi người đàn bà sẽ hỏi xin người nữ lân cận, cùng kẻ
ở tạm nhà mình những đồ bằng vàng, bằng bạc và quần áo, mặc lấy cho con
trai con gái mình. Các ngươi sẽ lột trần dân Ê-díp-tô là như
vậy.
Xuất Ê-díp-tô Ký 4
chọn đoạn khác
1. Môi-se thưa rằng: Nhưng dân đó sẽ chẳng
tin và chẳng vâng lời tôi, vì sẽ nói rằng: Ðức Giê-hô-va chẳng có hiện ra
cùng ngươi đâu.
2. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Trong tay ngươi cầm vật
chi? Thưa rằng: Một cây gậy.
3. Phán rằng: Hãy ném xuống đất đi. Người
bèn ném xuống đất, gậy hóa ra một con rắn; Môi-se chạy trốn nó.
4. Ðức
Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi ra nắm đuôi nó.
Người giơ tay ra nắm, thì nó hườn lại cây gậy trong tay.
5. Ðức
Giê-hô-va phán rằng: Ấy để cho chúng nó tin rằng Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời
của tổ phụ mình, là Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Y-sác,
Ðức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra cùng ngươi.
6. Ðức Giê-hô-va lại
phán rằng: Hãy đặt tay ngươi vào lòng. Người liền đặt vào, rồi lấy ra.
Nầy, tay người nổi phung trắng như tuyết.
7. Ðoạn, Ngài phán rằng: Hãy
đặt tay ngươi vào lòng lại; người bèn đặt vào, rồi lấy ra. Kìa, tay trở
lại như thịt mình.
8. Lại phán: Nếu khi nào dân đó chẳng tin ngươi và
chẳng vâng theo tiếng của dấu thứ nhất, thì sẽ tin theo tiếng của dấu thứ
nhì.
9. Vả lại, nếu dân chẳng tin cả hai dấu nầy, và không vâng theo
lời ngươi, thì hãy lấy nước dưới sông mà làm tràn ngập trên mặt đất; nước
mà ngươi đã lấy dưới sông lên đó, sẽ thành máu trên mặt đất vậy.
10.
Môi-se thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Ôi! lạy Chúa, từ hôm qua, hôm kia,
hay là từ lúc Chúa phán dạy kẻ tôi tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói
giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng.
11. Ðức Giê-hô-va bèn phán
rằng: Ai tạo miệng loài người ra? hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm
sáng, làm mờ? Có phải ta là Ðức Giê-hô-va chăng?
12. Vậy bây giờ, hãy
đi; ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói.
13.
Môi-se thưa rằng: Ôi! lạy Chúa, Chúa muốn sai ai đi, thì sai.
14. Ðức
Giê-hô-va bèn nổi giận cùng Môi-se mà phán rằng: Có phải A-rôn, người
Lê-vi, là anh ngươi chăng? Ta biết người đó có tài nói giỏi, và kìa, người
đang đi đến đón ngươi kìa; khi thấy ngươi, chắc sẽ vui mừng trong
lòng.
15. Vậy ngươi hãy nói cùng người, và sắp để những lời trong miệng
người. Khi hai ngươi nói, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và miệng anh ngươi, dạy
các ngươi những điều gì phải làm.
16. Ấy là người đó sẽ nói cùng dân sự
thế cho ngươi, dùng làm miệng ngươi, còn ngươi sẽ dường như Ðức Chúa Trời
cho người vậy.
17. Ngươi hãy cầm lấy gậy nầy nơi tay, để dùng làm các
dấu lạ.
18. Môi-se bèn đi, trở về Giê-trô, ông gia mình, mà thưa rằng:
Xin cha hãy cho tôi trở về nơi anh em tôi tại xứ Ê-díp-tô, đặng thăm thử
họ còn sống chăng. Giê-trô bèn nói cùng Môi-se rằng: Con hãy đi bình
yên.
19. Vả, Ðức Giê-hô-va có phán cùng Môi-se tại Ma-đi-an rằng: Hãy
trở về xứ Ê-díp-tô, vì mấy người tìm giết ngươi đã chết hết rồi.
20.
Môi-se bèn đỡ vợ và con mình lên lưng lừa, trở về xứ Ê-díp-tô. Người cũng
cầm cây gậy của Ðức Chúa Trời theo trong tay.
21. Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Khi trở về xứ Ê-díp-tô, hãy cẩn thận về các dấu lạ của
ta đã giao nơi tay ngươi mà làm trước mặt Pha-ra-ôn; nhưng ta sẽ khiến
người cứng lòng chẳng cho dân sự đi.
22. Vậy, ngươi phải tâu cùng
Pha-ra-ôn rằng: Ðức Giê-hô-va có phán như vầy: Y-sơ-ra-ên là con ta, tức
trưởng nam ta,
23. nên ta có phán cùng ngươi rằng: Hãy cho con ta đi,
để nó phụng sự ta, mà ngươi đã từ chối không cho nó đi. Nầy, ta sẽ giết
con trai ngươi, là con trưởng nam của ngươi.
24. Vả, đang khi đi đường,
Ðức Giê-hô-va hiện ra trước mặt Môi-se nơi nhà quán, và kiếm thế giết
người đi.
25. Sê-phô-ra lấy con dao bằng đá, cắt dương bì của con mình,
và quăng dưới chân Môi-se, mà nói rằng: Thật, chàng là huyết lang cho
tôi!
26. Ðức Giê-hô-va tha chồng; nàng bèn nói rằng: Huyết lang! là vì
cớ phép cắt bì.
27. Ðức Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng: Hãy đi đến đồng
vắng, đón rước Môi-se. A-rôn bèn đi, gặp Môi-se tại núi của Ðức Chúa Trời,
và hôn người.
28. Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời của Ðức Giê-hô-va
sai mình truyền, và các dấu lạ mà Ngài đã dạy mình làm.
29. Vậy, Môi-se
đi cùng A-rôn, nhóm lại các trưởng lão dân Y-sơ-ra-ên.
30. A-rôn bèn
thuật hết các lời của Ðức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se, và làm những dấu
lạ trước mặt dân sự.
31. Chúng bèn tin, hiểu rằng Ðức Giê-hô-va đã thăm
viếng dân Y-sơ-ra-ên, và thấy điều cực khổ của mình; chúng bèn cúi đầu và
thờ lạy.
Xuất Ê-díp-tô
Ký 5 chọn đoạn khác
1. Kế sau, Môi-se và A-rôn đến tâu
cùng Pha-ra-ôn rằng: Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên có phán
như vầy: Hãy cho dân ta đi, đặng nó giữ một lễ cho ta tại đồng vắng.
2.
Nhưng Pha-ra-ôn đáp rằng: Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời người, để
cho dân Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết; cũng chẳng cho
dân Y-sơ-ra-ên đi nữa.
3. Môi-se và A-rôn tâu rằng: Ðức Chúa Trời của
dân Hê-bơ-rơ đã đến cùng chúng tôi; xin hãy cho phép chúng tôi đi vào nơi
đồng vắng, cách chừng ba ngày đường, đặng dâng tế lễ cho Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời chúng tôi, kẻo Ngài khiến bịnh dịch hay việc gươm dao hành chúng
tôi chăng.
4. Vua xứ Ê-díp-tô phán rằng: Hỡi Môi-se và A-rôn, sao các
ngươi xui cho dân chúng bỏ công việc như vậy? Hãy đi làm công việc mình
đi!
5. Pha-ra-ôn lại phán rằng: Kìa, dân sự trong xứ bây giờ đông đúc
quá, hai người làm cho chúng nó phải nghỉ việc ư!
6. Trong ngày đó,
Pha-ra-ôn truyền lịnh cho các đốc dịch và phái viên rằng:
7. Các ngươi
đừng phát rơm cho dân sự làm gạch như lúc trước nữa; chúng nó phải tự đi
kiếm góp lấy.
8. Nhưng các ngươi hãy hạn số gạch y như cũ, chớ trừ bớt
chi cả; vì họ biếng nhác, lấy cớ mà đồng kêu lên rằng: Hè! đi dâng tế lễ
cho Ðức Chúa Trời chúng ta!
9. Hãy gán công việc nặng cho chúng nó, hầu
cho chúng nó mắc công việc, chẳng xiêu về lời giả dối nữa.
10. Các đốc
dịch và phái viên bèn ra, nói cùng dân chúng rằng: Pha-ra-ôn có phán như
vầy: Ta chẳng cho các ngươi rơm nữa.
11. Hãy tự đi kiếm lấy rơm ở đâu
đi; song chẳng trừ bớt công việc các ngươi chút nào.
12. Bấy giờ, dân
chúng bèn đi rải khắp xứ Ê-díp-tô, đặng góp gốc rạ thế cho rơm.
13. Các
đốc dịch lại hối rằng: Hãy làm cho xong phần việc các ngươi, y cố định,
ngày nào cho rồi ngày nấy, cũng như khi có phát rơm.
14. Những phái
viên trong vòng dân Y-sơ-ra-ên mà các đốc dịch của Pha-ra-ôn đã lập lên
trên dân đó, bị đánh và quở rằng: Sao hôm qua và ngày nay, các ngươi chẳng
làm xong phần định về việc mình làm gạch y như trước?
15. Các phái viên
của dân Y-sơ-ra-ên bèn đến kêu cùng Pha-ra-ôn rằng: Sao bệ hạ đãi kẻ tôi
tớ như vậy?
16. Người ta chẳng phát rơm cho, lại cứ biểu chúng tôi
rằng: Hãy làm gạch đi! Nầy tôi tớ của bệ hạ đây bị đòn; lỗi tại dân của bệ
hạ.
17. Nhưng vua đáp rằng: Các ngươi là đồ biếng nhác, đồ biếng nhác!
Bởi cớ đó nên nói với nhau rằng: Hè! đi tế Ðức Giê-hô-va!
18. Vậy bây
giờ, cứ đi làm việc đi, người ta chẳng phát rơm cho đâu, nhưng các ngươi
phải nộp gạch cho đủ số.
19. Vậy, các phái viên của dân Y-sơ-ra-ên lấy
làm bối rối, vì người ta có nói cùng mình rằng: Các ngươi chẳng được trừ
số gạch đã định cho mình ngày nào rồi ngày nấy.
20. Khi lui ra khỏi
Pha-ra-ôn thì họ gặp Môi-se và A-rôn đợi tại đó,
21. bèn nói rằng: Hai
ngươi đã làm cho chúng tôi ra mùi hôi hám trước mặt Pha-ra-ôn và quần
thần, mà trao thanh gươm vào tay họ đặng giết chúng tôi. Cầu xin Ðức
Giê-hô-va xem xét và xử đoán hai ngươi!
22. Môi-se bèn trở về cùng Ðức
Giê-hô-va mà thưa rằng: Lạy Chúa! sao Chúa đã làm hại cho dân sự nầy? Chúa
sai tôi đến mà chi?
23. Từ khi tôi đi yết kiến Pha-ra-ôn đặng nhân danh
Chúa mà nói, thì người lại ngược đãi dân nầy, và Chúa chẳng giải cứu dân
của Chúa.
Xuất Ê-díp-tô
Ký 6 chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng: Bây giờ ngươi hãy xem những điều ta sẽ hành Pha-ra-ôn; vì nhờ tay
quyền năng ép buộc vua đó sẽ tha và đuổi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ
mình.
2. Ðức Chúa Trời lại phán cùng Môi-se rằng: Ta là Ðức
Giê-hô-va.
3. Ta đã hiện ra cùng Áp-ra-ham, cùng Y-sác, và cùng
Gia-cốp, tỏ mình là Ðức Chúa Trời toàn năng; song về danh ta là Giê-hô-va,
thì ta chưa hề tỏ cho họ biết.
4. Ta cũng có lập giao ước cùng họ, để
ban xứ Ca-na-an cho, là xứ họ đã kiều ngụ như khách ngoại bang.
5. Ta
cũng có nghe lời than thở của dân Y-sơ-ra-ên bị người Ê-díp-tô bắt làm tôi
mọi, bèn nhớ lại sự giao ước của ta.
6. Vậy nên, ngươi hãy nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Ta là Ðức Giê-hô-va sẽ rút các ngươi khỏi gánh nặng mà
người Ê-díp-tô đã gán cho, cùng giải thoát khỏi vòng tôi mọi; ta sẽ giơ
thẳng tay ra, dùng sự đoán phạt nặng mà chuộc các ngươi.
7. Ta sẽ nhận
các ngươi làm dân ta, và ta sẽ làm Ðức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi
sẽ biết ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi, đã rút các ngươi khỏi
gánh nặng của người Ê-díp-tô.
8. Ta sẽ dắt các ngươi vào xứ ta đã thề
ban cho Áp-ra-ham, cho Y-sác, cho Gia-cốp, mà cho các ngươi xứ đó làm cơ
nghiệp: Ta là Ðức Giê-hô-va.
9. Môi-se nói lại như vậy cho dân
Y-sơ-ra-ên; nhưng vì bị sầu não và việc tôi mọi nặng nề, nên chẳng nghe
Môi-se chút nào.
10. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
11.
Hãy đi tâu cùng Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, phải cho dân Y-sơ-ra-ên ra
khỏi xứ mình.
12. Nhưng Môi-se thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Nầy, tôi
là một kẻ vụng miệng; dân Y-sơ-ra-ên chẳng có nghe lời tôi, Pha-ra-ôn há
sẽ khứng nghe lời tôi sao?
13. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se và
A-rôn, bèn truyền cho hai người phải đi đến dân Y-sơ-ra-ên và Pha-ra-ôn,
vua xứ Ê-díp-tô, đặng đem dân đó ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
14. Ðây là các
trưởng tộc của những họ hàng dân Y-sơ-ra-ên. Các con trai của Ru-bên, tức
là trưởng nam Y-sơ-ra-ên, là: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn và Cạt-mi. Ðó là
những họ hàng của Ru-bên.
15. Các con trai của Si-mê-ôn là: Giê-mu-ên,
Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha và Sau-lơ là con của vợ xứ Ca-na-an. Ðó là
họ hàng của Si-mê-ôn.
16. Ðây là tên các con trai của Lê-vi, tùy theo
dòng dõi của họ: Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri. Lê-vi hưởng thọ được một
trăm ba mươi bảy tuổi.
17. Các con trai của Ghẹt-sôn, tùy theo họ hàng
mình: Líp-ni và Si-mê-y.
18. Các con trai của Kê-hát là: Am-ram,
Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên. Kê-hát hưởng thọ được một trăm ba mươi ba
tuổi.
19. Các con trai của Mê-ra-ri là: Mách-li, và Mu-si. Ðó là các họ
hàng của Lê-vi, tùy theo dòng dõi của họ.
20. Vả, Am-ram lấy
Giô-kê-bết, là cô mình, làm vợ; nàng sanh cho người A-rôn và Môi-se.
Am-ram hưởng thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi.
21. Các con trai của
Dít-sê-ha là: Cô-rê, Nê-phết và Xiếc-ri.
22. Các con trai của U-xi-ên
là: Mi-sa-ên, Ên-sa-phan, và Sít-ri.
23. A-rôn cưới Ê-li-sê-ba, con gái
của A-mi-na-đáp, em của Na-ha-sôn; nàng sanh cho người Na-đáp, A-bi-hu,
Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
24. Các con trai của Cô-rê là: Át-si, Ên-ca-na
và A-bi-a-sáp. Ðó là các họ hàng của dân Cô-rê.
25. Ê-lê-a-sa, con trai
của A-rôn, cưới con gái của Phu-ti-ên làm vợ; nàng sanh Phi-nê-a cho
người. Ðó là các trưởng tộc của nhà tổ phụ người Lê-vi, tùy theo họ hàng
mình vậy.
26. Ấy, A-rôn và Môi-se nầy, tức là người mà Ðức Giê-hô-va đã
phán dạy rằng: Hãy tùy theo cơ đội, đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
27. Ấy là hai người tâu cùng Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô, đặng
đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ đó; ấy là Môi-se và A-rôn nầy.
28. Vậy,
trong ngày Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se tại xứ Ê-díp-tô,
29. thì Ngài
có truyền rằng: Ta là Ðức Giê-hô-va, hãy tâu lại cùng Pha-ra-ôn, vua xứ
Ê-díp-tô, hết thảy mọi lời ta sẽ phán cùng ngươi.
30. Môi-se bèn thưa
rằng: Nầy, tôi là người vụng miệng: Pha-ra-ôn há sẽ nghe tôi
sao?
Xuất Ê-díp-tô Ký 7
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
Hãy xem, ta lập ngươi như là Ðức Chúa Trời cho Pha-ra-ôn, còn A-rôn, anh
ngươi, sẽ làm kẻ tiên tri của ngươi.
2. Hãy nói lại mọi lời ta sẽ
truyền dạy ngươi, rồi A-rôn, anh ngươi, sẽ tâu cùng Pha-ra-ôn, đặng người
thả dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.
3. Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng
lòng, và thêm nhiều dấu lạ phép kỳ của ta trong xứ Ê-díp-tô.
4. Nhưng
Pha-ra-ôn sẽ chẳng nghe các ngươi đâu; ta sẽ tra tay vào đất Ê-díp-tô,
dùng những sự đoán-phạt nằng-nề, đặng rút khỏi xứ đó các quân đội ta, là
dân Y-sơ-ra-ên.
5. Khi nào ta tra tay vào xứ Ê-díp-tô mà rút dân
Y-sơ-ra-ên ra khỏi giữa vòng người Ê-díp-tô, thì họ sẽ biết ta là Ðức
Giê-hô-va.
6. Môi-se và A-rôn bèn làm y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn.
7. Vả, khi hai người tâu cùng Pha-ra-ôn, thì Môi-se tuổi đã được
tám mươi, còn A-rôn tám mươi ba.
8. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và
A-rôn rằng:
9. Khi nào Pha-ra-ôn truyền cho các ngươi: Hãy làm phép lạ
đi, thì ngươi sẽ nói cùng A-rôn rằng: Hãy lấy cây gậy của anh, liệng trước
mặt Pha-ra-ôn, gậy sẽ hóa thành một con rắn.
10. Vậy, Môi-se và
Pha-ra-ôn đến cùng Pha-ra-ôn và làm như lời Ðức Giê-hô đã phán dặn. A-rôn
liệng cây gậy mình trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, gậy liền hóa thành
một con rắn.
11. Còn Pha-ra-ôn bèn đòi các bác sĩ và thầy phù chú, là
những thuật-sĩ Ê-díp-tô; phần họ, cũng cậy phép phù chú mình mà làm giống
in như vậy.
12. Mỗi người liệng gậy mình, liền hóa thành rắn; nhưng gậy
của A-rôn nuốt các gậy của họ.
13. Thế mà lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi,
chẳng nghe Môi-se và A-rôn, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán.
14. Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Pha-ra-ôn đã rắn lòng, từ chối không để
cho dân sự đi.
15. Sớm mai Pha-ra-ôn sẽ ngự ra bờ sông, ngươi hãy ra
mắt người và cầm theo tay cây gậy đã biến ra con rắn đó.
16. Ngươi hãy
tâu rằng: Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, sai tôi đến gần bệ
hạ, đặng tâu rằng: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta trong
đồng vắng; mà đến bây giờ ngươi không nghe ta chút nào.
17. Ðức
Giê-hô-va có phán như vầy: Vì việc nầy, ngươi sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va:
Nầy ta lấy gậy trong tay ta mà đập nước ở dưới sông, nước sẽ trở nên
huyết.
18. Cá dưới sông sẽ chết, và sông sẽ hôi thúi đi; người Ê-díp-tô
uống nước sông lấy làm ghê gớm.
19. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán cùng
Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Cầm lấy cây gậy anh, giơ tay ra
trên nước xứ Ê-díp-tô, trên rạch, sông, bàu, và khắp mọi nơi có nước trong
xứ, hầu cho nước hóa thành huyết; cả xứ Ê-díp-tô, và trong những bình chứa
nước bằng gỗ, bằng đá đều sẽ có huyết hết thảy.
20. Vậy, Môi-se và
A-rôn bèn làm y như lời Ðức Giê-hô-va đã dặn mình. Trước mặt Pha-ra-ôn và
quần thần, A-rôn giơ gậy lên, đập nước sông, hết thảy nước sông bèn hóa
thành huyết.
21. Cá dưới sông chết, nước sông hôi-thúi, người Ê-díp-tô
không thể uống được; vậy, huyết lan khắp cả xứ Ê-díp-tô.
22. Song các
thuật sĩ cậy phù chú mình cũng làm được như vậy, lòng Pha-ra-ôn cứng cỏi,
không nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như lời Ðức Giê-hô-va đã
phán.
23. Pha-ra-ôn xây đi về đền mình, lòng chẳng để về mấy điều đó
chút nào.
24. Vả, vì hết thảy người Ê-díp-tô uống nước sông chẳng được,
nên đào xung quanh sông tìm nước mà uống.
25. Sau khi Ðức Giê-hô-va đập
sông thì được bảy ngày.
Xuất Ê-díp-tô Ký 8 chọn
đoạn khác
1. Ðoạn, Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn, và tâu cùng
người rằng: Ðức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng
nó hầu việc ta.
2. Nếu ngươi không tha cho đi, nầy ta sẽ giáng tai nạn
ếch nhái khắp bờ cõi ngươi.
3. Sông sẽ sanh đông đúc ếch nhái, bò lên
vào cung điện, phòng ngủ, và trên giường người, vào nhà đầy tớ và dân sự
ngươi, trong lò bếp, cùng nơi nhồi bột làm bánh của ngươi.
4. Ếch nhái
sẽ bò lên mình ngươi, lên mình dân sự và mọi đầy tớ ngươi.
5. Vậy, Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Hãy cầm gậy
giơ tay ra trên rạch, trên sông và trên bàu, khiến ếch nhái tràn lên xứ
Ê-díp-tô.
6. A-rôn giơ tay mình trên các sông rạch xứ Ê-díp-tô, ếch
nhái bò lên lan khắp xứ.
7. Các thuật sĩ cũng cậy phù chú mình làm y
như vậy, đặng khiến ếch nhái bò lên xứ Ê-díp-tô.
8. Pha-ra-ôn bèn đòi
Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hãy cầu nguyện Ðức Giê-hô-va, để Ngài khiến
ếch nhái cách xa ta và dân sự ta; thì ta sẽ tha dân Hê-bơ-rơ đi tế Ðức
Giê-hô-va.
9. Môi-se bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Xin hãy định chừng
nào tôi phải vì bệ hạ, đầy tớ cùng dân sự bệ hạ mà cầu khẩn Ðức Giê-hô-va,
để trừ ếch nhái lìa khỏi bệ hạ và cung điện, chỉ còn dưới sông mà
thôi.
10. Vua đáp rằng: Ðến ngày mai. Môi-se rằng: Sẽ làm y theo lời,
hầu cho bệ hạ biết rằng chẳng có ai giống như Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời
chúng tôi.
11. Vậy, ếch nhái sẽ lìa xa bệ hạ, cung điện, tôi tớ, cùng
dân sự của bệ hạ; chỉ còn lại dưới sông mà thôi.
12. Môi-se và A-rôn
bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn; Môi-se kêu cầu Ðức Giê-hô-va về việc ếch nhái
mà Ngài đã khiến đến cho Pha-ra-ôn.
13. Ðức Giê-hô-va làm y theo lời
Môi-se; ếch nhái trong nhà, trong làng, ngoài đồng đều chết hết.
14.
Người ta dồn ếch nhái lại từ đống, và cả xứ hôi thúi lắm.
15. Nhưng
Pha-ra-ôn thấy được khỏi nạn, bèn rắn lòng, chẳng nghe Môi-se và A-rôn
chút nào, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán.
16. Ðức Giê-hô-va phán cùng
Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Hãy giơ gậy anh ra, đập bụi trên
đất: bụi sẽ hóa muỗi khắp cả xứ Ê-díp-tô.
17. Hai người làm y như vậy.
A-rôn cầm gậy giơ tay ra, đập bụi trên đất, bụi liền hóa thành muỗi, bu
người và súc vật; hết thảy bụi đều hóa thành muỗi trong xứ
Ê-díp-tô.
18. Các thuật sĩ cũng muốn cậy phù chú mình làm như vậy, để
hóa sanh muỗi, nhưng làm chẳng đặng. Vậy, muỗi bu người và súc vật.
19.
Các thuật sĩ bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Ấy là ngón tay của Ðức Chúa
Trời; nhưng Pha-ra-ôn cứng lòng, chẳng nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y
như lời Ðức Giê-hô-va đã phán.
20. Kế đó, Ðức Giê-hô-va phán cùng
Môi-se rằng: Nầy Pha-ra-ôn sẽ ngự ra mé sông, ngươi hãy dậy sớm, đi ra mắt
người, mà tâu rằng: Ðức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi,
để chúng nó hầu việc ta.
