[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] [31] [32] [33] [34] [35] [36] [37] [38] [39] [40] [41] [42] [43] [44] [45] [46] [47] [48] [49] [50]
Sáng-thế Ký 1 chọn
đoạn khác
1. Ban đầu Ðức
Chúa Trời dựng nên trời đất.
2. Vả, đất là vô hình và trống không, sự
mờ tối ở trên mặt vực; Thần Ðức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.
3.
Ðức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng.
4. Ðức Chúa
Trời thấy sự sáng là tốt lành, bèn phân sáng ra cùng tối.
5. Ðức Chúa
Trời đặt tên sự sáng là ngày; sự tối là đêm. Vậy, có buổi chiều và buổi
mai; ấy là ngày thứ nhứt.
6. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có một
khoảng không ở giữa nước đặng phân rẽ nước cách với nước.
7. Ngài làm
nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên
khoảng không; thì có như vậy.
8. Ðức Chúa Trời đặt tên khoảng không là
trời. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ nhì.
9. Ðức Chúa
Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có
chỗ khô cạn bày ra; thì có như vậy.
10. Ðức Chúa Trời đặt tên chỗ khô
cạn là đất, còn nơi nước tụ lại là biển. Ðức Chúa Trời thấy điều đó là tốt
lành.
11. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Ðất phải sanh cây cỏ; cỏ kết hột
giống, cây trái kết quả, tùy theo loại mà có hột giống trong mình trên
đất; thì có như vậy.
12. Ðất sanh cây cỏ: cỏ kết hột tùy theo loại, cây
kết quả có hột trong mình, tùy theo loại. Ðức Chúa Trời thấy điều đó là
tốt lành.
13. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ ba.
14.
Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên
trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và
năm;
15. lại dùng làm vì sáng trong khoảng không trên trời để soi xuống
đất; thì có như vậy.
16. Ðức Chúa Trời làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn
hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm các
ngôi sao.
17. Ðức Chúa Trời đặt các vì đó trong khoảng không trên trời,
đặng soi sáng đất,
18. đặng cai trị ban ngày và ban đêm, đặng phân ra
sự sáng với sự tối. Ðức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
19. Vậy, có
buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ tư.
20. Ðức Chúa Trời lại phán
rằng: Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loài chim phải bay
trên mặt đất trong khoảng không trên trời.
21. Ðức Chúa Trời dựng nên
các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tùy theo
loại, và các loài chim hay bay, tùy theo loại. Ðức Chúa Trời thấy điều đó
là tốt lành.
22. Ðức Chúa Trời ban phước cho các loài đó mà phán rằng:
Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy
sanh sản trên đất cho nhiều.
23. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là
ngày thứ năm.
24. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Ðất phải sanh các vật
sống tùy theo loại, tức súc vật, côn trùng, và thú rừng, đều tùy theo
loại; thì có như vậy.
25. Ðức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tùy
theo loại, súc vật tùy theo loại, và các côn trùng trên đất tùy theo loại,
Ðức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.
26. Ðức Chúa Trời phán rằng:
Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản
trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt
đất, và khắp cả đất.
27. Ðức Chúa Trời dựng nên loài người như hình
Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Ðức Chúa Trời; Ngài dựng nên
người nam cùng người nữ.
28. Ðức Chúa Trời ban phước cho loài người và
phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất
phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các
vật sống hành động trên mặt đất.
29. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Nầy,
ta sẽ ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hột mọc khắp mặt đất, và các loài
cây sanh quả có hột giống; ấy sẽ là đồ ăn cho các ngươi.
30. Còn các
loài thú ngoài đồng, các loài chim trên trời, và các động vật khác trên
mặt đất, phàm giống nào có sự sống thì ta ban cho mọi thứ cỏ xanh đặng
dùng làm đồ ăn; thì có như vậy.
31. Ðức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã
làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ
sáu.
Sáng-thế Ký 2
chọn đoạn khác
1. Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng
nên xong rồi.
2. Ngày thứ bảy, Ðức Chúa Trời làm xong các công việc
Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm.
3.
Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó,
Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi.
4. Ấy là gốc
tích trời và đất khi đã dựng nên, trong lúc Giê-hô-va Ðức Chúa Trời dựng
nên trời và đất.
5. Vả, lúc đó, chưa có một cây nhỏ nào mọc ngoài đồng,
và cũng chưa có một ngọn cỏ nào mọc ngoài ruộng, vì Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời chưa có cho mưa xuống trên đất, và cũng chẳng có một người nào cày
cấy đất nữa.
6. Song có hơi nước dưới đất bay lên tưới khắp cùng mặt
đất,
7. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà
sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.
8. Ðoạn,
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng Ðông, và
đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó.
9. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời khiến
đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây
sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.
10. Một con sông từ Ê-đen
chảy ra đặng tưới vườn; rồi từ đó chia ra làm bốn ngả.
11. Tên ngả thứ
nhứt là Bi-sôn; ngả đó chảy quanh xứ Ha-vi-la, là nơi có vàng.
12. Vàng
xứ nầy rất cao; đó lại có nhũ hương và bính ngọc.
13. Tên sông thứ nhì
là Ghi-hôn, chảy quanh xứ Cu-sơ.
14. Tên sông thứ ba là Hi-đê-ke, chảy
về phía đông bờ cõi A-si-ri. Còn sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.
15.
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ
vườn.
16. Rồi, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do
ăn hoa quả các thứ cây trong vườn;
17. nhưng về cây biết điều thiện và
điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.
18.
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán rằng: Loài người ở một mình thì không tốt; ta
sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó.
19. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lấy
đất nắn nên các loài thú đồng, các loài chim trời, rồi dẫn đến trước mặt
A-đam đặng thử xem người đặt tên chúng nó làm sao, hầu cho tên nào A-đam
đặt cho mỗi vật sống, đều thành tên riêng cho nó.
20. A-đam đặt tên các
loài súc vật, các loài chim trời cùng các loài thú đồng; nhưng về phần
A-đam, thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết.
21.
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ mê, bèn lấy một xương sường, rồi
lấp thịt thế vào.
22. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời dùng xương sường đã lấy
nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam.
23. A-đam nói rằng:
Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ
được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có.
24. Bởi vậy cho nên
người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một
thịt.
25. Vả, A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng, mà chẳng hổ
thẹn.
Sáng-thế Ký 3
chọn đoạn khác
1. Vả, trong các loài thú đồng mà
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết.
Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Ðức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi
không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?
2. Người nữ đáp rằng:
Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn,
3. song về phần trái của cây
mọc giữa vườn, Ðức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và
cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng.
4. Rắn bèn
nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâu;
5. nhưng Ðức Chúa Trời
biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Ðức
Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.
6. Người nữ thấy trái của cây đó
bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho
chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.
7. Ðoạn, mắt hai người đều mỡ
ra, biết rằng mình lỏa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân.
8. Lối
chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ
ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời.
9.
Giê-hô-va Ðức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu?
10.
A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lỏa
lồ, nên đi ẩn mình.
11. Ðức Chúa Trời phán hỏi: Ai đã chỉ cho ngươi
biết rằng mình lỏa lồ? Ngươi có ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn đó
chăng?
12. Thưa rằng: Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái
cây đó và tôi đã ăn rồi.
13. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán hỏi người nữ
rằng: Người có làm điều chi vậy? Người nữ thưa rằng: Con rắn dỗ dành tôi