21. Vì nếu ngươi không cho đi, nầy, ta sẽ sai
ruồi mòng bu nơi ngươi, quần thần, dân sự và cung điện ngươi; nhà của
người Ê-díp-tô đều sẽ bị ruồi mòng bu đầy, và khắp trên đất nữa.
22.
Nhưng ngày đó, ta sẽ phân biệt xứ Gô-sen ra, là nơi dân ta ở, không có
ruồi mòng, hầu cho ngươi biết rằng ta, Giê-hô-va, có ở giữa xứ.
23. Ta
sẽ phân biệt dân ta cùng dân ngươi. Ðến mai, dấu lạ nầy tất sẽ có.
24.
Ðức Giê-hô-va bèn làm y như lời. Vậy, trong cung điện Pha-ra-ôn, nhà cửa
của quần thần người cùng cả xứ Ê-díp-tô đều có ruồi mòng vô số, đất bị
ruồi mòng hủy hoại.
25. Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng:
Hãy đi dâng tế lễ cho Ðức Chúa Trời các ngươi trong xứ.
26. Nhưng
Môi-se tâu rằng: Làm như vậy chẳng tiện, vì các của lễ mà chúng tôi sẽ tế
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng tôi, là một điều gớm ghê cho người Ê-díp-tô.
Nếu chúng tôi dâng của lễ gớm ghê trước mắt người Ê-díp-tô, họ há chẳng
liệng đá chúng tôi sao?
27. Chúng tôi sẽ đi trong đồng vắng, chừng ba
ngày đường, dâng tế lễ cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng tôi, y như lời
Ngài sẽ chỉ bảo.
28. Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Ta sẽ tha các ngươi đi
dâng tế lễ cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi, ở nơi đồng vắng, nhưng
đừng đi xa hơn. Hãy cầu nguyện cho ta với!
29. Môi-se tâu rằng: Nầy,
tôi sẽ lui ra khỏi bệ hạ, cầu nguyện Ðức Giê-hô-va cho; ngày mai ruồi mòng
sẽ lìa xa Pha-ra-ôn, quần thần, và dân sự người. Nhưng xin Pha-ra-ôn chớ
cứ gạt chúng tôi mà không tha dân sự đi dâng tế lễ cho Ðức
Giê-hô-va.
30. Môi-se bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn, và cầu nguyện Ðức
Giê-hô-va;
31. Ngài làm y như lời Môi-se, ruồi mòng lìa xa Pha-ra-ôn,
quần thần, và dân sự người, không còn lại một con nào.
32. Nhưng lần
nầy, Pha-ra-ôn lại cứng lòng nữa, không cho dân sự đi.
Xuất Ê-díp-tô Ký 9
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi ra mắt
Pha-ra-ôn mà tâu rằng: Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, có
phán như vầy: Hãy tha dân ta đi, đặng chúng nó hầu việc ta;
2. vì nếu
ngươi từ chối không tha đi, còn cầm lại nữa,
3. nầy tay của Ðức
Giê-hô-va sẽ tra vào các súc vật của người ngoài đồng, vào ngựa, lừa, lạc
đà, bò và chiên: sẽ có dịch lệ rất lớn.
4. Ðức Giê-hô-va sẽ phân biệt
súc vật của dân Y-sơ-ra-ên cùng súc vật của người Ê-díp-tô, sẽ chẳng có
một con nào của dân Y-sơ-ra-ên bị chết.
5. Ðức Giê-hô-va định kỳ mà
rằng: Ðến mai, Ðức Giê-hô-va sẽ làm sự đó tại trong xứ.
6. Vừa đến mai,
Ðức Giê-hô-va làm sự đó, hết thảy súc vật của người Ê-díp-tô đều chết;
nhưng của dân Y-sơ-ra-ên chẳng chết một con nào.
7. Pha-ra-ôn sai người
đi xét, thấy chẳng có một con súc vật nào của dân Y-sơ-ra-ên chết hết.
Nhưng Pha-ra-ôn rắn lòng, chẳng cho dân sự đi.
8. Ðức Giê-hô-va bèn
phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: Hãy hốt trong trong lò đầy tay các ngươi,
rồi tại trước mặt Pha-ra-ôn, Môi-se sẽ vải tro đó lên trời.
9. Tro sẽ
hóa thành bụi khắp cả xứ Ê-díp-tô, và sanh nhiều ghẻ chốc cương mủ trên
mình người và súc vật trong khắp cả xứ Ê-díp-tô.
10. Vậy, hai người hốt
tro trong lò, đứng trước mặt Pha-ra-ôn, rồi Môi-se vải tro lên trời, thì
sanh ra ghẻ chốc cương mủ trên mình người ta và súc vật.
11. Các thuật
sĩ đứng trước mặt Môi-se không được, vì cớ ghẻ chốc đã sanh trên mình các
thuật sĩ như trên mình của hết thảy người Ê-díp-tô.
12. Ðức Giê-hô-va
làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, không nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như
lời Ðức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se.
13. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va phán
cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy thức dậy sớm, ra mắt Pha-ra-ôn mà tâu rằng:
Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, có phán như vầy: Hãy tha dân
ta đi, để chúng nó hầu việc ta;
14. vì lần nầy ta sẽ giáng các tai nạn
cho lòng ngươi, quần thần, và dân sự ngươi, hầu cho ngươi biết rằng khắp
thế gian chẳng có ai bằng ta.
15. Nếu bây giờ, ta đã giơ tay ra hành
hại ngươi bịnh dịch, thì ngươi cùng dân ngươi đều đã bị diệt khỏi đất
rồi.
16. Nhưng vì cớ nầy ta để ngươi còn sống, là cho ngươi thấy quyền
năng của ta, hầu cho danh ta đồn khắp cả thiên hạ.
17. Nếu ngươi còn
cản trở, không để cho dân ta đi,
18. thì mai, tại giờ nầy, ta sẽ làm
một đám mưa đá lớn, đến đỗi tại xứ Ê-díp-tô từ khi khai sáng cho đến ngày
nay chẳng có đám mưa nào giống như vậy.
19. Thế thì, bây giờ hãy sai
đem lục súc và mọi vật thuộc về ngươi ở ngoài đồng vào, cho khỏi hiểm
nghèo. Mưa đá sẽ rớt xuống trên mọi người và vật đang ở ngoài đồng không
vào nhà, thì sẽ chết hết.
20. Những kẻ nào trong quần thần Pha-ra-ôn có
lòng kính sợ lời Ðức Giê-hô-va, lật đật rút đầy tớ và súc vật mình về
nhà;
21. còn kẻ nào chẳng chú ý về lời Ðức Giê-hô-va, thì để đầy tớ và
súc vật mình ở ngoài đồng.
22. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
Hãy giơ tay ngươi lên trời, làm mưa đá rớt xuống trên cả xứ Ê-díp-tô, trên
mình người, súc vật, và khắp rau cỏ ngoài đồng.
23. Môi-se bèn giơ gậy
mình lên trời, Ðức Giê-hô-va làm cho sấm động, mưa đá sa, lửa chạy trên
mặt đất. Vậy, Ðức Giê-hô-va khiến mưa đá sa trên xứ Ê-díp-tô.
24. Vả,
có mưa đá sa xuống và lửa cháy rất mạnh pha lộn với, đến nỗi từ khi xứ
Ê-díp-tô lập quốc đến giờ, chẳng có giống như vậy.
25. Thế thì, trong
cả xứ Ê-díp-tô, mưa đá làm hại mọi vật ở ngoài đồng, nào người ta, nào súc
vật, nào rau-cỏ, và làm gãy cây cối nữa.
26. Chỉ đất Gô-sen, là nơi dân
Y-sơ-ra-ên ở, chẳng có mưa đá mà thôi.
27. Pha-ra-ôn bèn truyền đòi
Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Lần nầy trẫm đã phạm tội; Ðức Giê-hô-va là
công bình; trẫm cùng dân sự trẫm là kẻ phạm tội.
28. Hãy cầu nguyện Ðức
Giê-hô-va, hầu cho tan sấm sét và mưa đá; rồi trẫm sẽ tha các ngươi đi,
không đợi lâu nữa đâu.
29. Môi-se bèn đáp rằng: Vừa khi tôi ra khỏi
thành, tôi sẽ giơ tay lên Ðức Giê-hô-va, sấm sét sẽ lặng, mưa đá sẽ tan,
hầu cho bệ hạ biết rằng trái đất thuộc về Ðức Giê-hô-va.
30. Nhưng tôi
biết rằng bệ hạ và quần thần chưa kính sợ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời.
31.
Vả, trong lúc đó, lúa mạch trổ bông, cây gai có hoa, nên lúa mạch và gai
bị đập nát;
32. còn lúa mì và tiểu mạch trổ muộn, nên không bị
đập.
33. Vậy, Môi-se lui khỏi Pha-ra-ôn, đi ra thành, giơ tay lên Ðức
Giê-hô-va, sấm sét và mưa đá tạnh, mưa bèn ngớt hột trên mặt đất.
34.
Khi Pha-ra-ôn thấy mưa, mưa đá và sấm sét đã tạnh rồi, người và quần thần
lại rắn lòng, cứ phạm tội nữa.
35. Vậy Pha-ra-ôn cứng lòng, không tha
dân Y-sơ-ra-ên đi, y như lời Ðức Giê-hô-va đã cậy Môi-se mà
phán.
Xuất Ê-díp-tô Ký
10 chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
Hãy đi đến Pha-ra-ôn, vì ta đã làm rắn lòng người và lòng quần thần, để
làm cho các dấu lạ của ta tỏ ra giữa họ,
2. hầu cho ngươi thuật cùng
con và cháu mình những công việc to tát ta đã làm trên dân Ê-díp-tô, các
dấu lạ ta đã làm giữa vòng họ, đặng các ngươi biết rằng ta là Ðức
Giê-hô-va.
3. Môi-se và A-rôn bèn đi đến Pha-ra-ôn mà tâu rằng:
Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời dân Hê-bơ-rơ, có phán như vầy: Ngươi không chịu
hạ mình trước mặt ta cho đến chừng nào? Hãy tha dân ta đi, để chúng nó hầu
việc ta.
4. Nếu từ chối, không cho dân ta đi, nầy, ngày mai ta sẽ sai
cào cào đến địa phận ngươi;
5. nó sẽ phủ rợp trên mặt đất, người ta
chẳng còn thấy đất nữa; nó sẽ cắn xả những vật chi còn lại, tức vật nào
trận mưa đá còn chừa lại; nó cũng cắn xả những cây mọc ngoài đồng ruộng
các ngươi,
6. vào đầy cung điện ngươi, dinh thất của quần thần ngươi,
và nhà cửa của người Ê-díp-tô: ấy là một điều tổ phụ ngươi, đến nỗi thỉ tổ
ngươi, cũng chẳng bao giờ thấy từ khi họ đã có trên mặt đất cho đến ngày
nay. Ðoạn, Môi-se xây mặt lui ra khỏi Pha-ra-ôn.
7. Quần thần Pha-ra-ôn
tâu rằng: Ðến chừng nào người nầy mới thôi gài bẫy ta? Hãy tha dân ấy đi,
để chúng nó hầu việc Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng nó! Bệ hạ chưa biết
rằng nước Ê-díp-tô đã bị nguy vong sao?
8. Họ bèn truyền đòi Môi-se và
A-rôn trở lại cùng Pha-ra-ôn; người nói rằng: Hãy đi hầu việc Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời các ngươi. Hết thảy những ai là người phải đi?
9. Môi-se
tâu rằng: Chúng tôi đi, sẽ đem nam phụ lão ấu và chiên bò theo, vì về phần
chúng tôi, ấy là một lễ của Ðức Giê-hô-va.
10. Pha-ra-ôn nói rằng: Cầu
xin Ðức Giê-hô-va ở cùng các ngươi! Hồ dễ ta cho các ngươi cùng con cái
đều đi sao! Không! quả thật không cho đâu, vì các ngươi có mưu ác!
11.
Không được vậy đâu, chỉ các ngươi, là đàn ông, phải đi hầu việc Ðức
Giê-hô-va, vì là điều các ngươi đã xin. Ðoạn, họ bèn đuổi Môi-se và A-rôn
khỏi trước mặt Pha-ra-ôn.
12. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
Hãy giơ tay ngươi ra trên xứ Ê-díp-tô, đặng khiến cào cào tràn lên xứ đó,
cắn xả rau cỏ và mọi vật chi trên đất mưa đá còn chừa lại.
13. Vậy,
Môi-se bèn giơ gậy mình ra trên xứ Ê-díp-tô, thì Ðức Giê-hô-va dẫn ngọn
gió đông thổi trên xứ sòng ngày và đêm đó; qua sáng mai gió đông đã dẫn
cào cào đến.
14. Cào cào tràn lên khắp cả xứ Ê-díp-tô, và sa xuống
trong địa hạt xứ ấy nhiều vô số. Trước kia chẳng bao giờ có bằng số đó,
sau nầy cũng chẳng hề sẽ có bằng như vậy.
15. Cào cào bao phủ khắp mặt
đất của cả xứ, và xứ thành ra tối tăm, cắn xả các rau cỏ ngoài đồng cùng
trái cây mà mưa đá còn chừa lại; trong khắp xứ Ê-díp-tô chẳng còn chút
xanh tươi chi cho cây cối hay là cho cỏ rau ở ngoài đồng ruộng nữa.
16.
Pha-ra-ôn vội đòi Môi-se và A-rôn đến mà phán rằng: Trẫm đã phạm tội cùng
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời các ngươi, và cùng các ngươi nữa.
17. Nhưng bây
giờ, xin xá tội cho trẫm lần nầy; và hãy cầu giùm Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
các ngươi, hầu cho ít nữa Ngài khiến xa trẫm cái vạ chết nầy.
18.
Môi-se bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn, và khẩn nguyện Ðức Giê-hô-va.
19. Ðức
Giê-hô-va dẫn ngọn gió tây đến rất mạnh, đem cào cào đi đuổi xuống Biển
đỏ; khắp địa hạt Ê-díp-tô chẳng còn một con cào cào nào.
20. Nhưng Ðức
Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng: người chẳng tha dân Y-sơ-ra-ên
đi.
21. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi lên
trời, hầu cho trên xứ Ê-díp-tô có sự tối tăm dày đến nỗi người ta rờ đụng
đến được.
22. Vậy, Môi-se giơ tay mình lên trời, bèn có sự tối tăm rất
dày trong ba ngày tại xứ Ê-díp-tô;
23. trong ba ngày đó người ta không
thấy nhau được, không ai nhớm khỏi chỗ mình được. Nhưng trong chốn dân
Y-sơ-ra-ên ở thì có ánh sáng cho họ.
24. Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se mà
phán rằng: Hãy đi hầu việc Ðức Giê-hô-va; con trẻ các ngươi đi theo nữa;
chỉ bầy chiên và bò ở lại thôi.
25. Nhưng Môi-se tâu rằng: Chính bệ hạ
hãy cấp cho chúng tôi các con sinh và vật chi dùng làm của lễ thiêu để
dâng cho Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng tôi.
26. Các bầy lục súc sẽ theo
chúng tôi nữa, không còn để lại một móng chân nào; vì chúng tôi sẽ dùng
mấy con thú đó mà hầu việc Giê-hô-va Ðức Chúa Trời chúng tôi. Chúng tôi
biết vật chi dùng để thờ phượng Ðức Giê-hô-va, chỉ khi nào sẽ đến nơi
đó.
27. Nhưng Ðức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, nên người
không khứng cho dân Y-sơ-ra-ên đi.
28. Pha-ra-ôn nói rằng: Hãy lui ra
khỏi ta cho rảnh! Khá giữ mình đừng thấy mặt ta nữa, vì ngày nào ngươi
thấy mặt ta thì sẽ chết!
29. Môi-se bèn nói rằng: Bệ hạ nói phải lắm;
tôi chẳng hề thấy mặt bệ hạ nữa đâu.
Xuất Ê-díp-tô Ký 11
chọn đoạn khác
1. Vả, Ðức Giê-hô-va có phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ giáng
cho Pha-ra-ôn và xứ Ê-díp-tô một tai vạ nữa; đoạn, người sẽ tha các ngươi
đi khỏi đây. Khi người định tha đi, thì sẽ đuổi các ngươi ra khỏi
đây.
2. Vậy, hãy nói cùng dân sự và dặn rằng mỗi người bất luận nam hay
nữ phải xin kẻ lân cận mình những đồ bằng bạc và bằng vàng.
3. Ðức
Giê-hô-va làm cho dân sự được ơn trước mặt người Ê-díp-tô; Môi-se cũng là
một người rất tôn trọng trong xứ Ê-díp-tô, trước mắt quần thần của
Pha-ra-ôn và trước mắt dân ấy.
4. Môi-se nói: Ðức Giê-hô-va có phán như
vầy: Chừng giữa đêm ta sẽ ra tuần hành xứ Ê-díp-tô.
5. Hết thảy con
trưởng nam trong xứ Ê-díp-tô sẽ chết, từ thái tử của Pha-ra-ôn ngồi trên
ngai mình, cho đến con cả của người đòi ở sau cối, và luôn mọi con đầu
lòng của súc vật nữa.
6. Trong cả xứ Ê-díp-tô sẽ có tiếng kêu la inh
ỏi, cho đến đỗi chưa hề có, và cũng sẽ chẳng bao giờ có giống như vậy
nữa.
7. Nhưng, trong cả dân Y-sơ-ra-ên dầu đến một con chó cũng sẽ
chẳng sủa hoặc người, hoặc vật; hầu cho các ngươi biết rằng Ðức Giê-hô-va
phân biệt dân Y-sơ-ra-ên cùng người Ê-díp-tô là dường nào.
8. Nầy, quần
thần của bệ hạ sẽ xuống cùng tôi, sấp mình trước mặt tôi mà rằng: Ngươi và
cả dân sự theo ngươi hãy đi đi! Ðoạn, tôi sẽ đi ra. Môi-se bèn lui ra khỏi
Pha-ra-ôn lấy làm giận lắm.
9. Vả, Ðức Giê-hô-va có phán cùng Môi-se
rằng: Pha-ra-ôn chẳng khứng nghe ngươi đâu, hầu cho các dấu lạ ta thêm lên
trong xứ Ê-díp-tô.
10. Môi-se và A-rôn bèn làm các dấu lạ trước mặt
Pha-ra-ôn; nhưng Ðức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, nên người
chẳng tha dân Y-sơ-ra-ên đi khỏi xứ mình.
Xuất Ê-díp-tô Ký 12
chọn đoạn khác
1. Tại xứ Ê-díp-tô, Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng:
2. Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng giêng
trong quanh năm.
3. Hãy nói cho toàn hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Ðến
ngày mồng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng tùy theo nhà mình phải bắt một
con chiên con.
4. Nếu nhà ít người quá ăn không hết một chiên con, hãy
chung cùng người rất lân cận mình, tùy theo số người; và hãy tính cho mỗi
chiên con tùy sức người ăn hết.
5. Các ngươi hãy bắt hoặc trong bầy
chiên, hoặc trong bầy dê, chiên con đực hay là dê con đực, tuổi giáp niên,
chẳng tì vít chi,
6. đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi
cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối.
7. Họ sẽ lấy
huyết đem bôi trên hai cây cột và mày cửa của nhà nào ăn thịt chiên con
đó.
8. Ðêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau
đắng.
9. Chớ ăn thịt nửa chín nửa sống hay là luộc trong nước, nhưng
phải quay trên lửa cả và đầu, giò, với bộ lòng.
10. Các ngươi chớ để
chi còn lại đến sáng mai; nếu còn lại, hãy thiêu đi.
11. Vậy, ăn thịt
đó, phải như vầy: Dây lưng cột, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả; ấy
là lễ Vượt-qua của Ðức Giê-hô-va.
12. Ðêm đó ta sẽ đi qua xứ Ê-díp-tô,
hành hại mọi con đầu lòng xứ Ê-díp-tô, từ người ta cho đến súc vật; ta sẽ
xét đoán các thần của xứ Ê-díp-tô; ta là Ðức Giê-hô-va.
13. Huyết bôi
trên nhà các ngươi ở, sẽ dùng làm dấu hiệu; khi ta hành hại xứ Ê-díp-tô,
thấy huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có tai nạn hủy diệt các
ngươi.
14. Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ niệm; trải các đời hãy giữ
làm một lễ cho Ðức Giê-hô-va, tức là một lễ lập ra đời đời.
15. Trong
bảy ngày phải ăn bánh không men: vừa đến ngày thứ nhất, hãy dẹp men khỏi
nhà đi; vì hễ ai ăn bánh có men từ ngày thứ nhất cho đến ngày thứ bảy, thì
sẽ bị truất ra khỏi Y-sơ-ra-ên.
16. Ngày thứ nhất, sẽ có một sự nhóm
hiệp thánh; qua ngày thứ bảy các ngươi cũng sẽ có một sự nhóm hiệp thánh
nữa. Trong mấy ngày đó chẳng nên làm công việc chi, chỉ lo sắm đồ ăn cho
mỗi người cần ăn mà thôi.
17. Vậy, các ngươi hãy giữ lễ bánh không men,
vì chánh ngày đó ta rút quân đội các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô; nên chi,
trải các đời phải giữ ngày đó như một lễ lập ra đời đời.
18. Ngày mười
bốn tháng giêng, chiều lại, các ngươi sẽ ăn bánh không men cho đến chiều
ngày hai mươi mốt tháng đó.
19. Trong bảy ngày không nên còn thấy men
tại nhà các ngươi; vì bất luận người ngoại bang hay là người bổn xứ, hễ ai
ăn bánh có men sẽ bị truất khỏi hội chúng Y-sơ-ra-ên.
20. Chớ nên ăn
bánh có men; khắp nơi các ngươi ở đều phải ăn bánh không men.
21. Vậy,
Môi-se nhóm lại các trưởng lão Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: Hãy đi bắt một con
trong bầy cho mọi nhà các ngươi, và giết nó làm lễ Vượt-qua.
22. Rồi
hãy lấy một chùm kinh giới nhúng vào huyết trong chậu, bôi lên mây và hai
cây cột cửa, đoạn, trong các ngươi chớ ai ra khỏi cửa nhà mình cho đến
sáng mai.
23. Ðức Giê-hô-va sẽ đi qua đặng hành hại xứ Ê-díp-tô; khi
thấy huyết nơi mày và hai cây cột cửa, Ngài sẽ vượt qua, không cho kẻ tiêu
diệt vào nhà các ngươi đặng hành hại.
24. Hãy giữ lễ nầy như một lệ lập
ra đời đời cho các ngươi và con cháu các ngươi.
25. Khi nào các ngươi
vào xứ mà Ðức Giê-hô-va sẽ ban cho, như lời Ngài đã phán, thì hãy giữ lễ
nầy.
26. Khi con cháu các ngươi hỏi rằng: Lễ nầy là nghĩa chi?
27.
Hãy đáp rằng: Ấy là của tế lễ Vượt-qua của Ðức Giê-hô-va, vì khi Ngài hành
hại xứ Ê-díp-tô thì Ngài đi vượt qua các nhà dân Y-sơ-ra-ên, và cứu nhà
chúng ta đó.
28. Dân Y-sơ-ra-ên bèn cúi đầu lạy, rồi đi, làm theo như
lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se và A-rôn.
29. Vả, khi giữa đêm,
Ðức Giê-hô-va hành hại mọi con đầu lòng tại xứ Ê-díp-tô, từ thái tử của
Pha-ra-ôn ngồi trên ngai mình, cho đến con cả người bị tù, và hết thảy con
đầu lòng của súc vật.
30. Ðang lúc ban đêm, Pha-ra-ôn, quần thần cùng
hết thảy người Ê-díp-tô đều chờ dậy; có tiếng kêu la inh ỏi trong xứ
Ê-díp-tô, vì chẳng một nhà nào là không có người chết.
31. Trong đêm
đó, Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hai ngươi và dân
Y-sơ-ra-ên hãy chờ dậy, ra khỏi giữa vòng dân ta mà đi hầu việc Ðức
Giê-hô-va, như các ngươi đã nói.
32. Cũng hãy dẫn bò và chiên đi, như
lời các ngươi đã nói, và cầu phước cho ta nữa.
33. Người Ê-díp-tô thúc
giục dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mau mau, vì nói rằng: Chúng ta đều chết
hết!
34. Vậy, dân sự đều đem bột nhồi rồi chưa men đi, và bọc những
thùng nhồi bột trong áo tơi vác lên vai mình.
35. Vả, dân Y-sơ-ra-ên có
làm y theo lời Môi-se đã dặn, xin người Ê-díp-tô những đồ bằng bạc và bằng
vàng cùng áo xống.
36. Ðức Giê-hô-va làm cho dân sự được ơn trước mắt
người Ê-díp-tô, nên họ bằng lòng cho; và dân Y-sơ-ra-ên lột trần người
Ê-díp-tô vậy.
37. Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt, số không kể
con nít, được chừng sáu mươi vạn người đàn ông đi bộ.
38. Lại có vô số
người ngoại bang đi lên chung luôn với chiên, bò, súc vật rất
nhiều.
39. Chúng bèn hấp bánh không men bằng bột của mình đã đem theo
từ xứ Ê-díp-tô; bột không men, vì cớ bị đuổi khỏi xứ Ê-díp-tô không thế
chậm trễ, và cũng chẳng sắm kịp lương thực chi được.
40. Vả, thì kiều
ngụ của dân Y-sơ-ra-ên tại xứ Ê-díp-tô được bốn trăm ba mươi năm.
41.
Khi mãn bốn trăm ba mươi năm rồi, thì, cũng trong ngày đó, các quân đội
của Ðức Giê-hô-va ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
42. Ấy là một đêm người ta phải
giữ cho Ðức Giê-hô-va, vì Ngài rút dân Y-sơ-ra-ên khỏi xứ Ê-díp-tô. Trải
các đời, cả dân Y-sơ-ra-ên phải giữ đêm đó, để tôn trọng Ðức
Giê-hô-va.
43. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: Ðây là
luật lệ về lễ Vượt-qua: Phàm người ngoại bang chẳng được ăn lễ đó.
44.
Còn về phần kẻ tôi mọi, là người bỏ tiền ra mua, ngươi hãy làm phép cắt bì
cho, thì họ mới được ăn.
45. Khách ngoại bang và kẻ làm thuê cũng chẳng
được phép ăn lễ đâu.
46. Lễ đó chỉ ăn nội trong nhà; ngươi đừng đem
thịt ra ngoài, và cũng đừng làm gãy một cái xương nào.
47. Hết thảy hội
chúng Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt-qua.
48. Khi một khách ngoại bang nào
kiều ngụ nhà ngươi, muốn giữ lễ Vượt-qua của Ðức Giê-hô-va, thì mọi người
nam của họ phải chịu phép cắt bì; đoạn, họ mới được đến gần giữ lễ nầy, và
được coi như người sanh trong xứ. Nhưng ai không chịu phép cắt bì, thì
chẳng được ăn đâu.
49. Cũng đồng một luật cho người sanh trong xứ cùng
khách ngoại bang nào đến kiều ngụ giữa các ngươi.
50. Toàn dân
Y-sơ-ra-ên đều làm như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se và
A-rôn.
51. Cũng trong ngày đó, Ðức Giê-hô-va rút dân Y-sơ-ra-ên, tùy
theo quân đội, ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
Xuất Ê-díp-tô Ký 13
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2. Trong vòng dân
Y-sơ-ra-ên bất luận người hay vật, hãy vì ta biệt riêng ra thánh mọi con
đầu lòng; bởi con đầu lòng thuộc về ta.
3. Môi-se nói cùng dân sự rằng:
Hãy kỷ niệm ngày nầy, vì là ngày Ðức Giê-hô-va dùng tay quyền năng rút các
ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là khỏi nhà nô lệ; nên chớ ai ăn bánh có
men.
4. Ngày nay, nhằm tháng lúa trỗ, các ngươi ra đi.
5. Vậy khi
nào Ðức Giê-hô-va đưa ngươi vào bờ cõi xứ dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân
A-mô-rít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít rồi, là một xứ đượm sữa và mật, và
là xứ Ngài đã thề cùng tổ phụ sẽ ban cho ngươi, thì đến trong tháng nầy
hãy giữ lễ thánh đó.
6. Trong bảy ngày hãy ăn bánh không men; đến ngày
thứ bảy sẽ có lễ kính Ðức Giê-hô-va.
7. Phải ăn bánh không men trong
bảy ngày; khắp cả địa hạt ngươi sẽ không thấy bánh có men, hoặc men tại
nơi ngươi nữa.
8. Trong ngày đó hãy giải nghĩa cho con trai ngươi rằng:
Ấy vì việc Ðức Giê-hô-va làm cho ta, khi ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
9.
Ðiều đó sẽ làm một dấu hiệu nơi tay ngươi, làm một kỷ niệm ghi nơi trán ở
giữa cặp mắt ngươi, hầu cho luật pháp của Ðức Giê-hô-va ở nơi miệng ngươi,
vì Ðức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
10. Hằng năm, đến kỳ, ngươi phải giữ lễ nầy.
11. Khi Ðức
Giê-hô-va đã đưa ngươi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, như Ngài đã thề cùng ngươi,
và tổ phụ ngươi, khi Ngài đã ban xứ đó cho rồi,
12. thì hãy đem dâng
cho Ðức Giê-hô-va những con trưởng nam cùng cả con đầu lòng đực của súc
vật ngươi, vì chúng nó đều sẽ thuộc về Ðức Giê-hô-va.
13. Nhưng mỗi con
lừa đầu lòng, ngươi phải bắt chiên con hay là dê con mà chuộc; bằng không,
ngươi hãy vặn cổ nó. Ngươi cũng chuộc mọi trưởng nam trong vòng con trai
ngươi.
14. Vả, một mai con trai ngươi hỏi rằng: Ðiều đó có ý nghĩa chi?
thì hãy đáp rằng: Ấy vì cớ Ðức Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút chúng
ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức là nhà nô lệ;
15. và khi Pha-ra-ôn cứng
lòng không tha chúng ta đi, Ngài bèn giết hết các con đầu lòng trong xứ
đó, từ con trưởng nam người ta cho đến con đầu lòng súc vật. Vì cớ đó, ta
dâng tế lễ cho Ðức Giê-hô-va mọi con đực sanh đầu lòng, và ta chuộc con
trưởng nam trong vòng con trai ta.
16. Ấy sẽ làm một dấu hiệu nơi tay
ngươi, và ấn chí nơi trán giữa cặp mắt ngươi, để nhắc cho nhớ rằng Ðức
Giê-hô-va đã dùng tay quyền năng rút chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
17.
Vả, khi Pha-ra-ôn tha dân Y-sơ-ra-ên đi, Ðức Chúa Trời không dẫn dân ấy đi
theo đường về xứ Phi-li-tin, là đường gần hơn hết, vì Ngài nói rằng: E khi
dân thấy trận mạc, dời lòng trở về xứ Ê-díp-tô chăng.
18. Cho nên Ðức
Chúa Trời dẫn chúng đi vòng theo đường trong đồng vắng, về hướng Biển-dỏ.
Dân Y-sơ-ra-ên cầm khí giới ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
19. Môi-se dời hài cốt
Giô-sép theo mình, vì Giô-sép có bắt dân Y-sơ-ra-ên thề quyết rằng: Chắc
Ðức Chúa Trời sẽ viếng các ngươi; hãy dời hài cốt ta theo các ngươi khỏi
đây.
20. Vả, chúng đi khỏi Su-cốt, đóng trại tại Ê-tam, ở cuối đầu đồng
vắng.
21. Ðức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây,
để dẫn đường đi; ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho chúng, hầu cho
được đi luôn ngày và đêm.
22. Ban ngày trụ mây chẳng bao giờ cách xa
dân sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy.
Xuất Ê-díp-tô Ký 14 chọn
đoạn khác
1. Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2. Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên trở
lại đóng trại tại trước Phi-Ha-hi-rốt, ngang Ba-anh-Sê-phôn, giữa khoảng
Mít-đôn và biển. Các ngươi hãy đóng trại đối diện nơi nầy, gần biển.
3.
Chắc Pha-ra-ôn sẽ nói về dân Y-sơ-ra-ên rằng: Dân đó lạc đường bị khốn
trong đồng vắng rồi.
4. Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, người sẽ
đuổi theo dân đó; nhưng ta sẽ vì Pha-ra-ôn và cả toán binh người được rạng
danh; người Ê-díp-tô sẽ biết ta là Ðức Giê-hô-va. Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm
như vậy.
5. Vả, họ báo cùng vua Ê-díp-tô rằng dân Hê-bơ-rơ đã trốn đi
rồi. Lòng Pha-ra-ôn và quần thần đối cùng dân đó bèn thay đổi, nói rằng:
Chúng ta đã làm chi vậy, tha dân Y-sơ-ra-ên đi để khỏi phục dịch ta nữa
sao?
6. Pha-ra-ôn bèn thắng xe và đem dân mình theo.
7. Người đem
sáu trăm xe thượng hạng và hết thảy xe trong xứ Ê-díp-tô, trên mỗi xe đều
có chiến binh cả.
8. Ðức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn, vua xứ Ê-díp-tô,
cứng lòng, đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên; nhưng dân nầy đã ra đi một cách dạn
dĩ.
9. Người Ê-díp-tô và cả ngựa xe, lính kỵ, cùng toán binh của
Pha-ra-ôn đều đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên, gặp đang đóng đồn nơi bờ biển, gần
Phi-ha-hi-rốt, ngang Ba-anh-Sê-phôn.
10. Vả, khi Pha-ra-ôn đến gần, dân
Y-sơ-ra-ên ngước mắt lên, thấy dân Ê-díp-tô đuổi theo, bèn lấy làm hãi
hùng, kêu van Ðức Giê-hô-va.
11. Chúng lại nói cùng Môi-se rằng: Xứ
Ê-díp-tô há chẳng có nơi mộ phần, nên nỗi người mới dẫn chúng tôi vào đồng
vắng đặng chết sao? Người đưa chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô để làm chi?
12.
Chúng tôi há chẳng có nói cùng người tại xứ Ê-díp-tô rằng: Ðể mặc chúng
tôi phục dịch dân Ê-díp-tô, vì thà rằng phục dịch họ còn hơn phải chết nơi
đồng vắng?
13. Môi-se đáp cùng dân sự rằng: Chớ sợ chi, hãy ở đó, rồi
ngày nay xem sự giải cứu Ðức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi; vì người
Ê-díp-tô mà các ngươi ngó thấy ngày nay, thì chẳng bao giờ ngó thấy
nữa.
14. Ðức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho, còn các ngươi cứ yên
lặng.
15. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Sao ngươi kêu van ta?
Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ đi;
16. còn ngươi hãy giơ gậy lên, đưa tay
trên mặt biển, phân rẽ nước ra, thì dân Y-sơ-ra-ên sẽ xuống biển đi như
trên đất cạn.
17. Còn ta sẽ làm cho dân Ê-díp-tô cứng lòng theo dân
Y-sơ-ra-ên xuống biển, rồi ta sẽ được rạng danh vì Pha-ra-ôn, cả đạo binh,
binh xa, và lính kỵ người.
18. Khi nào ta được rạng danh vì Pha-ra-ôn,
binh xa, cùng lính kỵ người, thì người Ê-díp-tô sẽ rõ ràng ta là Ðức
Giê-hô-va vậy.
19. Thiên sứ của Ðức Chúa Trời đã đi trước trại quân của
dân Y-sơ-ra-ên lộn lại đi sau; còn trụ mây vốn đi trước trại quân, lại ở
về sau;
20. trụ mây đứng về giữa khoảng trại người Ê-díp-tô và trại dân
Y-sơ-ra-ên, làm áng mây tối tăm cho đàng nầy, soi sáng ban đêm cho đàng
kia; nên trọn cả đêm hai trại chẳng hề xáp gần nhau được.
21. Vả,
Môi-se giơ tay ra trên biển, Ðức Giê-hô-va dẫn trận gió đông thổi mạnh đến
đùa biển lại trọn cả đêm; Ngài làm cho biển bày ra khô, nước phân
rẽ.
22. Dân Y-sơ-ra-ên xuống biển, đi như trên đất cạn; còn nước làm
thành một tấm vách ngăn bên hữu và bên tả.
23. Người Ê-díp-tô bèn đuổi
theo; hết thảy ngựa, binh xa cùng lính kỵ của Pha-ra-ôn đều theo xuống
giữa biển.
24. Vả, đến canh sáng, Ðức Giê-hô-va ở trong lòng trụ mây và
lửa, nhìn ra thấy trại quân Ê-díp-tô, bèn làm cho họ phải rối loạn.
25.
Ngài tháo bánh xe của họ, khiến dẫn dắt cực nhọc. Người Ê-díp-tô bèn nói
nhau rằng: Ta hãy trốn khỏi dân Y-sơ-ra-ên đi, vì Ðức Giê-hô-va thế dân đó
mà chiến cự cùng chúng ta.
26. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy
giơ tay ngươi ra trên biển, nước sẽ trở lấp người Ê-díp-tô, binh xa và
lính kỵ của chúng nó.
27. Môi-se bèn giơ tay mình ra trên biển, lối
sáng mai, nước trở lấp phủ đáy biển lại, người Ê-díp-tô chạy trốn bị nước
chận; vậy Ðức Giê-hô-va xô họ xuống giữa biển.
28. Thế thì, nước trở
lại bao phủ binh xa, lính kỵ của cả đạo binh Pha-ra-ôn đã theo dân
Y-sơ-ra-ên xuống biển, chẳng còn sót lại một ai.
29. Song dân
Y-sơ-ra-ên đi giữa biển như trên đất cạn; nước làm thành vách ngăn bên hữu
và bên tả.
30. Trong ngày đó, Ðức Giê-hô-va giải cứu dân Y-sơ-ra-ên
thoát khỏi tay người Ê-díp-tô; dân ấy thấy người Ê-díp-tô chết trên bãi
biển.
31. Dân Y-sơ-ra-ên thấy việc lớn lao mà Ðức Giê-hô-va đã làm cho
người Ê-díp-tô, nên kính sợ Ngài, tin Ngài và Môi-se, là tôi tớ
Ngài.
Xuất Ê-díp-tô Ký
15 chọn đoạn khác
1. Ðoạn, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát
bài ca nầy cho Ðức Giê-hô-va, rằng: Tôi ca tụng Ðức Giê-hô-va, vì Ngài rất
vinh hiển oai nghiêm. Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi
ngựa.
2. Ðức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca tụng của tôi: Ngài đã trở
nên Ðấng cứu tôi. Ngài là Ðức Chúa Trời tôi, tôi ngợi khen Ngài; Ðức Chúa
Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài.
3. Ðức Giê-hô-va là một chiến
sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va.
4. Ngài đã ném xuống biển binh xa Pha-ra-ôn
và cả đạo binh của người; Quan tướng kén chọn của người đã bị đắm nơi Biển
đỏ,
5. Những lượn sóng đã vùi lấp họ rồi; Họ chìm đến đáy biển như một
hòn đá vậy.
6. Hỡi Ðức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài có sức mạnh vinh hiển
thay. Hỡi Ðức Giê-hô-va! Tay hữu Ngài hủy quân nghịch tan đi.
7. Bởi sự
cả thể của oai nghiêm Ngài, Ðánh đổ kẻ dấy nghịch cùng mình. Ngài nổi giận
phừng phừng, Ðốt họ cháy như rơm ra.
8. Lỗ mũi Ngài thở hơi ra, nước
bèn dồn lại, Lượn sóng đổ dựng như một bờ đê; Vực sâu đọng lại nơi rún
biển.
9. Quân nghịch rằng: Ta đuổi theo, ta sẽ đuổi kịp Ta sẽ chia phân
của giặc; Tâm hồn ta sẽ thỏa nguyện nơi họ; Ta rút gươm ra, tay ta hủy
diệt họ.
10. Ngài đã thở hơi ra Biển vùi lấp quân nghịch lại; Họ bị
chìm như cục chì Nơi đáy nước sâu.
11. Hỡi Ðức Giê-hô-va! trong vòng
các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như
Ngài. Ðáng sợ, đáng khen Hay làm các phép lạ?
12. Ngài đã đưa tay hữu
ra, Ðất đã nuốt chúng nó.
13. Ngài lấy lòng thương xót dìu dắt Dân nầy
mà Ngài đã chuộc lại; Ngài đã dùng năng lực đưa nó Về nơi ở thánh của
Ngài.
14. Các dân tộc nghe biết việc nầy đều run sợ, Cơn kinh hãi
áp-hãm dân xứ Pha-lê-tin.
15. Các quan trưởng xứ Ê-đôm bèn lấy làm bối
rối; Mấy mặt anh hùng nơi Mô-áp đều kinh hồn; Cả dân Ca-na-an đều mất
vía
16. Sự hoảng hốt kinh hãi giáng cho chúng nó; Hỡi Ðức Giê-hô-va! vì
quyền cao nơi cánh tay Ngài, Chúng nó đều bị câm như đá, Cho đến chừng nào
dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân mà Ngài đã chuộc, vượt qua rồi.
17.
Hỡi Ðức Giê-hô-va! Ngài đưa dân ấy vào, và lập nơi núi cơ nghiệp Ngài, Tức
là chốn Ngài đã sắm sẵn, để làm nơi ở của Ngài, Hỡi Chúa! là đền thánh mà
tay Ngài đã lập.
18. Ðức Giê-hô-va sẽ cai trị đời đời kiếp kiếp.
19.
Vì ngựa của Pha-ra-ôn, binh xa, cùng lính kỵ người đã xuống biển; Và Ðức
Giê-hô-va đã vùi dập nước biển lên trên, Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đi giữa biển
như đi trên đất cạn.
20. Nữ tiên tri Mi-ri-am, là em gái A-rôn, tay cầm
trống cơm, các đàn bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa.
21.
Mi-ri-am đáp lại rằng: Hãy ca tụng Ðức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển
oai nghiêm; Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa.
22. Ðoạn,
Môi-se đem dân Y-sơ-ra-ên đi khỏi Biển đỏ, đến nơi đồng vắng Su-rơ; trọn
ba ngày đi trong đồng vắng, kiếm chẳng được nước đâu cả.
23. Kế đến đất
Ma-ra, nhưng vì nước tại đó đắng, uống chẳng được, nên chi chỗ nầy gọi là
Ma-ra.
24. Dân sự bèn oán trách Môi-se rằng: Chúng tôi lấy chi
uống?
25. Môi-se kêu van Ðức Giê-hô-va; Ngài bèn chỉ cho người một cây
gỗ, người lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt. Ấy tại đó, Ðức
Giê-hô-va định luật lệ cùng lập pháp độ cho dân sự, và tại đó Ngài thử
họ.
26. Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời ngươi, làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều răn
và giữ mọi luật lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bịnh
nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Ðức Giê-hô-va, Ðấng chữa bịnh
cho ngươi.
27. Ðoạn, dân sự đến đất Ê-lim; nơi đó có mười hai suối
nước, và bảy mươi cây chà là; dân sự đóng trại tại đó, gần bên suối
nước.
Xuất Ê-díp-tô Ký
16 chọn đoạn khác
1. Nhằm ngày mười lăm tháng hai, sau
khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên ở nơi Ê-lim đi đến đồng
vắng Sin, nằm về giữa khoảng Ê-lim và Si-na-i.
2. Cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn tại nơi đồng vắng,
3. nói cùng hai
người rằng: Ôi! thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Ðức Giê-hô-va tại xứ
Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê! Vì hai người dẫn
dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đều bị chết đói.
4. Ðức Giê-hô-va
bèn phán cùng Môi-se rằng: Nầy, ta sẽ từ trên trời cao làm mưa bánh xuống
cho các ngươi. Dân sự sẽ đi ra, mỗi ngày nào thâu bánh đủ cho ngày nấy,
đặng ta thử dân coi có đi theo luật lệ của ta hay chăng.
5. Qua ngày
thứ sáu, dân sự sẽ dự bị phần đã góp, và sẽ được phần gấp bằng hai của
mình thường thâu hằng ngày.
6. Môi-se và A-rôn bèn nói cùng dân
Y-sơ-ra-ên rằng: Chiều nay các ngươi sẽ nhận biết rằng ấy là Ðức Giê-hô-va
đã rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô,
7. và sáng mai sẽ thấy sự vinh
quang của Ðức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi.
Vả lại, chúng ta là ai mà các ngươi oán trách chúng ta?
8. Môi-se nói:
Chiều nầy Ðức Giê-hô-va sẽ phát thịt cho các ngươi ăn, rồi sáng mai bánh
nhiều dư dật, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Thế thì,
chúng ta là ai? Những lời oán trách chẳng phải đổ về chúng ta đâu, nhưng
về Ðức Giê-hô-va vậy.
9. Môi-se nói cùng A-rôn rằng: Hãy nói cho cả hội
chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đến trước mặt Ðức Giê-hô-va, vì Ngài
đã nghe lời oán trách của các ngươi rồi.
10. Vả, khi A-rôn nói cùng cả
hội chúng Y-sơ-ra-ên, thì họ xây mặt về phía đồng vắng, thấy sự vinh quang
của Ngài hiện ra trong đám mây.
11. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng:
12. Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, ngươi hãy
nói cùng chúng nó rằng: Lối chiều các ngươi sẽ ăn thịt; sáng mai sẽ ăn
bánh no nê, và sẽ biết ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của các ngươi.
13.
Vậy, chiều lại, có chim cút bay lên phủ trên trại quân; đến sáng mai lại
có một lớp sương ở chung quanh trại quân.
14. Lớp sương đó tan đi, trên
mặt đồng vắng thấy có vật chi nhỏ, tròn, như hột sương đóng trên mặt
đất.
15. Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy, bèn hỏi nhau rằng: Cái chi vậy? Vì
chẳng biết vật đó là gì. Môi-se bèn nói cùng dân sự rằng: Ấy là bánh mà
Ðức Giê-hô-va ban cho các ngươi làm lương thực đó.
16. Nầy là lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn: Hãy tùy sức ăn của mỗi người, và tùy số người trong
trại mà góp cho mỗi tên một ô-me.
17. Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy,
kẻ thì lượm nhiều, người thì lượm ít,
18. cứ lường từ mô-me; ai lượm
nhiều chẳng được trội, ai lượm ít cũng chẳng thiếu; mỗi người lượm vừa đủ
sức mình ăn.
19. Môi-se nói cùng dân sự rằng: Ðừng ai để dư lại cho đến
sáng mai.
20. Nhưng dân sự chẳng nghe theo lời Môi-se, một vài người để
dư lại đến sáng mai; thì sâu hóa ở trong, vật sanh mùi hôi hám. Môi-se bèn
nổi giận cùng họ.
21. Vậy, hằng buổi sớm mai mỗi người lượm vừa đủ sức
mình ăn; khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra.
22. Ðến ngày thứ
sáu, dân sự lượm lương thực gấp hai; mỗi người hai ô-me. Các hội trưởng
đến thuật lại cho Môi-se rõ.
23. Người đáp rằng: Ấy là lời Ðức
Giê-hô-va đã phán rằng: Mai là ngày nghỉ, tức ngày Sa-bát thánh cho Ðức
Giê-hô-va, hãy nướng món chi các ngươi muốn nướng, hãy nấu món chi các
ngươi muốn nấu; hễ còn dư, hãy để dành đến sáng mai.
24. Dân sự bèn để
dành cho đến sáng mai, y như lời Môi-se đã truyền; vật đó chẳng sanh mùi
hôi hám và cũng chẳng hóa sâu chút nào.
25. Môi-se bèn nói rằng: Bữa
nay hãy ăn đồ đó đi, vì là ngày Sa-bát của Ðức Giê-hô-va; hôm nay các
ngươi chẳng tìm thấy vật đó ở trong đồng đâu.
26. Các ngươi lượm trong
sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, sẽ chẳng có đâu.
27.
Ngày thứ bảy, một vài người trong vòng dân sự ra đặng lượm lấy, nhưng tìm
chẳng thấy chi hết.
28. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Các
ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng
nào?
29. Hãy suy nghĩ rằng Ðức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát;
vậy nên, đến ngày thứ sáu Ngài lại cho các ngươi lương thực đủ hai ngày.
Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, chớ ai ra khỏi
nhà.
30. Thế thì, ngày thứ bảy dân sự đều nghỉ ngơi.
31. Nhà
Y-sơ-ra-ên đặt tên lương thực nầy là ma-na; nó giống như hột ngò, sắc
trắng, mùi như bánh ngọt pha mật ong.
32. Môi-se nói rằng: Lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn như vầy: Hãy đổ đầy một ô-me ma-na, đặng lưu truyền
trải các đời, hầu cho thiên hạ thấy thứ bánh ta đã cho các ngươi ăn nơi
đồng vắng, khi ta rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
33. Môi-se lại nói
cùng A-rôn rằng: Hãy lấy một cái bình đựng đầy một ô-me ma-na, để trước
mặt Ðức Giê-hô-va, đặng lưu truyền các đời.
34. A-rôn bèn để bình đó
trước sự chứng cớ, hầu cho được lưu truyền y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn Môi-se.
35. Dân Y-sơ-ra-ên ăn ma-na trải bốn mươi năm, cho đến khi
vào bờ cõi xứ Ca-na-an, là xứ có người ta ở.
36. Vả, ô-me là một phần
mười của ê-pha.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 17 chọn đoạn khác
1. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên
đi từ đồng vắng Sin, đi từng trạm, tùy theo lịnh Ðức Giê-hô-va, đóng trại
tại Rê-phi-đim; ở đó chẳng có nước cho dân sự uống.
2. Dân sự bèn kiếm
cớ cãi lộn cùng Môi-se mà rằng: Hãy cho chúng tôi nước uống. Môi-se đáp
rằng: Sao các ngươi kiếm cớ cãi lộn cùng ta? Sao ướm thử Ðức Giê-hô-va
vậy?
3. Dân sự ở đó không có nước, bị khát, nên oán trách Môi-se mà
rằng: Sao người khiến chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô, hầu cho chúng tôi, con và
các bầy súc vật phải chịu chết khát thế nầy?
4. Môi-se bèn kêu cầu Ðức
Giê-hô-va mà rằng: Tôi phải xử thế nào cùng dân nầy? Thiếu điều họ ném đá
tôi!
5. Ðức Giê-hô-va đáp cùng Môi-se rằng: Hãy cầm gậy của ngươi đã
đập dưới sông, dẫn theo những trưởng lão Y-sơ-ra-ên, rồi đi trước mặt dân
sự.
6. Nầy ta sẽ đứng đằng trước ngươi, ở trên hòn đá tại Hô-rếp kia,
ngươi hãy đập hòn đá, thì nước từ đó chảy ra, dân sự sẽ uống lấy. Môi-se
bèn làm như vậy trước mặt các trưởng lão Y-sơ-ra-ên.
7. Người đặt tên
nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì cớ việc cãi lộn mà dân Y-sơ-ra-ên kiếm cớ
gây cùng người, và vì họ đã ướm thử Ðức Giê-hô-va mà nói rằng: Có Ðức
Giê-hô-va ở giữa chúng ta hay chăng?
8. Vả, khi đó, dân A-ma-léc đến
khêu chiến cùng Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim.
9. Môi-se bèn nói cùng
Giô-suê rằng: Hãy chọn lấy tráng sĩ cho chúng ta, ra chiến đấu cùng dân
A-ma-léc; ngày mai ta sẽ đứng nơi đầu nổng, cầm gậy của Ðức Chúa Trời
trong tay.
10. Giô-suê bèn làm y như lời Môi-se nói, để cự chiến dân
A-ma-léc; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ lên trên đầu nổng.
11. Vả, hễ đang
khi Môi-se giơ tay lên, thì dân Y-sơ-ra-ên thắng hơn; nhưng khi người xụi
tay xuống, dân A-ma-léc lại thắng hơn.
12. Tay Môi-se mỏi, A-rôn và
Hu-rơ bèn lấy đá kê cho người ngồi, rồi ở hai bên đỡ tay người lên; tay
người chẳng lay động cho đến khi mặt trời lặn.
13. Giô-suê lấy lưỡi
gươm đánh bại A-ma-léc và dân sự người.
14. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng
Môi-se rằng: Hãy chép điều nầy trong sách làm kỷ niệm, và hãy nói cho
Giô-suê biết rằng ta sẽ bôi sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên
hạ.
15. Môi-se lập lên một bàn thờ, đặt tên là "Giê-hô-va cờ xí của
tôi";
16. và nói rằng: Bởi vì A-ma-léc có giơ tay lên nghịch cùng ngôi
Ðức Giê-hô-va, nên Ðức Giê-hô-va chinh chiến với A-ma-léc từ đời nầy qua
đời kia.
Xuất Ê-díp-tô
Ký 18 chọn đoạn khác
1. Giê-trô, thầy tế lễ xứ Ma-đi-an,
ông gia của Môi-se, hay được mọi điều Ðức Chúa Trời đã làm cho Môi-se cùng
Y-sơ-ra-ên, là dân sự Ngài, và nghe Ngài đã dẫn dân ấy ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
2. Người bèn dẫn Sê-phô-ra, vợ Môi-se, đã cho trở về nhà
cha,
3. cùng hai con trai, một tên là Ghẹt-sôn, vì Môi-se đã nói rằng:
Tôi kiều ngụ nơi ngoại bang;
4. và một tên là Ê-li-ê-se, vì người lại
có nói: Ðức Chúa Trời của tổ phụ tôi đã vùa giúp và giải cứu tôi khỏi gươm
Pha-ra-ôn.
5. Vậy, Giê-trô, ông gia của Môi-se, đến với hai con trai và
vợ Môi-se, thăm người nơi đồng vắng, chỗ đóng trại gần bên núi Ðức Chúa
Trời.
6. Người bèn sai báo cùng Môi-se rằng: Ta là Giê-trô, ông gia của
ngươi, ta cùng vợ ngươi và hai con trai nàng đến thăm ngươi.
7. Môi-se
ra đón rước ông gia mình, mọp xuống và hôn người, hỏi thăm nhau, rồi vào
trại.
8. Môi-se liền thuật cho ông gia mình biết mọi điều Ðức Giê-hô-va
vì Y-sơ-ra-ên đã làm cho Pha-ra-ôn và người Ê-díp-tô, mọi điều khổ nhọc
xảy đến cho mình dọc đường và Ðức Giê-hô-va đã giải thoát dân Y-sơ-ra-ên
thế nào.
9. Giê-trô lấy làm vui mừng về các ơn mà Ðức Giê-hô-va đã làm
cho Y-sơ-ra-ên, giải cứu dân ấy khỏi tay người Ê-díp-tô.
10. Giê-trô
nói rằng: Ðáng ngợi khen Ðức Giê-hô-va thay! là Ðấng đã giải cứu các ngươi
ra khỏi tay người Ê-díp-tô và tay Pha-ra-ôn, và giải cứu dân sự ra khỏi
quyền của người Ê-díp-tô.
11. Bây giờ ta biết rằng Ðức Giê-hô-va là lớn
hơn hết các thần, vì khi người Ê-díp-tô cậy lòng kiêu ngạo dấy lên, thì
Ngài thắng được chúng nó.
12. Giê-trô, ông gia của Môi-se, bèn bày một
của lễ thiêu và các lễ vật mà dâng cho Ðức Chúa Trời; rồi A-rôn và các
trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến ăn bánh cùng ông gia của Môi-se, trước mặt Ðức
Chúa Trời.
13. Qua ngày sau, Môi-se ra ngồi xét đoán dân sự; dân sự
đứng chực trước mặt người từ sớm mai đến chiều.
14. Ông gia thấy mọi
điều người làm cho dân sự, bèn hỏi rằng: Con làm chi cùng dân sự đó? Sao
con chỉ ngồi một mình, còn cả dân sự đứng chực trước mặt từ sớm mai cho
đến chiều như vậy?
15. Môi-se bèn thưa rằng: Ấy vì dân sự đến cùng tôi
đặng hỏi ý Ðức Chúa Trời.
16. Khi nào họ có việc chi, thì đến cùng tôi,
tôi xét đoán người nầy cùng người kia, và cho họ biết những mạng lịnh và
luật pháp của Ðức Chúa Trời.
17. Nhưng ông gia lại nói rằng: Ðiều con
làm đó chẳng tiện.
18. Quả thật, con cùng dân sự ở với con sẽ bị đuối
chẳng sai, vì việc đó nặng nề quá sức con, một mình gánh chẳng nổi.
19.
Bây giờ, hãy nghe cha khuyên con một lời, cầu xin Ðức Giê-hô-va phù hộ
cho. Về phần con, hãy làm kẻ thay mặt cho dân sự trước mặt Ðức Chúa Trời,
và đem trình mọi việc cho Ngài hay.
20. Hãy lấy mạng lịnh và luật pháp
Ngài mà dạy họ, chỉ cho biết con đường nào phải đi, và điều chi phải
làm.
21. Nhưng hãy chọn lấy trong vòng dân sự mấy người tài năng, kính
sợ Ðức Chúa Trời, chân thật, ghét sự tham lợi, mà lập lên trên dân sự, làm
trưởng cai trị hoặc ngàn người, hoặc trăm người, hoặc năm mươi người, hoặc
mười người,
22. đặng xét đoán dân sự hằng ngày. Nếu có việc can hệ lớn,
họ hãy giải lên cho con; còn những việc nhỏ mọn, chính họ hãy xét đoán
lấy. Hãy san bớt gánh cho nhẹ; đặng họ chia gánh cùng con.
23. Nếu con
làm việc nầy, và Ðức Chúa Trời ban lịnh cho con, con chắc sẽ chịu nổi
được, và cả dân sự nấy sẽ đến chỗ mình bình yên.
24. Môi-se vâng lời
ông gia mình, làm y như lọi điều người đã dạy.
25. Vậy, Môi-se bèn chọn
trong cả Y-sơ-ra-ên những người tài năng, lập lên trên dân sự, làm trưởng
cai trị, hoặc ngàn người, hoặc trăm người, hoặc năm mươi người, hoặc mười
người;
26. họ xét đoán dân sự hằng ngày. Các việc khó họ giãi lên cho
Môi-se; nhưng chính họ xét lấy các việc nhỏ.
27. Ðoạn, Môi-se để cho
ông gia mình trở về xứ người.
Xuất Ê-díp-tô Ký 19 chọn
đoạn khác
1. Tháng
thứ ba, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, trong ngày đó dân Y-sơ-ra-ên đến nơi
đồng vắng Si-na-i.
2. Từ Rê-phi-đim ra đi, đến nơi đồng vắng Si-na-i,
đóng trại tại đó, đối diện cùng núi.
3. Môi-se bèn lên đến Ðức Chúa
Trời, Ðức Giê-hô-va ở trên núi gọi người mà phán rằng: Ngươi hãy nói như
vầy cho nhà Gia-cốp, và tỏ điều nầy cho dân Y-sơ-ra-ên:
4. Các ngươi đã
thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng
làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thể nào.
5. Vậy, bây giờ, nếu các
ngươi vâng lời ta và giữ sự giao ước ta, thì trong muôn dân, các ngươi sẽ
thuộc riêng về ta, vì cả thế gian đều thuộc về ta.
6. Các ngươi sẽ
thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó
ngươi sẽ nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên.
7. Môi-se đến đòi các trưởng lão
trong dân sự, thuật cùng họ mọi lời Ðức Giê-hô-va đã dặn mình nói
lại.
8. Cả dân sự đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi xin làm mọi việc Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn. Môi-se bèn thuật lại lời của dân sự cùng Ðức
Giê-hô-va.
9. Ngài phán rằng: Nầy, ta sẽ ở trong đám mây mịt mịt đi đến
ngươi; đặng khi nào ta phán cùng ngươi, thì dân sự nghe và tin cậy ngươi
luôn luôn. Ðoạn, Môi-se đem lời của dân sự thưa lại cho Ðức
Giê-hô-va.
10. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi đến cùng
dân sự, khiến dân giữ mình thánh sạch ngày nay và ngày mai, cùng phải giặt
áo xống mình.
11. Qua ngày thứ ba, dân khá sẵn sàng, vì ngày đó Ðức
Giê-hô-va sẽ giáng lâm trước mắt dân sự tại núi Si-na-i.
12. Vả, ngươi
hãy phân định giới hạn cho dân sự ở chung quanh núi, và dặn rằng: Khá giữ
mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử
tử.
13. Chớ ai tra tay vào mình người đó, nhưng người đó phải bị liệng
đá hoặc bắn tên; bất luận vật hay người, cũng chẳng để cho sống đâu. Khi
kèn thổi lên, dân sự sẽ đến gần núi.
14. Môi-se xuống núi đến cùng dân
sự, khiến họ giữ mình thánh sạch, và giặt áo xống mình.
15. Người dặn
dân sự rằng: Trong ba ngày hãy sẵn sàng chớ đến gần đàn bà.
16. Qua
sáng ngày thứ ba, có sấm vang chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi,
và tiếng kèn thổi rất vang động; cả dân sự ở trong trại quân đều run
hãi.
17. Môi-se bèn biểu dân ra khỏi trại quân nghinh tiếp Ðức Chúa
Trời; dân sự dừng lại tại chân núi.
18. Vả, bấy giờ, khắp núi Si-na-i
đều ra khói, vì Ðức Giê-hô-va ở trong lửa giáng lâm nơi đó; khói ra khác
nào khói của lò lửa lớn kia, và cả hòn núi đều rung động cách kịch
liệt.
19. Tiếng kèn càng vang động; Môi-se nói, Ðức Chúa Trời đáp tiếng
lại.
20. Ðức Giê-hô-va giáng-lâm trên chót núi Si-na-i, đòi Môi-se lên,
Môi-se bèn lên.
21. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Hãy xuống cấm dân sự đừng
xông pha đến gần Ðức Giê-hô-va mà nhìn, e nhiều người trong bọn phải chết
chăng.
22. Dầu những thầy tế lễ đến gần Ðức Giê-hô-va cũng phải giữ
mình thánh sạch, kẻo Ngài hại họ chăng.
23. Môi-se thưa cùng Ðức
Giê-hô-va rằng: Dân sự chẳng được lên núi Si-na-i đâu, vì Ngài có cấm
chúng tôi mà phán rằng: Hãy phân định giới hạn chung quanh núi, và phân
biệt nơi đó là đất thánh.
24. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Hãy đi xuống,
rồi đem A-rôn lên cùng ngươi, song những thầy tế lễ và dân sự chớ xông pha
đặng lên đến gần Ðức Giê-hô-va, e Ngài hại họ chăng.
25. Vậy, Môi-se đi
xuống, nói lại cho dân sự nghe.
Xuất Ê-díp-tô Ký 20 chọn
đoạn khác
1. Bấy giờ,
Ðức Chúa Trời phán mọi lời nầy, rằng:
2. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ.
3. Trước mặt ta,
ngươi chớ có các thần khác.
4. Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng
chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp
nầy, hoặc trong nước dưới đất.
5. Ngươi chớ quì lạy trước các hình
tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ngươi, tức là Ðức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ
phạt lại con cháu đến ba bốn đời,
6. và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho
những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta.
7. Ngươi chớ lấy danh
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi mà làm chơi, vì Ðức Giê-hô-va chẳng cầm bằng
vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi.
8. Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm
nên ngày thánh.
9. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu
ngày;
10. nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái tôi trai tớ gái, súc vật
của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc
chi hết;
11. vì trong sáu ngày Ðức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất,
biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Ðức
Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh.
12. Hãy
hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời ngươi ban cho.
13. Ngươi chớ giết người.
14. Ngươi chớ
phạm tội tà dâm.
15. Ngươi chớ trộm cướp.
16. Ngươi chớ nói chứng
dối cho kẻ lân cận mình.
17. Ngươi chớ tham nhà kẻ lân cận ngươi, cũng
đừng tham vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa, hay là vật chi thuộc về
kẻ lân cận ngươi.
18. Vả, cả dân sự nghe sấm vang, tiếng kèn thổi, thấy
chớp nhoáng, núi ra khói, thì run rẩy và đứng cách tận xa.
19. Dân sự
bèn nói cùng Môi-se rằng: Chính mình người hãy nói cùng chúng tôi thì
chúng tôi sẽ nghe; nhưng cầu xin Ðức Chúa Trời chớ phán cùng, e chúng tôi
phải chết chăng.
20. Môi-se đáp rằng: Ðừng sợ chi, vì Ðức Chúa Trời
giáng lâm đặng thử các ngươi, hầu cho sự kính sợ Ngài ở trước mặt các
ngươi, cho các ngươi không phạm tội.
21. Vậy, dân sự đứng cách tận xa,
còn Môi-se đến gần đám mây đen kịt có Ðức Chúa Trời ngự ở trong.
22.
Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như
vầy: Các ngươi đã thấy ta từ trên trời phán xuống cùng;
23. vậy, chớ
đúc tượng thần bằng bạc hay bằng vàng mà sánh với ta.
24. Ngươi hãy lập
cho ta một bàn thờ bằng đất, trên đó phải dâng của lễ thiêu, cùng của lễ
thù ân của ngươi, hoặc chiên hay bò. Phàm nơi nào có ghi nhớ danh ta, ta
sẽ đến và ban phước cho ngươi tại đó.
25. Nếu ngươi lập cho ta một bàn
thờ bằng đá, chớ dùng đá chạm, vì nếu ngươi dùng đồ để chạm thì sẽ làm đá
đó ra ô uế.
26. Ngươi chớ đi từ bực thang lên bàn thờ ta, hầu cho sự
lõa lồ ngươi không tố lộ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 21 chọn
đoạn khác
1. Ðây là
luật lệ ngươi phải truyền cho dân sự:
2. Nếu ngươi mua một người đầy tớ
Hê-bơ-rơ, nó sẽ hầu việc cho sáu năm; nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ được thả
ra, không phải thối tiền.
3. Nếu nó vào ở một mình, thì sẽ ra một mình;
nếu có vợ, thì sẽ ra với vợ.
4. Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ
sanh được con trai hay gái, thì nó sẽ ra một mình, vợ và con thuộc về
chủ.
5. Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không
muốn ra được tự do,
6. thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Ðức Chúa
Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc
người chủ đó trọn đời.
7. Nếu ai bán con gái mình làm con đòi, con gái
đó không được ra như các đầy tớ kia.
8. Nếu chủ trước đã ưng lấy con
đòi làm hầu, rồi sau lại chẳng muốn, thì chủ phải biểu chuộc nàng lại, chớ
không có phép gạt, rồi đem bán nàng cho kẻ ngoại bang.
9. Nhưng nếu chủ
định để cho con trai mình, thì phải xử với nàng theo phép như con gái mình
vậy.
10. Nếu chủ có lấy người khác, thì đối với người thứ nhất chẳng
được phép giảm đồ ăn, đồ mặc, và tình nghĩa vợ chồng chút nào.
11. Nếu
người chủ không làm theo ba điều nầy, nàng được phép ra không, chẳng phải
thối tiền lại.
12. Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử.
13.
Nhược bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng vì Ðức Chúa Trời đã phú người
bị giết vào tay kẻ đó, thì ta sẽ lập cho ngươi một chỗ đặng kẻ giết người
ẩn thân.
14. Còn nhược bằng kẻ nào dấy lên cùng người lân cận mà lập
mưu giết người, thì dẫu rằng nó núp nơi bàn thờ ta, ngươi cũng bắt mà giết
đi.
15. Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.
16. Kẻ nào bắt
người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử.
17. Kẻ nào mắng
cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử.
18. Khi hai người đánh lộn nhau, người
nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, không đến đỗi phải chết, nhưng
phải nằm liệt giường,
19. nếu đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được,
người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền thiệt hại trong mấy
ngày nghỉ và nuôi cho đến khi lành mạnh.
20. Khi người chủ lấy gậy đánh
đầy tớ trai hay gái mình và chết liền theo tay, thì chắc phải bị
phạt.
21. Song nếu đầy tớ trai hay gái còn sống một hai ngày, người chủ
khỏi tội, vì nó vốn là tài sản của chủ.
22. Nếu người ta đánh nhau,
đụng nhằm một người đàn bà có thai, làm cho phải sảo, nhưng chẳng bị sự
hại chi khác, thì kẻ đánh nhằm đó phải bồi thường theo lời chồng người sẽ
định, và trả tiền trước mặt quan án.
23. Còn nếu có sự hại chi, thì
ngươi sẽ lấy mạng thường mạng,
24. lấy mắt thường mắt, lấy răng thường
răng, lấy tay thường tay, lấy chân thường chân,
25. lấy phỏng thường
phỏng, lấy bầm thường bầm, lấy thương thường thương.
26. Nếu ai đánh
nhằm con mắt đầy tớ trai hay gái mình, làm cho mất đi, thì hãy tha nó ra
tự do, vì cớ mất con mắt.
27. Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai
hay gái mình, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất một răng.
28. Ví có
một con bò báng nhằm một người đàn ông hay đàn bà phải chết đi, con bò sẽ
bị ném đá chết, người ta không nên ăn thịt nó; còn người chủ bò sẽ được vô
tội.
29. Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng
vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà,
thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa.
30. Nhược bằng người ta
định giá cho chủ bò chuộc mạng, chủ phải chuộc mạng mình y như giá đã
định.
31. Nếu bò báng nhằm một đứa con trai hay là con gái, người ta
cũng sẽ chiếu theo luật nầy.
32. Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai
hay gái, chủ bò phải trả ba chục siếc lơ bạc cho chủ nó; rồi bò sẽ bị ném
đá chết.
33. Nếu ai mở miệng hầm hay là đào hầm mà chẳng đậy lại, và
nếu có bò hay là lừa té xuống đó,
34. chủ hầm sẽ bồi thường giá tiền
cho chủ của súc vật, nhưng súc vật bị giết đó sẽ về phần mình.
35. Bằng
bò của ai báng nhằm bò của kẻ lân cận mình phải chết đi, hai người hãy bán
bò sống đó, chia tiền và chia luôn con bò chết nữa.
36. Nếu người chủ
đã tỏ tường trước rằng bò mình có tật hay báng, mà không lo cầm giữ, chủ
phải lấy bò thường bò, nhưng bò chết sẽ về phần người.
Xuất Ê-díp-tô Ký 22
chọn đoạn khác
1. Ví ai bắt trộm bò hay chiên, rồi giết
hoặc bán đi, thì phải thường năm con bò cho một con, và bốn con chiên cho
một con.
2. Nếu kẻ trộm đang cạy cửa mà bị bắt và đánh chết đi, thì kẻ
đánh chết chẳng phải tội sát nhân.
3. Song nếu đánh chết trong khi mặt
trời đã mọc rồi, thì bị tội sát nhân. Kẻ trộm phải bồi thường; bằng chẳng
có chi, thì sẽ bị bán vì tội trộm cắp mình.
4. Nếu vật mà kẻ trộm đã
lấy, hoặc bò, lừa hay chiên, hãy còn thấy sống trong tay, thì kẻ trộm phải
bồi thường gấp hai.
5. Ngộ ai làm hư hại trong ruộng hay là vườn nho,
thả súc vật mình vào ăn trong ruộng người khác, thì ai đó phải lấy hoa lợi
tốt nhất của ruộng hay là vườn nho mình mà thường bồi.
6. Nếu lửa nổi
đốt bụi gai và cháy lan qua lúa đã bó, mùa màng, hay là đồng ruộng, thì kẻ
nổi lửa đó phải bồi thường trọn mọi vật đã bị cháy.
7. Khi ai giao tiền
bạc bay đồ vật cho kẻ lân cận mình giữ, rủi bị trộm cắp tại nhà kẻ lân cận
đó, nếu tên trộm đã bị bắt được, thì nó phải thường gấp hai.
8. Nếu kẻ
trộm không bị bắt được, thì chủ nhà cho gởi phải dẫn đến trước mặt Ðức
Chúa Trời, đặng thề rằng mình chẳng hề đặt tay vào tài vật của kẻ lân cận
mình.
9. Trong mọi việc gian lận nào, hoặc về một con bò, một con lừa,
một con chiên, áo xống hay là một vật chi bị mất, mà có người nói rằng:
"quả thật là đồ đó", thì phải đem duyên cớ hai đàng đến trước mặt Ðức Chúa
Trời; kẻ nào bị Ngài xử phạt phải thường bồi cho kẻ lân cận mình gấp
hai.
10. Nhược bằng người nào giao lừa, bò, chiên, hoặc súc vật nào
khác cho kẻ lân cận mình giữ và bị chết, gãy một giò hay là bị đuổi đi,
không ai thấy,
11. thì hai đàng phải lấy danh Ðức Giê-hô-va mà thề, hầu
cho biết rằng người giữ súc vật có đặt tay trên tài vật của kẻ lân cận
mình chăng. Người chủ con vật phải nhận lời thề, và người kia chẳng bồi
thường.
12. Còn nếu con vật bị bắt trộm, thì người lãnh giữ phải thường
bồi cho chủ nó.
13. Nếu con bật bị thú rừng xé chết, người lãnh giữ
phải đem nó ra làm chứng, sẽ không phải bồi thường vật bị xé đó.
14. Vì
ai mượn người lân cận mình một con vật mà nó gãy một giò, hoặc bị chết,
không có mặt chủ, thì ai đó phải bồi thường.
15. Nếu chủ có mặt tại đó,
thì không phải bồi thường. Nếu con vật đã cho mướn, thì giá muớn thế cho
tiền bồi thường.
16. Nếu kẻ nào hòa dụ và nằm với một người gái đồng
trinh chưa hứa giá, thì kẻ đó phải nộp tiền sính và cưới nàng làm
vợ.
17. Nhược bằng cha nàng quyết từ chối không gả, thì kẻ đó phải nộp
tiền bằng số tiền sính của người gái đồng trinh.
18. Ngươi chớ để các
đồng cốt sống.
19. Kẻ nào nằm cùng một con vật sẽ bị xử tử.
20. Kẻ
nào tế các thần khác hơn một mình Ðức Giê-hô-va sẽ bị diệt.
21. Ngươi
chớ nên bạc đãi khách ngoại bang, và cũng chẳng nên hà hiếp họ, vì các
ngươi đã làm khách kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô.
22. Các ngươi chớ ức hiếp
một người góa bụa hay là một kẻ mồ côi nào.
23. Nếu ức hiếp họ, và họ
kêu van ta, chắc ta sẽ nghe tiếng kêu của họ;
24. cơn nóng giận ta
phừng lên, sẽ lấy gươm giết các ngươi, thì vợ các ngươi sẽ trở nên góa
bụa, và con các ngươi sẽ mồ côi.
25. Trong dân ta có kẻ nghèo nàn ở
cùng ngươi, nếu ngươi cho người mượn tiền, chớ xử với họ như người cho
vay, và cũng chẳng nên bắt họ chịu lời.
26. Nếu ngươi cầm áo xống của
kẻ lân cận mình làm của tin, thì phải trả cho họ trước khi mặt trời
lặn;
27. vì là đồ chỉ có che thân, là áo xống che đậy da mình; người
lấy chi mà ngủ? Nếu người đến kêu van ta, tất ta sẽ nghe lời người, vì ta
là Ðấng hay thương xót.
28. Ngươi chớ nên nói lộng ngôn cùng Ðức Chúa
Trời, và cũng đừng rủa sả vua chúa của dân sự ngươi.
29. Ngươi chớ trễ
nải mà dâng cho ta những hoa quả đầu mùa của ngươi chứa trong vựa và rượu
ép chảy nơi bàn ép. Ngươi cũng phải dâng cho ta con trai đầu lòng
ngươi.
30. Về phần chiên và bò ngươi cũng hãy làm như vậy; trong bảy
ngày đầu, con đầu lòng ở cùng mẹ nó, qua ngày thứ tám ngươi hãy dâng nó
cho ta.
31. Các ngươi sẽ làm người thánh của ta, chớ nên ăn thịt chi bị
thú rừng xé ở ngoài đồng; hãy liệng cho chó ăn.
Xuất Ê-díp-tô Ký 23
chọn đoạn khác
1. Ngươi chớ đồn huyễn; chớ hùa cùng kẻ hung ác đặng làm
chứng dối.
2. Ngươi chớ hùa đảng đông đặng làm quấy; khi ngươi làm
chứng trong việc kiện cáo, chớ nên trở theo bên phe đông mà phạm sự công
bình.
3. Ngươi chớ tư vị kẻ nghèo trong việc kiện cáo.
4. Nhược bằng
ngươi gặp bò hay lừa của kẻ thù nghịch mình đi lạc thì buộc phải đem về
cho họ.
5. Ngộ ngươi thấy lừa của kẻ ghét mình bị chở nặng phải quị,
chớ khá bỏ ngơ, phải cứu nó cho được nhẹ.
6. Trong cơn kiện cáo, ngươi
chớ phạm quyền lợi của người nghèo ở giữa vòng ngươi.
7. Ngươi phải
tránh xa các lời giả dối; chớ giết kẻ vô tội và kẻ công bình, vì ta chẳng
hề tha kẻ gian ác đâu.
8. Ngươi chớ nhậm của hối lộ, vì của hối lộ làm
mờ mắt người thượng trí, và làm mất duyên do của kẻ công bình.
9. Ngươi
chớ hiếp đáp người ngoại bang, vì các ngươi đã kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô,
chính các ngươi hiểu biết lòng khách ngoại bang là thế nào.
10. Trải
sáu năm ngươi hãy gieo trong đất, thâu lấy hoa lợi,
11. nhưng qua năm
thứ bảy hãy để đất hoang cho nghỉ; hầu cho kẻ nghèo khổ trong dân sự ngươi
được nhờ lấy hoa quả đất đó, còn dư lại bao nhiêu, thú vật ngoài đồng ăn
lấy. Cũng hãy làm như vậy về vườn nho và cây ô-li-ve.
12. Luôn trong
sáu ngày ngươi hãy làm công việc mình, nhưng qua ngày thứ bảy hãy nghỉ,
hầu cho bò và lừa ngươi được nghỉ; cùng con trai của đầy tớ gái và người
ngoại bang được dưỡng sức lại.
13. Ngươi khá giữ hết mọi lời ta phán
cùng ngươi. Chớ xưng đến danh các thần khác; chớ cho nghe danh đó ở nơi
miệng ngươi ra.
14. Mỗi năm ba kỳ ngươi sẽ giữ lễ kính ta.
15. Ngươi
hãy giữ lễ bánh không men; phải ăn bánh không men trong bảy ngày về mùa
tháng lúa trỗ, như lời ta đã phán dặn; vì trong tháng đó ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô. Lại chẳng ai nên tay không đến trước mặt ta.
16. Ngươi hãy
giữ lễ mùa màng, tức là mùa hoa quả đầu tiên của công lao ngươi về các
giống ngươi đã gieo ngoài đồng; và giữ lễ mùa gặt về lúc cuối năm, khi các
ngươi đã hái hoa quả của công lao mình ngoài đồng rồi.
17. Mỗi năm ba
kỳ các người nam phải đến trước mặt Chúa, tức là Ðức Giê-hô-va.
18.
Ngươi chớ dâng huyết của con sinh tế ta chung với bánh có pha men; còn mỡ
của nó dâng nhằm ngày lễ kính ta, chớ để trọn đêm đến sáng mai.
19.
Những hoa quả đầu mùa của đất, ngươi phải đem đến đền thờ Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời ngươi. Ngươi chớ nên nấu dê con trong sữa mẹ nó.
20. Ðây nầy,
ta sai một thiên sứ đi trước mặt ngươi, đặng phù hộ trong lúc đi đường, và
đưa ngươi vào nơi ta đã dự bị.
21. Trước mặt người, ngươi khá giữ mình,
phải nghe theo lời, chớ nên phản nghịch; người sẽ chẳng tha tội ngươi đâu,
vì danh ta ngự trong mình người.
22. Nhưng nếu ngươi chăm chỉ nghe lời
người, cùng làm theo mọi lời ta sẽ phán, ta sẽ thù nghịch cùng kẻ thù
nghịch ngươi, và đối địch với kẻ đối địch ngươi.
23. Vì thiên sứ ta sẽ
đi trước mắt, đưa ngươi vào xứ của dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân
Phê-rê-sít, dân Ca-na-an, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, rồi ta sẽ diệt
chúng nó.
24. Ngươi chớ quì lạy và hầu việc các thần chúng nó; chớ bắt
chước công việc họ, nhưng phải diệt hết các thần đó và đạp nát các pho
tượng họ đi.
25. Ngươi hãy hầu việc Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi; Ngài
sẽ ban ơn cho vật ăn uống của ngươi và tiêu trừ các bịnh hoạn giữa vòng
ngươi.
26. Trong xứ ngươi sẽ chẳng có đàn bà sảo thai hay là đàn bà son
sẻ. Ta sẽ cho ngươi được trường thọ.
27. Ta sẽ sai sự kinh khiếp ta đi
trước, hễ ngươi đến dân nào, ta sẽ làm cho dân ấy vỡ chạy lạc đường, và
cho kẻ thù nghịch ngươi xây lưng trước mặt ngươi.
28. Ta sẽ sai ong lỗ
đi trước đánh đuổi dân Hê-vít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít khỏi trước mặt
ngươi.
29. Ta sẽ chẳng đuổi chúng nó đi hết trong một năm đâu, e khi xứ
sẽ trở nên đồng vắng, và loài thú rừng sanh sản ra đông, hại ngươi
chăng;
30. nhưng ta sẽ đuổi chúng nó lần lần khỏi trước mặt ngươi, cho
đến chừng nào số ngươi thêm nhiều và có thể cầm đất đó làm sản
nghiệp.
31. Ta sẽ phân định bờ cõi ngươi từ Biển đỏ chí biển
Phi-li-tin, từ đồng vắng đến sông cái; vì ta sẽ giao phú dân đó vào tay
ngươi, và ngươi sẽ đuổi chúng nó khỏi mặt mình.
32. Ngươi đừng kết giao
ước cùng chúng nó, hoặc cùng các thần của chúng nó.
33. Họ sẽ chẳng ở
trong xứ ngươi đâu, e khi chúng nó xui cho ngươi phạm tội cùng ta mà hầu
việc các thần họ chăng; điều đó chắc sẽ thành một cái bẫy cho ngươi
vậy.
Xuất Ê-díp-tô Ký
24 chọn đoạn khác
1. Ðức Chúa Trời phán cùng Môi-se rằng:
Ngươi và A-rôn, Na-đáp, và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy
lên cùng Ðức Giê-hô-va ở đằng xa mà lạy.
2. Chỉ một mình Môi-se sẽ đến
gần Ðức Giê-hô-va mà thôi, còn họ không đến gần, và dân sự cùng không lên
cùng người.
3. Môi-se bèn đến thuật lại cho dân sự mọi lời phán của Ðức
Giê-hô-va và các luật lệ, thì chúng đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ làm
mọi lời Ðức Giê-hô-va phán dạy.
4. Môi-se chép hết mọi lời của Ðức
Giê-hô-va; rồi dậy sớm, xây một bàn thờ nơi chân núi, dựng mười hai cây
trụ chỉ về mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
5. Người sai kẻ trai trẻ của
dân Y-sơ-ra-ên đi dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân cho Ðức Giê-hô-va
bằng con bò tơ.
6. Môi-se lấy phân nửa huyết đựng trong các chậu, còn
phân nửa thì rưới trên bàn thờ.
7. Ðoạn, người cầm quyển sách giao ước
đọc cho dân sự nghe, thì dân sự nói rằng: Chúng tôi sẽ làm và vâng theo
mọi lời Ðức Giê-hô-va phán chỉ.
8. Môi-se bèn lấy huyết rưới trên mình
dân sự mà nói rằng: Ðây là huyết giao ước của Ðức Giê-hô-va đã lập cùng
các ngươi y theo mọi lời nầy.
9. Ðoạn, Môi-se và A-rôn, Na-đáp và
A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão dân Y-sơ-ra-ên đều lên núi,
10. ngó
thấy Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, dưới chân Ngài có một vật giống bích
ngọc trong ngần, khác nào như sắc trời thanh-quang.
11. Ngài chẳng tra
tay vào những người tôn trọng trong vòng dân Y-sơ-ra-ên; nhưng họ ngó thấy
Ðức Chúa Trời, thì ăn và uống.
12. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
Hãy lên núi, đến cùng ta và ở lại đó; ta sẽ ban cho ngươi bảng đá, luật
pháp và các điều răn của ta đã chép đặng dạy dân sự.
13. Môi-se bèn chờ
dậy cùng Giô-suê, kẻ hầu mình, rồi Môi-se đi lên núi Ðức Chúa Trời.
14.
Người bèn nói cùng các trưởng lão rằng: Hãy đợi chúng tôi tại đây cho đến
chừng nào trở về cùng các ngươi. Nầy, A-rôn và Hu-rơ ở lại cùng các ngươi,
ai có việc chi hãy hỏi hai người đó.
15. Vậy, Môi-se lên núi, mây che
phủ núi.
16. Sự vinh quang của Ðức Giê-hô-va ở tại núi Si-na-i; trong
sáu ngày mây phủ núi, qua ngày thứ bảy Ðức Giê-hô-va ngự trong đám mây gọi
Môi-se.
17. Cảnh trạng của sự vinh quang Ðức Giê-hô-va nơi đỉnh núi,
trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, khác nào như đám lửa hừng.
18. Môi-se vào
giữa đám mây, lên núi, ở tại đó trong bốn mươi ngày và bốn mươi
đêm.
Xuất Ê-díp-tô Ký
25 chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se
rằng:
2. Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên đặng họ dâng lễ vật cho ta; các
ngươi hãy nhận lấy lễ vật của mọi người có lòng thành dâng cho.
3. Nầy
là lễ vật các ngươi sẽ nhận lấy của họ: vàng, bạc, và đồng;
4. chỉ tím,
đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ,
5. da cá
nược, cây si-tim,
6. dầu thắp, hương liệu đặng làm dầu xức và
hương,
7. bích ngọc cùng các thứ ngọc khác để gắn vào ê-phót và bảng
đeo ngực.
8. Họ sẽ làm cho ta một đền thánh và ta sẽ ở giữa họ.
9.
Hãy làm điều đó y như kiểu đền tạm cùng kiểu các đồ dùng mà ta sẽ chỉ cho
ngươi.
10. Vậy, chúng hãy đóng một cái hòm bằng cây si-tim; bề dài hai
thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi, và bề cao cũng một thước rưỡi,
11.
lấy vàng ròng bọc trong, bọc ngoài, và chạy đường viền chung quanh hòm
bằng vàng.
12. Ngươi cũng hãy đúc bốn khoen bằng vàng để tại bốn góc
hòm: hai cái bên hông nầy, hai cái bên hông kia,
13. cùng làm hai cây
đòn bằng cây si-tim, bọc vàng;
14. rồi lòn đòn vào khoen hai bên hông
hòm, để dùng đòn khiêng hòm.
15. Ðòn sẽ ở trong khoen luôn, không nên
rút ra.
16. Ngươi hãy cất vào trong hòm bảng chứng mà ta sẽ ban
cho.
17. Ngươi cũng hãy làm một cái nắp thi ân bằng vàng ròng, bề dài
hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi.
18. Lại làm hai tượng
chê-ru-bin bằng vàng giát mỏng, để hai đầu nắp thi ân,
19. ló ra ngoài,
một tượng ở đầu nầy và một tượng ở đầu kia.
20. Hai chê-ru-bin sẽ sè
cánh ra, che trên nắp thi ân, đối diện nhau và xây mặt vào nắp thi
ân.
21. Ngươi hãy để nắp thi ân trên hòm, rồi để vào trong hòm bảng
chứng mà ta sẽ ban cho.
22. Ta sẽ gặp ngươi tại đó, và ở trên nắp thi
ân, giữa hai tượng chê-ru-bin, trên hòm bảng chứng, ta sẽ truyền cho ngươi
các mạng lịnh về dân Y-sơ-ra-ên.
23. Ngươi cũng hãy đóng một cái bàn
bằng cây si-tim; bề dài hai thước, bề ngang một thước, và bề cao một thước
rưỡi,
24. bọc bằng vàng ròng, và chạy một đường viền chung
quanh;
25. rồi lên be cho tứ vi bàn, cao chừng bốn ngón tay và chạy cho
be một đường viền vàng.
26. Lại đúc bốn cái khoen vàng, tra vào bốn góc
nơi chân bàn.
27. Khoen sẽ ở gần be, để xỏ đòn khiêng bàn.
28. Ngươi
hãy chuốt đòn bằng cây si-tim, bọc vàng, rồi người ta sẽ dùng khiêng bàn
đó.
29. Lại hãy lấy vàng ròng mà làm dĩa, chén, chậu, và ly đặng dùng
làm lễ quán.
30. Trên bàn ngươi sẽ để bánh trần thiết cho có luôn luôn
trước mặt ta.
31. Ngươi cũng hãy làm chân đèn bằng vàng ròng. Cái chân,
cái thân, cái đài, cái bầu cùng cái hoa của đèn đều làm bằng vàng đánh
giát.
32. Hai bên thân đèn sẽ có sáu nhánh nứt ra, hạ nhánh ở bên nầy
và ba nhánh ở bên kia.
33. Trong sáu nhánh nứt ra trên chân đèn, mỗi
nhánh đều sẽ có ba cái đài hình như hột hạnh nhân cùng bầu và hoa.
34.
Trên thân chân đèn, lại cũng sẽ có bốn cái đài hình hột hạnh nhân, bầu và
hoa.
35. Trong sáu nhánh từ thân chân đèn nứt ra, hễ cứ mỗi hai nhánh
thì dưới có một cái bầu.
36. Bầu cùng nhánh của chân đèn đều bằng vàng
ròng nguyên miếng đánh giát.
37. Ngươi cũng hãy làm bảy cái thếp đèn,
đặng hễ khi thắp thì chiếu trước chân đèn.
38. Kéo bắt tim cùng đồ đựng
tàn đèn cũng sẽ bằng vàng ròng.
39. Người ta sẽ dùng một ta lâng vàng
ròng làm chân đèn nầy và các đồ phụ tùng của chân đèn.
40. Vậy, ngươi
hãy xem, cứ làm y như kiểu đã chỉ cho trên núi.
Xuất Ê-díp-tô Ký 26
chọn đoạn khác
1. Ngươi hãy dùng mười bức màn mà làm đền tạm, màn dệt bằng
vải gai mịn, chỉ tím, đỏ điều và đỏ sặm, có thêu các hình chê-ru-bin cực
xảo.
2. Mỗi bức màn bề dài hai mươi tám thước, bề rộng bốn thước. Các
bức đều đồng cỡ với nhau.
3. Mỗi năm bức màn sẽ kết dính lại
nhau.
4. Ngươi hãy thắt vòng chỉ tím nơi triêng của bức màn thứ nhất ở
đầu bức nguyên; và cũng làm như vậy cho đầu chót của bức màn cuối trong
bức nguyên thứ nhì.
5. Lại làm năm chục cái vòng cho bức màn thứ nhất,
và năm chục cái vòng nơi đầu triêng bức nguyên thứ nhì; các vòng hai bên
sẽ đối nhau.
6. Cũng hãy làm năm mươi cái móc bằng vàng, rồi móc bức
nguyên nầy qua bức nguyên kia, hầu cho đền tạm kết lại thành một.
7.
Ngươi cũng hãy kết mười một bức màn bằng lông dê, để dùng làm bong che
trên đền tạm.
8. Bề dài mỗi bức màn ba chục thước, bề rộng bốn thước,
mười một bức đồng một cỡ với nhau.
9. Ngươi hãy kết năm bức màn nầy
riêng ra, và sáu bức màn kia riêng ra; nhưng hãy gấp đôi bức màn thứ sáu ở
trước đền tạm.
10. Lại thắt năm chục cái vòng nơi triêng màn thứ nhất,
ném về cuối của bức nguyên thứ nhất, và năm chục cái vòng nơi triêng màn
của bức nguyên thứ nhì;
11. cũng làm năm chục cái móc bằng đồng, móc
vào vòng, rồi hiệp cái bong lại, để nó thành ra một.
12. Nhưng còn dư,
tức là phân nửa của bức màn dư trong bức bong nguyên, thì sẽ xủ xuống phía
sau đền tạm;
13. phần bề dài dư trong các bức màn của bong, bên nầy một
thước, bên kia một thước, thì sẽ xủ xuống hai bên hông đền tạm đặng che
vậy.
14. Ngươi hãy làm một tấm lá phủ bằng da chiên đực nhuộm đỏ để
trên bong, và kết một tấm lá phủ bằng da cá nược đắp lên trên nữa.
15.
Ngươi cũng hãy làm những ván cho vách đền tạm bằng cây si-tim.
16. Mỗi
tấm trướng mười thước, hoành một thước rưỡi,
17. có hai cái mộng liền
nhau; hết thảy các tấm ván vách đền tạm ngươi cũng sẽ làm như vậy.
18.
Về phía nam đền tạm, ngươi hãy làm hai mươi tấm ván;
19. dưới hai mươi
tấm ván hãy đặt bốn mươi lỗ mộng bằng bạc; cứ hai lỗ mộng ở dưới, để chịu
hai cái mộng của mỗi tấm ván.
20. Lại hãy làm hai mươi tấm ván về phía
bắc đền tạm,
21. và bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, cứ dưới mỗi tấm có hai
lỗ mộng.
22. Ngươi cũng hãy làm sáu tấm ván về phía sau đền tạm, tức là
về hướng tây.
23. Về hai góc phía sau đền tạm, phải làm hai tấm
ván,
24. khít nhau tự dưới chí trên bởi một cái khoen ở nơi đầu; hai
cái góc đều làm như vậy.
25. Thế thì, có tám tấm ván và mười sáu lỗ
mộng bằng bạc; cứ hai lỗ mộng ở dưới mỗi một tấm ván.
26. Lại, ngươi
hãy làm năm cây xà ngang bằng gỗ si-tim cho những tấm ván về phía bên
nầy,
27. năm cây xà ngang về phía bên kia và năm cây xà ngang khác nữa
về phía sau của đền tạm, tức là hướng tây.
28. Cây xà ngang giữa sẽ ở
về thân giữa những tấm ván, chạy suốt từ đầu nầy đến đầu kia.
29. Cũng
hãy lấy vàng bọc ván cùng xà ngang, và làm những khoen bằng vàng, đặng xỏ
các cây xà ngang.
30. Ngươi phải dựng đền tạm y như kiểu đã chỉ cho
ngươi trên núi vậy.
31. Ngươi hãy làm một bức màn bằng vải gai đậu mịn,
chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu những hình chê-ru-bin cực xảo;
32.
rồi xủ màn đó trên bốn trụ bằng cây si-tim, bọc vàng, dựng trên bốn lỗ trụ
bằng bạc; các móc trụ đều bằng vàng.
33. Ngươi sẽ treo màn đó vào móc
dưới bức bong, rồi ở phía trong màn để hòm bảng chứng; màn nầy dùng phân
biệt cho các ngươi nơi thánh và nơi chí thánh.
34. Ðoạn, hãy để cái nắp
thi ân trên hòm bảng chứng, đặt trong nơi chí thánh.
35. Bên ngoài bức
màn về phía bắc đền tạm thì để cái bàn; còn cây chân đèn thì để về phía
nam đối ngang cái bàn.
36. Về cửa Trại ngươi hãy làm một bức màn bằng
chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai đậu mịn, có thêu cực xảo;
37. rồi làm
cho bức màn nầy năm cái trụ bằng cây si-tim, bọc vàng; đinh nó cũng bằng
vàng, và đúc năm lỗ trụ bằng đồng.
Xuất Ê-díp-tô Ký 27 chọn
đoạn khác
1. Ngươi
cũng hãy đóng một bàn thờ bằng cây si-tim, hình vuông, năm thước bề dài,
năm thước bề ngang, và bề cao ba thước.
2. Nơi bốn góc bàn thờ hãy làm
sừng ló ra và bọc đồng.
3. Những đồ phụ tùng của bàn thờ thì hãy làm
bằng đồng: bình đựng tro, vá, ảng, nỉa và bình hương.
4. Lại làm cho
bàn thờ một tấm rá bằng lưới đồng; và nơi bốn góc rá làm bốn cái khoen
bằng đồng;
5. rồi để rá đó dưới thành bàn thờ, từ dưới chân lên đến nửa
bề cao.
6. Cũng hãy chuốt đòn khiêng bàn thờ bằng cây si-tim, bọc
đồng,
7. rồi xỏ vào những khoen; khi khiêng đi, đòn sẽ ở hai bên bàn
thờ.
8. Bàn thờ sẽ đóng bằng ván, trống bộng, làm y như đã chỉ cho
ngươi trên núi vậy.
9. Ngươi cũng hãy làm cái hành lang cho đền tạm. Về
phía nam của hành lang làm bố vi bằng vải gai đậu mịn, dài trăm
thước,
10. cùng hai chục cây trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng; đinh và
nuông trụ thì bằng bạc.
11. Về phía bắc cũng vậy; bố vi đó có trăm
thước bề dài, hai chục cây trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng; đinh và nuông
trụ thì bằng bạc.
12. Bố vi của hành lang về phía tây có năm chục thước
bề dài, mười cây trụ và mười lỗ trụ.
13. Bề ngang của hành lang phía
trước, tức là phía đông, có năm chục thước: phía hữu
14. có mười lăm
thước bố vi, ba cây trụ và ba lỗ trụ;
15. phía tả có mười lăm thước bố
vi, ba cây trụ và ba lỗ trụ.
16. Còn cửa hành lang có một bức màn dài
hai chục thước bằng vải gai đậu mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu,
cùng vốn cây trụ và bốn lỗ trụ.
17. Hết thảy trụ xung quanh hành lang
đều sẽ có nhờ nuông bạc chắp lại với nhau; đinh trụ thì bằng bạc, lỗ trụ
thì bằng đồng.
18. Bề dài của hành lang được một trăm thước, bề ngang,
mỗi phía, năm chục thước, bề cao năm thước; bố vi sẽ bằng vải gai đậu mịn,
còn những lỗ trụ thì bằng đồng.
19. Hết thảy đồ phụ tùng dùng về các
việc phụng sự trong đền tạm, cùng cây nọc của đền tạm và cây nọc của hành
lang, đều sẽ làm bằng đồng.
20. Ngươi hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem
đến dầu lọc ô-li-ve ép, đặng thắp đèn cho đèn sáng luôn luôn.
21. Trong
hội mạc, ở ngoài màn, trước hòm bảng chứng, A-rôn cùng các con trai người
sẽ lo sửa soạn đèn, hầu cho trước mặt Ðức Giê-hô-va đèn cháy luôn luôn từ
tối cho đến sáng. Ấy là một luật đời đời cho dòng dõi dân Y-sơ-ra-ên phải
giữ.
Xuất Ê-díp-tô Ký
28 chọn đoạn khác
1. Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, ngươi hãy
chọn A-rôn, anh ngươi, cùng các con trai ngươi, là Na-đáp, A-bi-hu,
Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma, lập lên làm chức tế lễ trước mặt ta.
2. Ngươi
hãy chế bộ áo thánh cho A-rôn, anh ngươi, để người được vinh hiển trang
sức.
3. Hãy truyền cho hết thảy kẻ thông minh, là người ta đã ban đầy
tính trí huệ, chế bộ áo cho A-rôn, đặng biệt người riêng ra thánh, hầu cho
người làm chức tế lễ trước mặt ta.
4. Ðây là bộ áo mà họ sẽ chế: Bảng
đeo ngực, ê-phót, áo dài, áo lá trong thêu, mũ và đai. Thế thì, họ sẽ chế
bộ áo thánh cho A-rôn, anh ngươi, cùng các con trai người, để các người đó
làm chức tế lễ trước mặt ta.
5. Họ sẽ dùng kim tuyến, chỉ màu tím, đỏ
điều, đỏ sặm, và vải gai mịn.
6. Họ sẽ chế ê-phót bằng kim tuyến, chỉ
màu tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn thêu cực xảo.
7. Hai bên
ê-phót làm hai đai vai, đâu đầu vào ê-phót.
8. Ðai để cột ê-phót ở phía
ngoài, sẽ làm nguyên miếng một cũng như công việc ê-phót, bằng kim tuyến,
chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn.
9. Ngươi hãy lấy hai viên
bích ngọc mà khắc các tên con trai Y-sơ-ra-ên ở trên:
10. sáu tên trên
viên bích ngọc nầy, sáu tên trên viên bích ngọc kia, tùy theo thứ tự ngày
sinh của họ.
11. Phải khắc các tên con trai Y-sơ-ra-ên trên hai viên
bích ngọc đó, như cách của thợ khắc con dấu, và khảm trong khuôn bằng
vàng.
12. Ðoạn gắn hai viên bích ngọc đó trên hai đai vai ê-phót, dùng
làm ngọc kỷ niệm về con cháu Y-sơ-ra-ên; A-rôn sẽ mang tên của họ trên hai
vai mình làm kỷ niệm trước mặt Ðức Giê-hô-va.
13. Ngươi cũng hãy làm
móc gài bằng vàng,
14. đánh hai sợi dây chuyền nhỏ bằng vàng ròng như
hình dây, rồi để chuyền đánh như thế vào móc gài.
15. Bảng đeo ngực về
sự xét đoán, ngươi cũng phải làm cho cực xảo, y như ê-phót; tức là bằng
kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn.
16. Bảng đeo
ngực hình vuông và may lót; bề dài một em-ban, bề ngang một em-ban.
17.
Ngươi hãy gắn bốn hàng ngọc vào bảng đeo ngực: hàng thứ nhất gắn ngọc mã
não, ngọc hồng bích, và ngọc lục bửu;
18. hàng thứ nhì, ngọc phỉ túy,
ngọc lam bửu và ngọc kim cương;
19. hàng thứ ba, ngọc hồng bửu, ngọc
bạch mã não, và ngọc tử tinh;
20. hàng thứ tư, ngọc huỳnh bích, ngọc
hồng mã não, và bích ngọc. Các ngọc nầy sẽ khảm vào khuôn bằng
vàng.
21. Số các ngọc đó hết thảy là mười hai viên, tùy theo tên các
con trai Y-sơ-ra-ên; trên mỗi viên ngọc sẽ khắc tên của một trong mười hai
chi phái Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu vậy.
22. Ngươi hãy làm
các sợi chuyền bằng vàng ròng đánh như hình dây, chuyền trên bảng đeo
ngực;
23. rồi làm hai khoanh bằng vàng để ở hai góc đầu trên
bảng.
24. cùng cột hai sợi chuyền vàng vào hai khoanh nơi hai đầu
bảng,
25. và hai đầu sợi chuyền cột vào móc gài, đoạn gắn trên hai đai
vai ê-phót về phía đằng trước ngực.
26. Ngươi cũng hãy làm hai cái
khoanh bằng vàng nữa, để vào hai góc đầu dưới của bảng đeo ngực, về phía
trong ê-phót.
27. Lại làm hai khoanh khác nữa bằng vàng, gắn vào hai
đầu dưới đai vai ê-phót ném về phía trước, ở trên đai gần chỗ giáp
mối.
28. Rồi một sợi dây màu tím sẽ cột hai cái khoanh của bảng đeo
ngực lại cùng hai cái khoanh ê-phót, hầu cho nó dính với đai, đừng rớt
khỏi ê-phót.
29. Thế thì, khi nào A-rôn vào nơi thánh, sẽ mang trên
lòng mình tên các con trai Y-sơ-ra-ên nơi bảng đeo ngực về sự xét đoán,
đặng giữ làm kỷ niệm luôn luôn trước mặt Ðức Giê-hô-va.
30. Trên bảng
đeo ngực của sự xét đoán, ngươi hãy gắn u-rim và thu-mim vào, đặng khi
A-rôn đến trước mặt Ðức Giê-hô-va thì các món đó sẽ ở trên lòng mình. Ấy
vậy, trước mặt Ðức Giê-hô-va, A-rôn sẽ mang sự xét đoán của con trai
Y-sơ-ra-ên trên lòng mình luôn luôn.
31. Ngươi cũng hãy may áo dài của
ê-phót toàn bằng vải tím.
32. Ở giữa áo có một lỗ tròng đầu vào; viền
chung quanh, dệt như lỗ áo giáp mặt lưới, để cho khỏi tét.
33. Nơi biên
dưới hãy thắt trái lựu màu tím, đỏ điều, đỏ sặm, cùng chuông vàng nhỏ đan
tréo nhau ở vòng theo viền,
34. nghĩa là một cái chuông rồi kế một trái
lựu, ở vòng khắp chung quanh viền áo.
35. Khi A-rôn hầu việc tế lễ, sẽ
mặc áo đó; và khi vào hay ra nơi thánh trước mặt Ðức Giê-hô-va, người ta
sẽ nghe tiếng chuông vàng nhỏ, và A-rôn khỏi chết vậy.
36. Ngươi cũng
hãy làm một cái thẻ bằng vàng ròng, trên đó khắc như người ta khắc con
dấu, rằng: Thánh Cho Ðức Giê-hô-va.
37. Rồi lấy một sợi dây màu tím
buộc thẻ đó để trên đằng trước cái mũ.
38. Thẻ đó sẽ ở trên trán A-rôn;
A-rôn gánh tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên phạm trong khi họ dâng của lễ thánh;
thẻ đó sẽ ở nơi trán A-rôn luôn luôn, để dân sự được đẹp ý Ðức
Giê-hô-va.
39. Ngươi hãy chế một cái áo lá mặc trong bằng vải gai mịn,
một cái mũ bằng vải gai mịn và một cái đai thêu.
40. Ngươi cũng hãy chế
cho các con trai A-rôn áo lá, đai và mũ, hầu cho họ được vinh hiển và
trang sức.
41. Ðoạn, hãy lấy các bộ áo đó mặc cho A-rôn, anh ngươi,
cùng các con trai người; hãy xức dầu cho, lập và biệt riêng ra thánh, để
họ làm chức tế lễ trước mặt ta.
42. Hãy chế cho họ quần lót trong bằng
vải gai, đặng che sự lõa lồ, mặc từ ngang lưng quần cho đến bắp vế.
43.
A-rôn cùng các con trai người sẽ mặc quần đó trong khi vào hội mạc hay là
đến gần bàn thờ đặng làm việc tế lễ trong nơi thánh, thì chẳng mắc tội và
chẳng chết đâu. Ấy là một mạng lịnh đời đời cho A-rôn và dòng dõi
người.
Xuất Ê-díp-tô Ký
29 chọn đoạn khác
1. Ðây là điều ngươi sẽ làm đặng biệt
riêng A-rôn và con trai người riêng ra thánh, để họ làm chức tế lễ trước
mặt ta.
2. Hãy bắt một con bò tơ đực và hai con chiên đực không tì vít,
dùng bột mì thiệt mịn làm bánh không men, bánh nhỏ không men nhồi với dầu,
và bánh tráng không men tẩm dầu;
3. rồi để các bánh đó trong một giỏ
dâng luôn lên cùng bò tơ đực và hai chiên đực.
4. Ðoạn, ngươi sẽ biểu
A-rôn cùng các con trai người đến gần nơi cửa hội mạc, rồi lấy nước tắm
cho họ.
5. Kế đó, lấy bộ áo mặc cho A-rôn, tức là áo lá mặc trong, áo
dài của ê-phót, ê-phót, và bảng đeo ngực, rồi lấy đai của ê-phót thắt lưng
cho người;
6. đoạn đội cái mũ lên đầu và để thẻ thánh trên mũ,
7.
cùng lấy dầu xức đổ trên đầu và xức cho người.
8. Lại biểu các con trai
A-rôn đến gần mặc áo lá cho họ,
9. rồi lấy đai thắt lưng và đội mũ cho
A-rôn cùng các con trai người. Thế thì, chức tế lễ sẽ bởi mạng lịnh định
đời đời cho họ. Ngươi lập A-rôn và các con trai người là thế.
10. Ðoạn,
hãy dắt con bò tơ đực lại gần trước hội mạc, A-rôn cùng các con trai người
sẽ nhận tay mình trên đầu con bò đó.
11. Ngươi hãy giết bò đực trước
mặt Ðức Giê-hô-va, tại nơi cửa hội mạc;
12. rồi lấy huyết bò đó, nhúng
ngón tay vào, bôi các sừng của bàn thờ, và đổ khắp dưới chân bàn
thờ.
13. Cũng hãy lấy hết thảy những mỡ bọc ruột, tấm da mỏng bọc gan,
hai trái cật và mỡ trên trái cật, mà đem xông trên bàn thờ.
14. Nhưng ở
ngoài trại quân hãy thiêu hết thịt, da, và phẩn của con bò đực đó; ấy là
một của lễ chuộc tội vậy.
15. Ngươi cũng hãy bắt một trong hai con
chiên đực, A-rôn và các con trai ngươi sẽ nhận tay mình trên đầu
nó;
16. rồi giết chiên đực đó, lấy huyết mà rưới khắp chung quanh trên
bàn thờ.
17. Kế đó, sả chiên ra từng miếng, rửa sạch bộ lòng và giò đi,
rồi để lên trên các miếng đã sả và đầu nó;
18. đoạn xông cả con chiên
đực tại trên bàn thờ; ấy là một của lễ thiêu, có mùi thơm dâng cho Ðức
Giê-hô-va, tức là một của lễ dùng lửa dâng lên cho Ðức Giê-hô-va
vậy.
19. Ðoạn, ngươi hãy bắt con chiên đực thứ nhì, A-rôn cùng các con
trai người sẽ nhận tay mình trên đầu nó;
20. rồi ngươi giết chiên đực
đó, lấy huyết bôi nơi trái tai hữu của A-rôn và của các con trai người,
trên ngón cái bàn tay mặt và ngón cái bàn chân mặt; huyết còn dư hãy rưới
chung quanh trên bàn thờ.
21. Ngươi hãy lấy huyết ở nơi bàn thờ và dầu
xức mà rảy trên mình và quần áo A-rôn, cùng trên mình và quần áo các con
trai người. Như vậy, A-rôn cùng quần áo mình, các con trai người cùng quần
áo họ sẽ được biệt riêng ra thánh.
22. Vì cớ chiên đực đó dùng làm lễ
truyền chức, nên ngươi hãy lấy mỡ, đuôi, mỡ bọc ruột, tấm da mỏng bọc gan,
hai trái cật, cùng mỡ trên trái cật và giò bên hữu,
23. lại lấy luôn
một ổ bánh, một bánh nhỏ nhồi với dầu, và một cái bánh tráng ở trong giỏ
bánh không men để trước mặt Ðức Giê-hô-va;
24. rồi ngươi để mấy món đó
trong lòng bàn tay A-rôn, và trong lòng bàn tay của các con trai ngươi, mà
đưa qua đưa lại trước mặt Ðức Giê-hô-va.
25. Ðoạn, hãy lấy ra khỏi bàn
tay họ đem xông trên bàn thờ, ở trên của lễ thiêu, để cho có mùi thơm
trước mặt Ðức Giê-hô-va; ấy là một của lễ dùng lửa dâng lên cho Ðức
Giê-hô-va.
26. Cũng hãy lấy cái o chiên đực về lễ lập A-rôn mà đưa qua
đưa lại trước mặt Ðức Giê-hô-va. Ấy sẽ về phần ngươi.
27. Vậy, ngươi sẽ
biệt riêng ra thánh cái o và giò của chiên đực đã dùng làm lễ lập A-rôn
cùng các con trai người, tức là o đã đưa qua đưa lại, và giò đã giơ
lên.
28. Lễ vật nầy sẽ do nơi Y-sơ-ra-ên dâng cho A-rôn cùng các con
trai người tùy theo mạng lịnh đời đời đã lập, vì là một điều ban cho bởi
trong các của lễ thù ân của dân Y-sơ-ra-ên, tức là một của lễ giơ lên mà
họ dâng cho Ðức Giê-hô-va vậy.
29. Những áo thánh của A-rôn sẽ để lại
cho các con trai nối sau người, để họ mặc áo đó, được xức dầu và lập trong
chức tế lễ.
30. Ai trong vòng con trai người được làm thầy tế lễ thế
cho ngươi, mà đến hội mạc đặng hầu việc tại nơi thánh, thì sẽ mặc áo đó
trong bảy ngày.
31. Ðoạn, ngươi hãy bắt con chiên đực dùng làm lễ thiết
lập mà nấu thịt nó trong một nơi thánh.
32. A-rôn cùng các con trai
người sẽ ăn thịt chiên đực đó, cùng bánh trong giỏ nơi cửa hội mạc.
33.
Vậy, họ sẽ ăn các món nầy, bởi đó được chuộc tội, để lập và biệt họ riêng
ra thánh; nhưng khách ngoại bang chẳng được ăn, vì các món đó đã biệt
riêng ra thánh rồi.
34. Nếu thịt lễ thiết lập và bánh còn dư lại đến
ngày mai, ngươi hãy thiêu trong lửa, chớ nên ăn, vì là của đã biệt riêng
ra thánh.
35. Vậy, theo mọi điều ta phán dặn, ngươi hãy làm cho A-rôn
cùng các con trai người, và lập họ trong bảy ngày.
36. Mỗi ngày hãy
dâng một con bò tơ đực đặng chuộc tội, và dâng vì bàn thờ một của lễ chuộc
tội cùng xức dầu cho để biệt bàn thờ riêng ra thánh.
37. Trong bảy ngày
ngươi hãy làm lễ chuộc tội cho bàn thờ và biệt riêng ra thánh; bàn thờ sẽ
trở nên rất thánh, phàm vật chi đụng đến đều sẽ được nên thánh vậy.
38.
Ðây là các điều ngươi sẽ dâng lên bàn thờ: Hai chiên con một tuổi, mỗi
ngày thường thường như vậy.
39. Buổi sớm mai ngươi hãy dâng một trong
hai chiên con; con thứ nhì hãy dâng vào buổi chiều tối.
40. Với con
chiên thứ nhất, hãy dâng một phần mười bột mì mịn nhồi với một phần tư hin
dầu ép, và cùng lễ quán một phần tư hin rượu nho.
41. Về con chiên thứ
nhì hãy dâng vào buổi chiều tối với một của lễ và một lễ quán y như lễ sớm
mai; ấy là một của lễ thiêu, có mùi thơm dâng cho Ðức Giê-hô-va.
42. Ấy
là một của lễ thiêu mà các ngươi phải dâng luôn luôn, trải qua các đời,
tại cửa hội mạc trước mặt Ðức Giê-hô-va, là nơi ta sẽ giáng lâm mà phán
cùng ngươi.
43. Vậy, ta sẽ có tại đó cùng dân Y-sơ-ra-ên; chỗ nầy sẽ vì
sự vinh hiển ta mà được biệt riêng ra thánh.
44. Ta sẽ biệt hội mạc
cùng bàn thờ riêng ra thánh; cùng biệt A-rôn và các con trai người riêng
ra thánh nữa, đặng họ làm chức tế lễ trước mặt ta.
45. Ta sẽ ở giữa dân
Y-sơ-ra-ên, làm Ðức Chúa Trời dân ấy.
46. Dân ấy sẽ biết ta là
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của chúng nó, đã đem chúng nó ra khỏi xứ Ê-díp-tô
đặng ở giữa vòng họ. Ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của họ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 30
chọn đoạn khác
1. Ngươi cũng hãy đóng một cái bàn thờ
bằng cây si-tim, để xông hương.
2. Mặt bàn sẽ vuông, bề dài một thước,
bề ngang một thước, và bề cao hai thước; bàn thờ sẽ có bốn sừng ló
ra.
3. Ngươi hãy bọc vàng ròng trên mặt, bốn cạnh chung quanh và các
sừng; còn tứ vi chạy đường viền vàng.
4. Dưới đường viền đó, nơi hai
bên, hãy làm hai cái khoen bằng vàng, để xỏ đòn dùng đặng khiêng.
5.
Hãy chuốt đòn khiêng bằng cây si-tim, bọc vàng.
6. Ngươi sẽ để bàn thờ
đó trước bức màn che hòm bảng chứng đối cùng nắp thi ân trên hòm, là nơi
ta sẽ gặp ngươi.
7. Mỗi buổi sớm mai, khi A-rôn làm đèn, sẽ xông hương
tại nơi đó.
8. Vào lúc chiều tối, khi A-rôn thắp đèn, cũng sẽ xông
hương: ấy là một thứ hương phải xông trước mặt Ðức Giê-hô-va luôn luôn,
trải qua các đời.
9. Trên bàn thờ nầy chớ xông hương lạ, hoặc dâng của
lễ thiêu, của lễ chay hay là lễ quán nào hết.
10. Nhưng trải qua các
đời, mỗi năm một lần, A-rôn sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc tôi, bôi
trên sừng bàn thờ nầy đặng chuộc tội cho nó. Ấy sẽ là một việc rất thánh
cho Ðức Giê-hô-va.
11. Ðức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng:
12.
Khi nào ngươi điểm số dân Y-sơ-ra-ên đặng kê sổ, mỗi tên phải nộp tiền đền
mạng mình cho Ðức Giê-hô-va, hầu cho khỏi mắc tai nạn chi trong khi kê
sổ.
13. Kẻ nào có tên trong sổ phải nộp nửa siếc-lơ, tùy siếc-lơ của
nơi thánh, cận nặng hai mươi ghê-ra; vậy, nửa siếc-lơ, tức là của dâng cho
Ðức Giê-hô-va.
14. Mọi người có tên vào sổ từ hai mươi tuổi sắp lên sẽ
dâng của nầy cho Ðức Giê-hô-va.
15. Khi dâng của nầy cho Ðức Giê-hô-va
đặng đền mạng mình, người giàu không nộp trội, người nghèo không nộp thiếu
nửa siếc-lơ.
16. Vậy, ngươi thâu tiền đền mạng của dân Y-sơ-ra-ên, rồi
dùng tiền đó vào việc hội mạc; ấy là một kỷ niệm của dân Y-sơ-ra-ên trước
mặt Ðức Giê-hô-va, đặng đền mạng mình.
17. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng
Môi-se nữa rằng:
18. Ngươi hãy làm một cái thùng với chân thùng bằng
đồng, đặng rửa mình ở trong, rồi để giữa khoảng của hội mạc và bàn thờ, và
đổ nước vào.
19. A-rôn cùng các con trai người sẽ rửa tay và chân mình
ở trong.
20. Khi họ vào hội mạc sẽ lấy nước rửa mình, hầu cho họ khỏi
chết; và khi lại gần bàn thờ đặng phụng sự, tức là xông của lễ dùng lửa
dâng cho Ðức Giê-hô-va, họ cũng phải giữ như vậy.
21. Thế thì, họ hãy
rửa tay và chân, hầu cho khỏi chết. Ấy là một lệ đời đời cho A-rôn, cùng
dòng dõi người trải qua các đời.
22. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se
rằng:
23. Hãy góp các hương liệu tốt nhất: một dược nước năm trăm
siếc-lơ; hương nhục quế phân nửa số đó, tức là hai trăm rưỡi; hương xương
bồ hai trăm rưỡi;
24. quế-bì năm trăm, đều theo siếc-lơ nơi thánh, và
một hin dầu ô-li-ve.
25. Ngươi hãy lấy các hương liệu đó theo phép hòa
hương, chế ra một thứ dầu thơm dùng làm dầu xức thánh.
26. Ðoạn, lấy
xức cho hội mạc cùng hòm bảng chứng,
27. bàn thờ cùng các đồ phụ tùng,
chân đèn cùng các đồ phụ tùng, bàn thờ xông hương,
28. bàn thờ của lễ
thiêu cùng các đồ phụ tùng, cái thùng và chân thùng.
29. Ấy vậy, ngươi
sẽ biệt các vật nầy riêng ra thánh, hầu cho làm rất thánh, hễ món chi đụng
đến, đều sẽ được nên thánh.
30. Ngươi cũng hãy xức dầu cho A-rôn cùng
các con trai người, biệt họ riêng ra thánh, để làm chức tế lễ trước mặt
ta.
31. Lại hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Về phần ta, dầu nầy sẽ là
dầu xức thánh trải qua mọi đời các ngươi.
32. Chớ nên đổ trên xác thịt
loài người, và cũng đừng làm dầu nào khác theo phép hòa hương đó; dầu nầy
là thánh, cũng sẽ thánh cho các ngươi.
33. Hễ ai chế một thứ hòa hương
giống như vậy, và đem rưới trên mình người ngoại bang, sẽ bị truất khỏi
vòng dân sự.
34. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se nữa rằng: Hãy lấy các
hương liệu, tức tô hiệp hương, loa yểm hương, phong chi hương, cùng thanh
nhũ hương, mỗi thứ bằng nhau,
35. theo phép hòa hương, chế ra một thứ
hương, mặn, trong và thánh.
36. Hãy nghiền nó ra bột, rồi để trước hòm
bảng chứng trong hội mạc, tức là nơi ta sẽ gặp ngươi: về phần các ngươi,
hương nầy sẽ là một vật rất thánh.
37. Còn thứ hương mà ngươi sẽ chế,
chớ chế giống như phép hòa hương nầy; ấy là một vật ngươi nên biệt riêng
ra thánh cho Ðức Giê-hô-va.
38. Hễ kẻ nào làm giống y như vậy đặng ngửi
mùi, sẽ bị truất khỏi vòng dân sự.
Xuất Ê-díp-tô Ký 31 chọn
đoạn khác
1. Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se nữa rằng:
2. Nầy, ta đã kêu tên
Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, trong chi phái
Giu-đa.
3. Ta đã làm cho người đầy dẫy Thần của Ðức Chúa Trời, sự khôn
ngoan, sự thông sáng, và sự hiểu biết để làm mọi thứ nghề thợ,
4. đặng
bày ra và chế tạo đồ vàng, bạc và đồng,
5. đặng khác và khảm ngọc, đẽo
gỗ và làm được mọi thứ nghề thợ.
6. Ðây, ta lại cho một người phụ việc,
tên là Ô-hô-li-áp, con trai của A-hi-sa-mạc, trong chi phái Ðan. Ta cũng
đã ban sự thông minh cho mọi người tài năng, hầu cho họ làm các việc ta đã
phán dặn ngươi,
7. là hội mạc, hòm bảng chứng, nắp thi ân ở trên hòm,
cùng đồ dùng trong hội mạc;
8. bàn thờ cùng đồ phụ tùng, chân đèn bằng
vàng ròng và đồ phụ tùng, bàn thờ xông hương,
9. bàn thờ dâng của lễ
thiêu cùng đồ phụ tùng, cái thùng và chân thùng;
10. áo lễ, áo thánh
cho A-rôn thầy tế lễ cả, và bộ áo cho các con trai người, đặng làm chức tế
lễ;
11. dầu xức, và hương thơm của nơi thánh. Các người đó phải làm hết
thảy theo lời ta đã phán dặn ngươi.
12. Ðức Giê-hô-va lại phán cùng
Môi-se rằng:
13. Phần ngươi, hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nhất là
các ngươi hãy giữ ngày sa-bát ta, vì là một dấu giữa ta và các ngươi, trải
qua mọi đời, để thiên hạ biết rằng ta, là Ðức Giê-hô-va, làm cho các ngươi
nên thánh.
14. Vậy, hãy giữ ngày sa-bát, vì là một ngày thánh cho các
ngươi. Kẻ nào phạm đến ngày đó, phải bị xử tử; kẻ nào làm một việc chi
trong ngày đó, cũng sẽ bị truất khỏi vòng dân sự.
15. Người ta sẽ làm
công việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày sa-bát, tức là
ngày nghỉ, biệt riêng ra thánh cho Ðức Giê-hô-va. Trong ngày sa-bát hễ ai
làm một việc chi sẽ bị xử tử.
16. Ấy vậy, dân Y-sơ-ra-ên sẽ giữ ngày
sa-bát trải các đời của họ, như một giao ước đời đời.
17. Ấy là một dấu
đời đời cho ta cùng dân Y-sơ-ra-ên, vì Ðức Giê-hô-va đã dựng nên trời và
đất trong sáu ngày, qua ngày thứ bảy Ngài nghỉ và lấy sức lại.
18. Khi
Ðức Giê-hô-va đã phán xong cùng Môi-se tại núi Si-na-i, bèn cho người hai
bảng chứng bằng đá, với ngón tay Ðức Chúa Trời viết ra.
Xuất Ê-díp-tô Ký 32
chọn đoạn khác
1. Dân sự thấy Môi-se ở trên núi chậm
xuống, bèn nhóm lại chung quanh A-rôn mà nói rằng: Nào! hãy làm các thần
để đi trước chúng tôi đi, vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi
ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết điều chi đã xảy đến cho người
rồi.
2. A-rôn đáp rằng: Hãy một những vòng vàng đeo nơi tai vợ, con
trai và con gái các ngươi đi, rồi đem lại cho ta.
3. Hết thảy đều lột
vòng vàng nơi tai mình mà đem lại cho A-rôn;
4. người nhận lấy nơi tay
họ, và dùng đục làm thành một bò con đúc. Dân chúng nói rằng: Hỡi
Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
5. A-rôn thấy vậy, bèn lập một bàn thờ trước mặt tượng bò đó;
đoạn, người la lên rằng: Sáng mai sẽ có lễ tôn trọng Ðức Giê-hô-va!
6.
Sáng mai dân chúng bèn thức dậy sớm, dâng các của lễ thiêu và lễ thù ân;
ngồi mà ăn uống, đoạn đứng dậy mà vui chơi.
7. Ðức Giê-hô-va bèn phán
cùng Môi-se rằng: Hãy xuống đi, vì dân mà ngươi đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô đã
bại hoại rồi,
8. vội bỏ đạo ta truyền dạy, đúc một con bò tơ, mọp trước
tượng bò đó và dâng của lễ cho nó mà nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! đây là các
thần đã dẫn ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô!
9. Ðức Giê-hô-va cũng phán cùng
Môi-se rằng: Ta đã xem thấy dân nầy, kìa là một dân cứng cổ.
10. Vả,
bây giờ hãy để mặc ta làm, hầu cho cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng chúng nó,
diệt chúng nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.
11.
Môi-se bèn nài xin Giê-hô-va Ðức Chúa Trời người rằng: Lạy Ðức Giê-hô-va,
sao nổi thạnh nộ cùng dân Ngài? là dân mà Ngài đã dùng quyền lớn lao mạnh
mẽ đưa ra khỏi xứ Ê-díp-tô.
12. Sao để cho người Ê-díp-tô nói rằng:
Ngài đưa chúng nó ra khỏi xứ đặng làm hại cho, giết đi tại trong núi, cùng
diệt chúng nó khỏi mặt đất? Cầu xin Chúa hãy nguôi cơn giận và bỏ qua điều
tai họa mà Ngài muốn giáng cho dân Ngài.
13. Xin Chúa hãy nhớ lại
Áp-ra-ham, Y-sác, Y-sơ-ra-ên, là các tôi tớ Ngài, mà Ngài có chỉ mình thề
cùng họ rằng: Ta sẽ thêm dòng dõi các ngươi lên nhiều như sao trên trời,
ta sẽ ban cho dòng dõi đó cả xứ mà ta chỉ phán, và họ sẽ được xứ ấy làm cơ
nghiệp đời đời.
14. Ðức Giê-hô-va bèn bỏ qua điều tai họa mà Ngài nói
rằng sẽ giáng cho dân mình.
15. Ðoạn, Môi-se ở trên núi trở xuống, tay
cầm hai bảng chứng; hai bảng chứng có viết hai bên, mặt nầy và mặt
kia.
16. Hai bảng đó là việc của Ðức Chúa Trời làm ra; chữ cũng là chữ
của Ðức Chúa Trời khắc trên bảng.
17. Vả, Giô-suê nghe dân chúng la
lên, bèn nói cùng Môi-se rằng: Trong trại quân có tiếng chiến đấu.
18.
Môi-se đáp rằng: Chẳng phải tiếng kêu về thắng trận, cũng chẳng phải tiếng
kêu về thua trận; nhưng ta nghe tiếng kẻ hát.
19. Khi đến gần trại
quân, Môi-se thấy bò con và sự nhảy múa, bèn nổi giận, liệng hai bảng
chứng khỏi tay mịnh, bể ra nơi chân núi;
20. đoạn lấy bò con của chúng
đã đúc đem đốt trong lửa, rồi nghiền cho đến thành ra bụi, rải trên mặt
nước, và cho dân Y-sơ-ra-ên uống.
21. Môi-se bèn nói cùng A-rôn rằng:
Dân nầy làm chi anh, mà anh xui cho chúng phạm tội nặng dường ấy?
22.
A-rôn đáp rằng: Xin chúa tôi đừng nổi giận, chúa biết rằng dân nầy chuyên
làm điều ác!
23. Họ có nói cùng tôi rằng: Hãy làm các thần đi trước
chúng tôi; vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết có điều chi xảy đến cho người rồi.
24.
Tôi bèn nói cùng chúng rằng: Ai có vàng hãy lột ra! Họ bèn đưa cho tôi,
tôi bỏ vào lửa, và bởi đó thành ra bò con nầy.
25. Vả, Môi-se thấy dân
sự buông lung, vì A-rôn để họ buông lung, đến đỗi bị sỉ nhục trong vòng
các thù nghịch,
26. thì người đứng nơi cửa trại quân mà nói rằng: Ai
thuộc về Ðức Giê-hô-va, hãy đến cùng ta đây! Hết thảy người Lê-vi đều nhóm
lại gần bên người.
27. Người truyền cho họ rằng: Giê-hô-va, là Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên, có phán như vầy: Mỗi người trong các ngươi hãy đeo
gươm bên mình, đi qua đi lại trong trại quân, từ cửa nầy đến cửa kia, và
mỗi người hãy giết anh em, bạn hữu, và kẻ lân cận mình.
28. Dân Lê-vi
bèn làm y như lời Môi-se; trong ngày đó có chừng ba ngàn người bị
chết.
29. Vả, Môi-se đã truyền rằng: Ngày nay mỗi người trong vòng các
ngươi hãy dâng tay mình cho Ðức Giê-hô-va, chẳng sá chi đến con trai hay
là anh em mình, hầu cho các ngươi được ơn phước vậy.
30. Ngày mai,
Môi-se nói cùng dân sự rằng: Các ngươi đã phạm một tội rất trọng; song bây
giờ ta lên đến Ðức Giê-hô-va, có lẽ ta sẽ được chuộc tội các ngươi
chăng.
31. Vậy, Môi-se trở lên đến Ðức Giê-hô-va mà thưa rằng: Ôi! dân
sự nầy có phạm một tội trọng, làm cho mình các thần bằng vàng;
32.
nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng không, hãy xóa tên tôi khỏi
sách Ngài đã chép đi.
33. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Kẻ nào
phạm tội cùng ta, ta sẽ xóa nó khỏi sách ta.
34. Bây giờ, hãy đi, dẫn
dân sự đến nơi ta đã chỉ phán. Nầy thiên sứ ta sẽ đi trước ngươi; nhưng
ngày nào ta hình phạt thì sẽ phạt tội chúng nó.
35. Ðức Giê-hô-va hành
phạt dân sự là vậy, vì dân sự là gốc phạm về tượng bò vàng mà A-rôn đã làm
ra.
Xuất Ê-díp-tô Ký 33
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
Nầy, ngươi cùng dân sự mà ngươi đã dẫn ra khỏi xứ Ê-díp-tô hãy từ đây đi
lên xứ ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, rằng: Ta sẽ ban xứ
đó cho dòng dõi ngươi.
2. Ta sẽ sai một thiên sứ đi trước ngươi, và sẽ
đuổi dân Ca-na-an, dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít,
và dân Giê-bu-sít,
3. đặng đưa các ngươi vào xứ đượm sữa và mật; nhưng
ta không cùng lên với ngươi đâu, vì ngươi là dân cứng cổ, e ta diệt ngươi
dọc đường chăng.
4. Khi dân sự nghe lời hăm nầy, bèn đều để tang, không
ai đeo đồ trang sức hết.
5. Vì Ðức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se rằng:
Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên: Các ngươi là dân cứng cổ, nếu ta cùng lên với
các ngươi chỉ trong một lúc, thì ta sẽ diệt các ngươi! Vậy, bây giờ, hãy
cất đồ trang sức trong mình ngươi đi, đặng ta biết liệu đãi ngươi cách
nào.
6. Thế thì, từ núi Hô-rếp, dân Y-sơ-ra-ên đã lột các đồ trang sức
mình.
7. Môi-se lấy Trại đem dựng xa ra ngoài trại quân, gọi là hội
mạc, phàm ai muốn cầu khẩn Ðức Giê-hô-va, thì ra đến hội mạc ở ngoài trại
quân.
8. Vừa khi Môi-se ra đến Trại, thì cả dân sự chổi dậy, mỗi người
đứng nơi cửa trại mình, ngó theo Môi-se cho đến khi nào người vào trong
Trại rồi.
9. Vừa khi người vào đó, thì trụ mây giáng xuống dừng tại cửa
Trại, và Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se.
10. Cả dân sự thấy trụ mây
dừng tại cửa Trại, bèn đứng dậy, rồi mỗi người đều sấp mình xuống nơi cửa
trại mình.
11. Ðức Giê-hô-va đối diện phán cùng Môi-se, như một người
nói chuyện cùng bạn hữu mình. Ðoạn, Môi-se trở về trại quân, còn kẻ hầu
trẻ của người, tên là Giô-suê, con trai của Nun, không ra khỏi
Trại.
12. Môi-se thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Nầy, Chúa phán cùng tôi
rằng: Hãy đem dân sự nầy lên! Song Chúa chẳng cho tôi biết Chúa sai ai đi
cùng tôi. Vả, Chúa có phán rằng: Ta biết ngươi vì danh ngươi, và ngươi
được ơn trước mặt ta.
13. Vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt Chúa,
xin cho tôi biết đường của Chúa, để cho tôi biết Chúa và được ơn trước mặt
Ngài. Xin cũng hãy nghĩ rằng dân nầy là dân của Ngài!
14. Ðức Giê-hô-va
đáp rằng: Chính mình ta sẽ đi cùng ngươi, và ta sẽ cho ngươi an
nghỉ.
15. Môi-se thưa rằng: Nếu chính mình Ngài chẳng đi, xin đừng đem
chúng tôi lên khỏi đây.
16. Lấy cớ chi mà người ta sẽ biết rằng tôi
cùng dân sự Ngài được ơn trước mặt Ngài? Có phải khi nào Ngài cùng đi với
chúng tôi chăng? Thế thì, tôi cùng dân sự Ngài sẽ được phân biệt với muôn
dân trên mặt đất.
17. Ðức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ta sẽ làm
điều ngươi cầu xin ta, vì ngươi được ơn trước mặt ta, và ta biết ngươi bởi
danh ngươi vậy.
18. Môi-se thưa rằng: Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh
hiển của Ngài!
19. Ðức Giê-hô-va phán ràng: Ta sẽ làm cho các sự nhân
từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi; làm
ơn cho ai ta muốn làm ơn, và thương xót ai ta muốn thương xót.
20. Ngài
lại phán rằng: Ngươi sẽ chẳng thấy được mặt ta, vì không ai thấy mặt ta mà
còn sống.
21. Ðức Giê-hô-va lại phán: Ðây có một chỗ gần ta, ngươi hãy
đứng trên hòn đá;
22. khi sự vinh hiển ta đi ngang qua, ta sẽ để ngươi
trong bộng đá, lấy tay ta che ngươi, cho đến chừng nào ta đi qua
rồi.
23. Ta sẽ rút tay lại, và ngươi thấy phía sau ta; nhưng thấy mặt
ta chẳng được.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 34 chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va phán cùng
Môi-se rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước; rồi ta sẽ viết trên
hai bảng nầy các lời đã ở nơi hai bảng kia, mà ngươi đã làm bể.
2. Ngày
mai, hãy chực cho sẵn, vừa sáng lên trên đỉnh núi Si-na-i, đứng trước mặt
ta tại đó.
3. Không ai nên lên theo cùng ngươi hết, khắp núi không nên
thấy có người, và chiên, bò cũng chẳng nên ăn cỏ nơi núi nầy nữa.
4.
Môi-se bèn đục hai bảng đá, y như hai bảng trước; dậy sớm, cầm theo tay
hai bảng đó lên trên núi Si-na-i, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn.
5. Ðức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây, đứng gần bên Môi-se và
hô danh Giê-hô-va.
6. Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va!
Giê-hô-va! là Ðức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ
và thành thực,
7. ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và
tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhơn tội tổ phụ phạt đến
con cháu trải ba bốn đời.
8. Môi-se lật đật cúi đầu xuống đất và thờ
lạy, mà thưa rằng:
9. Lạy Chúa! Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin hãy
đi giữa chúng tôi, vì dân nầy là một dân cứng cổ. Xin hãy tha sự gian ác
cùng tội lỗi, và nhận chúng tôi làm cơ nghiệp Chúa.
10. Ðức Giê-hô-va
phán rằng: Nầy, ta lập một giao ước. Trước mặt các dân sự của ngươi, ta sẽ
làm các phép lạ chưa hề có làm trên cả mặt đất, hay là nơi dân nào; và
toàn dân sự mà trong đó có ngươi, sẽ xem thấy việc Ðức Giê-hô, vì điều ta
sẽ làm cùng ngươi là một điều đáng kinh khiếp.
11. Hãy cẩn thận về điều
ta truyền cho ngươi hôm nay. Nầy, ta sẽ đuổi khỏi trước mặt ngươi dân
A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân
Giê-bu-sít.
12. Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng dân của xứ mà ngươi
sẽ vào, e chúng nó sẽ thành cái bẫy giữa ngươi chăng.
13. Nhưng các
ngươi hãy phá hủy bàn thờ, đập bể pho tượng và đánh hạ các thần chúng
nó.
14. Vì ngươi đừng sấp mình xuống trước mặt Chúa nào khác, bởi Ðức
Giê-hô-va tự xưng là Ðức Chúa Trời kỵ tà; Ngài thật là một Ðức Chúa Trời
kỵ tà vậy.
15. Hãy cẩn thận đừng lập giao ước cùng dân của xứ đó, e khi
chúng nó hành dâm cùng các tà thần chúng nó và tế các tà thần của chúng
nó, có kẻ mời, rồi ngươi ăn của chúng họ chăng.
16. Lại đừng cưới con
gái chúng nó cho con trai ngươi, e khi con gái chúng nó hành dâm với các
tà thần chúng nó, quyến dụ con trai ngươi cũng hành dâm cùng các tà thần
của chúng nó nữa chăng.
17. Ngươi chớ đúc thần tượng.
18. Ngươi hãy
giữ lễ bánh không men. Nhằm kỳ tháng lúa trỗ, hãy ăn bánh không men trong
bảy ngày, như ta đã truyền dặn ngươi; vì nhằm tháng đó ngươi ra khỏi xứ
Ê-díp-tô.
19. Các con trưởng nam đều thuộc về ta; cùng các con đực đầu
lòng của bầy súc vật ngươi, hoặc bò hoặc chiên cũng vậy.
20. Nhưng
ngươi sẽ bắt một chiên con hay là dê con mà chuộc một con lừa đầu lòng.
Nếu chẳng chuộc nó, ngươi hãy bẻ cổ nó. Ngươi sẽ chuộc các con trưởng nam
mình; và chớ ai đi tay không đến chầu trước mặt ta.
21. Trong sáu ngày
ngươi hãy làm công việc, nhưng qua ngày thứ bảy hãy nghỉ, dẫu mùa cày hay
mùa gặt ngươi cũng phải nghỉ vậy.
22. Ðầu mùa gặt lúa mì, ngươi hãy giữ
lễ của các tuần lễ; và cuối năm giữ lễ mùa màng.
23. Thường năm ba lần,
trong vòng các ngươi, mỗi người nam sẽ ra mắt Chúa Giê-hô-va, là Ðức Chúa
Trời của Y-sơ-ra-ên.
24. Vì ta sẽ đuổi các dân khỏi trước mặt ngươi, ta
sẽ mở rộng bờ cõi ngươi; và trong khi ngươi lên ra mắt Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời ngươi, mỗi năm ba lần, thì sẽ chẳng ai tham muốn xứ ngươi hết.
25.
Ngươi chớ dâng huyết của con sinh tế ta cùng bánh pha men; thịt của con
sinh về lễ Vượt-qua chớ nên giữ đến sáng mai.
26. Ngươi sẽ đem dâng hoa
quả đầu mùa của đất sanh sản vào đến Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời ngươi.
Ngươi chớ nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.
27. Ðức Giê-hô-va cũng phán
cùng Môi-se rằng: Hãy chép các lời nầy; vì theo các lời nầy mà ta lập giao
ước cùng ngươi và cùng Y-sơ-ra-ên.
28. Môi-se ở đó cùng Ðức Giê-hô-va
trong bốn mươi ngày và bốn mười đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước;
Ðức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là mười điều
răn.
29. Khi Môi-se tay cầm hai bảng chứng đi xuống núi Si-na-i, chẳng
biết rằng da mặt mình sáng rực bởi vì mình hầu chuyện Ðức
Giê-hô-va.
30. Nhưng A-rôn cùng cả dân Y-sơ-ra-ên nhìn Môi-se thấy mặt
người sáng rực, sợ không dám lại gần.
31. Môi-se bèn gọi họ, A-rôn cùng
các hội trưởng đến gần; rồi nói chuyện cùng họ.
32. Kế sau, cả dân
Y-sơ-ra-ên đến gần, người truyền dặn các điều của Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn mình nơi núi Si-na-i.
33. Môi-se thôi nói chuyện cùng họ, liền lấy
lúp che mặt mình lại.
34. Khi Môi-se vào trước mặt Ðức Giê-hô-va đặng
hầu chuyện Ngài, thì dở lúp lên cho đến chừng nào lui ra; đoạn ra nói lại
cùng dân Y-sơ-ra-ên mọi lời Ngài đã phán dặn mình.
35. Dân Y-sơ-ra-ên
nhìn mặt Môi-se thấy da mặt người sáng rực, thì Môi-se lấy lúp che mặt
mình cho đến khi nào vào hầu chuyện Ðức Giê-hô-va.
Xuất Ê-díp-tô Ký 35
chọn đoạn khác
1. Môi-se nhóm hết hội chúng Y-sơ-ra-ên
lại mà nói rằng: Ðây là các việc của Ðức Giê-hô-va đã phán dạy làm:
2.
Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy sẽ là một
lễ thánh, tức là ngày sa-bát biệt riêng ra thánh cho Ðức Giê-hô-va. Ai làm
công việc trong ngày đó sẽ bị xử tử.
3. Nhằm ngày sa-bát chớ nổi lửa
trong nhà nào của các ngươi hết.
4. Môi-se nói cùng cả hội chúng
Y-sơ-ra-ên rằng: Ðây là các lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn:
5. Hãy lấy
một lễ vật chi ở nhà các ngươi mà dâng cho Ðức Giê-hô-va. Hễ người nào có
lòng thành dâng cho, hãy đem lễ vật cho Ðức Giê-hô-va: vàng, bạc và
đồng;
6. chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông dê,
7. da chiên
đực nhuộm đỏ, da cá nược, cây si-tim,
8. dầu thắp, các thứ hương liệu
đặng chế dầu xức và hương thơm,
9. bích ngọc, và các thứ ngọc khác để
dùng khảm cho ê-phót và bảng đeo ngực.
10. Trong vòng các ngươi mấy
người khôn ngoan hơn hết hãy đến làm mọi điều Ðức Giê-hô-va đã phán
dặn;
11. đền tạm, trại và bong của đền tạm, móc, ván, xà ngang, trụ và
lỗ trụ;
12. hòm bảng chứng và đòn khiêng, nắp thi ân cùng màn che nơi
chí thánh;
13. cài bàn và đòn khiêng, các đồ phụ tùng của bàn cùng bánh
trần thiết;
14. chân đèn, đồ phụ tùng, các đèn và dầu thắp đèn;
15.
bàn thờ xông hương cùng đòn khiêng; dầu xức, hương liệu, và bức màn cửa
đền tạm;
16. bàn thờ dâng của lễ thiêu và rá đồng; đòn khiêng và các đồ
phụ tùng của bàn thờ; cái thùng và chân thùng;
17. bố vi che hành lang,
trụ, lỗ trụ, và bức màn của cửa hành lang;
18. các nọc của đền tạm,
cùng nọc và dây của hành lang;
19. bộ áo lễ dùng về công việc trong nơi
thánh; bộ áo thánh cho A-rôn, thầy tế lễ cả, và bộ áo cho các con trai
người đặng làm chức tế lễ.
20. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên bèn lui ra khỏi
mặt Môi-se.
21. Mọi người có lòng cảm động, và mọi người có lòng thành,
đều đem lễ vật đến dâng cho Ðức Giê-hô-va, để làm công việc hội mạc, các
đồ phụ tùng và bộ áo thánh.
22. Phàm người nam cùng nữ, tức mọi kẻ có
lòng thành, đều đến đem những hoa tai, nhẫn, khâu, kiềng, các thứ trang
sức bằng vàng và hết thảy đều dâng lễ vật bằng vàng cho Ðức
Giê-hô-va.
23. Kẻ nào ở nhà mình có chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai
mịn, lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ, và da cá nược đều đem đến.
24. Hễ
ai có chi làm lễ vật bằng bạc hay bằng đồng, đều đem dâng cho Ðức
Giê-hô-va, và hễ ai có cây si-tim nơi nhà mình dùng hiệp về các công việc
tế lễ, đều đem đến.
25. Phàm người đàn bà khéo thì chánh tay mình kéo
chỉ lấy và đem đến món chi họ đã kéo rồi, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và chỉ
gai mịn.
26. Còn mấy người đàn bà có cảm động và tài khéo thì kéo chỉ
lông dê.
27. Các bực tôn trưởng trong dân sự đem bích ngọc và các thứ
ngọc khác để khảm cho ê-phót và bảng đeo ngực;
28. dầu thắp đèn, các
hương liệu để chế dầu xức và dầu thơm.
29. Cả dân Y-sơ-ra-ên, nam hay
nữ, phàm ai có lòng cảm động xui cho mình tình nguyện quyên vào các công
việc Ðức Giê-hô-va đã phán dặn nơi Môi-se, đều đem dâng cho Ðức Giê-hô-va
các lễ tình nguyện vậy.
30. Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy
Ðức Giê-hô-va đã kêu danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ,
trong chi phái Giu-đa.
31. Ngài phú cho người đầy dẫy Thần của Ðức Chúa
Trời, sự khôn ngoan, sự thông sáng, và sự hiểu biết, để làm mọi thứ nghề
thợ,
32. đặng bày ra và làm đồ vàng, bạc và đồng,
33. đặng khắc và
khảm các thứ ngọc, đặng chạm cây làm các đồ khéo léo.
34. Ngài lại phú
cho người tài dạy dỗ, và cũng đồng ban cho Ô-hô-li-áp, con của
A-hi-sa-mạc, trong chi phái Ðan nữa;
35. Ngài phú cho hai người đó đầy
sự khôn ngoan đặng làm các công nghệ về thợ thêu, thợ dệt nhiều màu, tức
là màu tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai mịn; để bày ra và làm các thứ công
nghệ khéo.
Xuất
Ê-díp-tô Ký 36 chọn đoạn khác
1. Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp
và các người khôn khéo, tức là người Ðức Giê-hô-va đã phú cho sự khôn
ngoan và sự thông sáng đặng làm các công việc định dùng về việc tế lễ nơi
thánh, đều làm mọi việc mà Ðức Giê-hô-va đã phán dặn.
2. Vậy, Môi-se
bèn gọi Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp, và các người khôn khéo mà trong lòng họ
Ðức Giê-hô-va phú sự thông sáng cùng các người có lòng cảm động xui mình
đến gần, đặng làm công việc.
3. Trước mặt Môi-se, họ thâu các lễ vật
của dân Y-sơ-ra-ên đã đem đến, để làm các công việc định dùng và sự tế lễ
nơi thánh. Nhưng mỗi buổi sớm mai, dân sự lại đem đến lễ vật tình nguyện
nữa.
4. Thế thì, các người khôn khéo làm mọi công việc của nơi thánh,
đều tạm đình,
5. đến nỗi cùng Môi-se rằng: Dân sự đem đến dư bội phần
đặng làm các công việc mà Ðức Giê-hô-va đã phán dặn.
6. Theo lịnh
truyền của Môi-se, họ bèn đi rao từ trại quân rằng: Bất kỳ người nam hay
nữ, chớ làm công việc về lễ vật của nơi thánh nữa! Vậy họ cấm dân sự không
cho đem đến chi thêm nữa hết.
7. Vì đã đủ các vật liệu đặng làm hết
thảy công việc, cho đến đỗi còn dư lại nữa.
8. Các người khôn khéo
trong vòng những người làm công việc, dùng mười bức màn bằng vải gai đậu
mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, thêu hình chê-ru-bin cực xảo, mà dựng đền
tạm.
9. Mỗi bức màn đều dài hai mươi tám thước, rộng bốn thước; các bức
đều đồng cỡ nhau.
10. Họ kết mỗi năm bức màn dính lại nhau;
11. thắt
vòng bằng chỉ tím nơi triêng của bức màn thứ nhất, ở đầu bức nguyên; và
cũng làm như vậy cho triêng của bức màn ở nơi chót trong bức nguyên thứ
nhì.
12. Họ thắt năm chục vòng theo triêng của bức màn ở đầu của bức
nguyên thứ nhất, và năm chục vòng theo triêng bức màn ở chót của bức
nguyên thứ nhì; các vòng đối nhau.
13. Ðoạn chế năm chục cái móc bằng
vàng, móc bức nầy với bức kia, để cho đền tạm kết lại thành một.
14. Kế
đó, họ dùng lông dê kết mười một bức màn, để làm bong trên đền tạm.
15.
Bề dài mỗi bức màn ba mươi thước, bề rộng bốn thước: mười một bức màn đều
đồng cỡ nhau.
16. Họ kết năm bức màn riêng ra; và sáu bức màn khác
riêng ra;
17. thắt năm chục cái vòng nơi triêng bức chót của bức nguyên
thứ nhất, và năm chục vòng nơi triêng bức ở đầu của bức nguyên thứ
nhì;
18. làm năm chục cái móc bằng đồng, móc bức bong hiệp lại thành
một.
19. Họ cũng làm cho đền tạm một tấm lá phủ bằng da chiên đực nhuộm
đỏ, và một tấm là phủ bằng da cá nược đắp lên trên.
20. Họ dùng ván
bằng cây si-tim làm vách cho đền tạm.
21. Mỗi tấm ván mười thước về
dài, một thước rưỡi bề ngang.
22. Mỗi tấm có hai cái mộng liên nhau: cả
ván đền tạm đều làm một cách.
23. Vậy, họ làm ván cho đền tạm: hai chục
tấm về phía nam;
24. dưới hai chục tấm làm bốn chục lỗ mộng bằng bạc:
dưới mỗi tấm có hai lỗ mộng, để chịu hai cái mộng.
25. Họ cũng làm hai
chục tấm ván ở phía bắc đền tạm,
26. và bốn chục lỗ mộng bằng bạc; dưới
mỗi tấm có hai lỗ mộng.
27. Về phía đằng sau của đền tạm, tức là phía
tây, họ làm sáu tấm ván,
28. và về hai góc sau thì làm hai tấm
ván.
29. Hai tấm ván góc ra khít với nhau từ dưới chí trên bởi một cái
khoen ở nơi đầu; hai góc hai bên đều làm như vậy.
30. Thế thì, có tám
tấm ván và mười sáu lỗ mộng bằng bạc, dưới mỗi tấm có hai lỗ mộng.
31.
Họ làm năm cây xà ngang bằng gỗ si-tim cặp mấy tấm ván về phía bên nầy của
đền tạm,
32. năm cây xà ngang khác về phía bên kia, và năm cây xà ngang
khác nữa về phía sau đền tạm, tức là phía tây.
33. Họ làm cây xà ngang
giữa, đặng lòn qua thân giữa các tấm ván từ đầu nầy đến đầu kia,
34. và
bọc vàng mấy tấm ván. Họ làm các khoen của ván bằng vàng, đặng xỏ xà ngang
qua, và bọc vàng các cây xà ngang.
35. Họ lại chế một bức màn bằng chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn, thêu hình chê-ru-bin cực
xảo,
36. rồi làm bốn cây trụ bằng gỗ si-tim, bọc vàng, cùng đinh bằng
vàng; đúc bốn lỗ trụ bằng bạc cho mấy cây trụ đó.
37. Họ cũng chế cho
cửa vào Trại một tấm màn bằng chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu
mịn: ấy là một công việc thêu thùa.
38. Họ cũng làm năm cây trụ cùng
đinh, rồi bọc vàng trên đầu trụ, và các cây nuông; còn năm lỗ trụ thì bằng
đồng.
Xuất Ê-díp-tô Ký
37 chọn đoạn khác
1. Ðoạn, Bết-sa-lê-ên đóng hòm bằng cây
si-tim, bề dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi, và bề cao một
thước rưỡi.
2. Người bọc vàng ròng bề trong và bề ngoài, cùng chạy
đường viền chung quanh.
3. Ðúc bốn cái khoen vàng đặng gắn bốn góc: hai
cái bên hông nầy, hai cái bên hông kia.
4. Người cũng chuốt các đòn
bằng cây si-tim, bọc vàng;
5. rồi xỏ đòn đó vào khoen hai bên hông,
đặng khiêng hòm.
6. Người cũng làm một cái nắp thi ân bằng vàng ròng,
bề dài hai thước rưỡi, bề ngang một thước rưỡi.
7. Làm hai tượng
chê-ru-bin bằng vàng đánh giát để nơi hai đầu nắp thi ân,
8. một tượng
ở đầu nầy và một tượng ở đầu kia, ló ra nơi hai đầu nắp.
9. Hai
chê-ru-bin sè cánh ra che trên nắp thi ân, đối diện nhau và xây mặt vào
nắp thi ân.
10. Người cũng đóng một cái bàn bằng cây si-tim; bề dài hai
thước, bề ngang một thước, bề cao một thước rưỡi;
11. bọc bằng vàng
ròng, và chạy một đường viền chung quanh.
12. Lại cùng lên be cho tứ vi
bàn cao chừng bốn ngón tay, và chạy cho be một đường viền vàng.
13.
Người đúc bốn cái khoen vàng tra vào bốn góc, tại nơi chân bàn.
14. Các
khoen ở gần nơi be để xỏ đòn vào, đặng khiêng bàn;
15. người chuốt đòn
bằng cây si-tim, bọc vàng, đặng khiêng bàn.
16. Lại cũng lấy vàng ròng
mà làm các đồ dùng bày trên bàn: dĩa, chén, ly, và chậu, để dùng làm lễ
quán.
17. Người cũng làm chân đèn bằng vàng ròng; cái chân, cái thân,
cái đài, cái bầu, và cái hoa đều làm ra bằng vàng đánh giát.
18. Hai
bên thân đèn có sáu nhánh nứt ra, ba nhánh ở bên nầy và ba nhánh ở bên
kia.
19. Trong sáu nhánh nứt ra trên thân chân đèn, mỗi nhánh đều có ba
cái đài hình như hột hạnh nhân, cùng bầu và hoa.
20. Trên thân chân đèn
lại cũng có bốn cái đài hình như hột hạnh nhân, cùng bầu và hoa.
21.
Trong sáu nhánh từ thân chân đèn nứt ra, hễ cứ mỗi hai nhánh, thì dưới có
một cái bầu.
22. Bầu và nhành của chân đèn đều bằng vàng ròng nguyên
miếng đánh giát.
23. Người cũng làm bảy cái thếp đèn, kéo bắt tim và đồ
đựng tàn bằng vàng ròng.
24. Người dùng một ta lâng vàng ròng, mà làm
chân đèn và các đồ phụ tùng của chân đèn.
25. Người cũng đóng một cái
bàn thờ xông hương bằng cây si-tim, hình vuông, bề dài một thước, bề ngang
một thước, và bề cao hai thước. Bàn thờ có bốn sừng ló ra.
26. Người
bọc vàng ròng trên mặt, bốn cạnh chung quanh và các sừng; tứ vi cũng chạy
dường viền vàng.
27. Dưới đường viền đó, nơi hai bên góc, người làm hai
cái khoen vàng để xỏ đòn, đặng khiêng.
28. Người chuốt đòn bằng cây
si-tim và bọc vàng.
29. Người cũng chế dầu thánh để xức, và hương thanh
sạch bằng các hương liệu theo nghề thợ chế hương.
Xuất Ê-díp-tô Ký 38
chọn đoạn khác
1. Người cũng đóng bàn thờ về của lễ thiêu
bằng cây si-tim, hình vuông, bề dài năm thước, bề ngang năm thước và bề
cao ba thước.
2. Người làm nơi bốn góc bàn thờ những sừng ló ra, bọc
đồng.
3. Rồi làm các đồ phụ tùng của bàn thờ bằng đồng: chảo nhỏ, vá,
ảng, nỉa, và bình hương.
4. Lại làm một tấm rá bằng lưới đồng để dưới
thành bàn thờ, từ chân lên đến ngang giữa,
5. và đúc cái khoen cho bốn
góc rá lưới đồng, đặng xỏ đòn khiêng.
6. Ðoạn, chuốt đòn khiêng bằng
cây si-tim, và bọc đồng;
7. xỏ đòn vào khoen nơi hai bên bàn thờ, đặng
khiêng bàn đi. Người đóng bàn thờ bằng ván, trống bộng.
8. Người dùng
các tấm gương của mấy người đàn bà hầu việc nơi cửa hội mạc, chế ra một
cái thùng và chân thùng bằng đồng.
9. Người cũng làm hành lang: về phía
nam mấy bức bố vi của hành lang bằng vải gai đậu mịn, dài trăm
thước;
10. hai chục cây trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng, đinh và nuông
trụ bằng bạc.
11. Về phía bắc, cũng một trăm thước bố vi, hai chục cây
trụ và hai chục lỗ trụ bằng đồng, đinh và nuông trụ bằng bạc.
12. Về
phía tây, năm chục thước bố vi, mười cây trụ, và mười lỗ trụ bằng đồng,
đinh và nuông trụ bằng bạc.
13. Về phía trước, là phía đông, cũng năm
chục thước:
14. nghĩa là bên hữu của hành lang mười lăm thước bố vi ba
cây trụ và ba lỗ trụ;
15. bên tả của hành lang cũng mười lăm thước bố
vi, ba cây trụ và ba lỗ trụ.
16. Hết thảy bố vi của hành lang ở chung
quanh đều bằng vải gai đậu mịn;
17. các lỗ trụ bằng đồng, đinh, nuông
bằng bạc, và đầu trụ bọc bạc. Hết thảy trụ của hành lang đều nhờ có nuông
bạc chắp với nhau.
18. Tấm màn nơi cửa hành lang làm thêu thùa bằng chỉ
tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn; bề dài hai chục thước, bề cao
(tùy theo bề khổ của vải) năm thước, đồng cỡ với bề cao của các bố vi
chung quanh hành lang.
19. Bốn cây trụ và bốn lỗ trụ bằng đồng, đinh,
đồ bọc đầu trụ, và những nuông đều bằng bạc.
20. Các nọc của đền tạm và
của hành lang chung quanh đều bằng đồng.
21. Ðây là sổ tổng cộng về đền
tạm, là đền tạm chứng cớ theo lịnh truyền của Môi-se biểu người Lê-vi làm
ra, nhờ Y-tha-ma, con trai của thầy tế lễ cả A-rôn, cai quản.
22.
Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, thuộc về chi phái Giu-đa, làm
theo mọi điều Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se,
23. và kẻ giúp người là
Ô-hô-li-áp, con trai A-hi-sa-mạc, thuộc về chi phái Ðan, làm thợ chạm, kẻ
bày vẽ, thợ thêu thùa bằng chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và bằng chỉ gai
mịn.
24. Hết thảy vàng đã hiệp dùng vào các công việc nơi thánh (ấy là
vàng dâng) được hai mươi chín ta lâng, bảy trăm ba chục siếc-lơ, theo
siếc-lơ của nơi thánh.
25. Bạc của mấy người hội chúng có kể sổ tổng
cộng được một trăm ta lâng, một ngàn bảy trăm bảy mươi lăm siếc-lơ, theo
siếc-lơ của nơi thánh.
26. Hết thảy người nào có kể sổ, từ hai mươi
tuổi sắp lên, nghĩa là sáu trăm ba ngàn năm trăm năm chục người, mỗi người
nộp nửa siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh.
27. Vậy, phải một trăm ta
lâng bạc đặng đúc các lỗ trụ của nơi thánh, và lỗ trụ màn; một trăm ta
lâng cho một trăm lỗ trụ, tức một ta lâng vào mỗi lỗ trụ.
28. Còn một
ngàn bảy trăm bảy mươi lăm siếc-lơ dư lại, thì dùng làm đinh trụ, bọc đầu
trụ và lấy nuông chắp các trụ với nhau.
29. Ðồng đem dâng cộng được bảy
chục ta lâng, hai ngàn bốn trăm siếc-lơ.
30. Họ dùng đồng đó làm lỗ trụ
của cửa hội mạc, bàn thờ bằng đồng, rá bằng đồng, các đồ phụ tùng của bàn
thờ;
31. các lỗ trụ của hành lang chung quanh, các lỗ trụ của cửa hành
lang, các nọc của đền tạm, và các nọc của hành lang chung
quanh.
Xuất Ê-díp-tô Ký
39 chọn đoạn khác
1. Họ dùng chỉ màu tím, đỏ điều, đỏ sặm
mà chế bộ áo định cho sự tế lễ trong nơi thánh, và bộ áo thánh cho A-rôn,
y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
2. Vậy, họ chế ê-phót bằng
kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn.
3. Họ căng
vàng lá ra, cắt thành sợi chỉ mà xen cùng chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và chỉ
gai mịn, chế thật cực xảo.
4. Họ may hai đai vai ê-phót, đâu hai đầu
dính lại.
5. Ðai để cột ê-phót, phía ngoài, làm nguyên miếng một y như
công việc của ê-phót: bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và bằng
chỉ gai đậu mịn, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
6. Họ khảm
trong khuôn vàng các bích ngọc có khắc tên các chi phái Y-sơ-ra-ên, như
người ta khắc con dấu.
7. Họ để các ngọc đó trên đai vai ê-phót đặng
làm ngọc kỷ niệm về dân Y-sơ-ra-ên, y như lời Ðức Giê-hô-va phán dặn
Môi-se.
8. Họ cũng chế bảng đeo ngực cực xảo, như công việc ê-phót:
bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và chỉ gai đậu mịn.
9. Bảng
đeo ngực may lót, hình vuông, bề dài một em-ban, bề ngang một
em-ban.
10. Họ nhận bốn hàng ngọc: hàng thứ nhất, ngọc mã não, ngọc
hồng bích, và ngọc lục bửu;
11. hàng thứ nhì, ngọc phỉ túy, ngọc lam
bửu, và ngọc kim cương;
12. hàng thứ ba, ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã
não, và ngọc tử tinh;
13. hàng thứ tư, ngọc huỳnh bích, ngọc hồng mã
não, và bích ngọc. Các ngọc nầy đều khảm vàng.
14. Số ngọc là mười hai,
tùy theo số danh của các con trai Y-sơ-ra-ên. Mỗi viên ngọc có khắc một
tên trong mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên như người ta khắc con dấu.
15.
Ðoạn, trên bảng đeo ngực họ chế các sợi chuyền bằng vàng ròng, đánh lại
như hình dây.
16. Cũng làm hai cái móc và hai cái khoanh bằng vàng, để
hai khoanh nơi hai góc đầu bảng đeo ngực;
17. cùng cột hai sợi chuyền
vàng vào hai khoanh đó.
18. Rồi chuyền hai đầu của hai sợi chuyền vào
móc gài nơi đai vai ê-phót, về phía trước ngực.
19. Cũng làm hai khoanh
vàng khác để vào hai góc đầu dưới của bảng đeo ngực, về phía trong
ê-phót.
20. Lại làm hai khoanh vàng khác nữa để nơi đầu dưới của hai
đai vai ê-phót, về phía trước, ở trên đai, gần chỗ giáp mối.
21. Họ lấy
một sợi dây màu tím, cột hai cái khoanh của bảng đeo ngực lại cùng hai cái
khoanh ê-phót, hầu cho nó dính với đai và đừng rớt khỏi ê-phót, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
22. Họ cũng chế áo dài của ê-phót
bằng vải thường toàn màu tím.
23. Cổ để tròng đầu vào, ở về chính giữa
áo, như lỗ áo giáp, có viền chung quanh cho khỏi tét.
24. Nơi trôn áo,
thắt những trái lựu bằng chỉ xe mịn màu tím, đỏ điều, đỏ sặm;
25. lại
làm chuông nhỏ bằng vàng ròng, gắn giữa hai trái lựu, vòng theo chung
quanh trôn áo;
26. cứ một trái lựu, kế một cái chuông nhỏ, vòng theo
chung quanh trôn áo dùng để hầu việc, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
27. Họ cũng chế áo lá mặc trong bằng vải gai mịn, dệt thường,
cho A-rôn cùng các con trai người;
28. luôn cái mũ, đồ trang sức của
mũ, và quần lót trong, đều bằng vải gai đậu mịn;
29. cùng cái đai bằng
vải gai đậu mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu, y như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
30. Họ cũng dùng vàng lá ròng chế cái thẻ
thánh, khắc trên đó như người ta khắc con dấu, rằng: Thánh Cho Ðức
Giê-hô-va!
31. Rồi lấy một sợi dây tím đặng cột để trên mũ, y như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
32. Các công việc của đền tạm và hội
mạc làm xong là như vậy. Dân Y-sơ-ra-ên làm y như mọi lời Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn Môi-se.
33. Họ đem đền tạm đến cho Môi-se: Trại và các đồ phụ
tùng của Trại, nọc, ván, xà ngang, trụ và lỗ trụ;
34. bong da chiên đực
nhuộm đỏ, bong da cá nược và cái màn;
35. hòm bảng chứng và đòn khiêng,
cùng nắp thi ân;
36. bàn và đồ phụ tùng của bàn cùng bánh trần
thiết;
37. chân đèn bằng vàng ròng, thếp đèn đã sắp sẵn, các đồ phụ
tùng của chân đèn và dầu thắp,
38. bàn thờ bằng vàng, dầu xức, hương
liệu, tấm màn của cửa Trại;
39. bàn thờ bằng đồng và rá đồng, đòn
khiêng, các đồ phụ tùng của bàn thờ, thùng và chân thùng;
40. các bố vi
của hành lang, trụ, lỗ trụ, màn của cửa hành lang, dây, nọc, hết thảy đồ
phụ tùng về việc tế lễ của đền tạm;
41. bộ áo lễ đặng hầu việc trong
nơi thánh, bộ áo thánh cho A-rôn, thầy tế lễ cả, và bộ áo của các con trai
người để làm chức tế lễ.
42. Dân Y-sơ-ra-ên làm mọi công việc nầy y như
mạng lịnh của Ðức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
43. Môi-se xem các
công việc làm, thấy họ đều làm y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn; đoạn
Môi-se chúc phước cho họ.
Xuất Ê-díp-tô Ký 40 chọn
đoạn khác
1. Ðức
Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
2. Ngày mồng một tháng giêng, ngươi sẽ
dựng đền tạm.
3. Hãy để trong đó cái hòm bảng chứng, rồi lấy màn phủ
lại.
4. Cũng hãy đem bàn đến, chưng bày các đồ trên bàn cho có thứ tự,
cùng chân đèn và thắp các đèn;
5. cũng hãy để bàn thờ bằng vàng dùng
xông hương trước hòm bảng chứng, rồi xủ tấm màn nơi cửa đền tạm.
6.
Cũng hãy để bàn thờ về của lễ thiêu đằng trước cửa đền tạm;
7. và để
cái thùng ở giữa khoảng hội mạc và bàn thờ; rồi đổ nước vào;
8. lại
chừa hành lang chung quanh và xủ tấm màn nơi cửa hành lang.
9. Ðoạn,
ngươi hãy lấy dầu xức mà xức đền tạm và các đồ để trong đó; biệt riêng đền
tạm ra thánh, thì sẽ làm thánh vậy.
10. Cũng hãy xức dầu bàn thờ về của
lễ thiêu, và các đồ phụ tùng của bàn thờ; rồi biệt riêng ra thánh, thì bàn
thờ sẽ làm rất thánh.
11. Cũng hãy xức dầu cho thùng và chân thùng;
biệt thùng riêng ra thánh.
12. Ðoạn, hãy dẫn A-rôn cùng các con trai
người đến gần cửa hội mạc, rồi tắm họ trong nước.
13. Ngươi hãy mặc áo
thánh cho A-rôn, xức dầu và biệt người riêng ra thánh; vậy người sẽ làm
chức tế lễ trước mặt ta.
14. Hãy dẫn các con trai người đến gần, rồi
mặc áo lá cho họ;
15. xức dầu cho như ngươi đã xức cho cha họ, thì họ
sẽ làm chức tế lễ trước mặt ta. Sự xức dầu sẽ phong cho họ chức tế lễ mãi
mãi trải qua các đời.
16. Môi-se làm y như mọi điều Ðức Giê-hô-va đã
phán dặn mình.
17. Ðến ngày mồng một tháng giêng về năm thứ hai, thì
đền tạm đã dựng.
18. Môi-se dựng đền tạm, để mấy lỗ trụ, đóng ván, thả
xà ngang và dựng trụ.
19. Người căng bong trên đền tạm, rồi trải lá phủ
bong lên trên, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
20. Ðoạn,
người cũng lấy bảng chứng, để trong hòm, xỏ đòn khiêng vào, để nắp thi ân
lên trên hòm.
21. Người khiêng hòm vào đền tạm và treo màn để che chỗ
chí thánh, phủ hòm bảng chứng lại, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
22. Người cũng để cái bàn trong hội mạc, về phía bắc đền tạm ở
ngoài bức màn;
23. rồi sắp một hàng bánh ở trên, trước mặt Ðức
Giê-hô-va, y như lời Ngài đã phán dặn Môi-se.
24. Ðể chân đèn trong hội
mạc về phía nam, đối diện cùng cái bàn.
25. Người thắp đèn trước mặt
Ðức Giê-hô-va, y như lời Ngài đã phán dặn Môi-se.
26. Ðể bàn thờ bằng
vàng trước bức màn trong hội mạc;
27. trên đó người xông hương, y như
lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
28. Người cũng xủ màn nơi cửa đền
tạm.
29. Ðoạn, người để bàn thờ về của lễ thiêu nơi cửa đền tạm, dâng
trên đó của lễ thiêu và của lễ chay, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
Môi-se.
30. Cũng để thùng về giữa khoảng hội mạc và bàn thờ, cùng đổ
nước vào đặng tắm rửa;
31. Môi-se, A-rôn cùng các con trai của A-rôn,
rửa tay và chân mình vào đó.
32. Khi nào họ vào hội mạc và lại gần bàn
thờ thì rửa mình, y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
33. Chung
quanh đền tạm và bàn thờ, người cũng chừa hành lang, và xủ màn nơi cửa
hành lang. Ấy, Môi-se làm xong công việc là như vậy.
34. Áng mây bao
phủ hội mạc và sự vinh hiển của Ðức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm,
35. cho
đến nỗi Môi-se vào chẳng đặng, vì áng mây bao phủ ở trên và sự vinh hiển
của Ðức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm.
36. Vả, trong các sự hành trình của
dân Y-sơ-ra-ên, khi nào áng mây từ đền tạm ngự lên thì họ ra đi;
37.
còn nếu áng mây không ngự lên thì họ cũng không đi, cho đến ngày nào áng
mây ngự lên.
38. Vì trong các sự hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, thì áng
mây của Ðức Giê-hô-va ở trên đền tạm ban ngày, và có lửa ở trên đó ban đêm
hiện trước mặt cả dân Y-sơ-ra-ên.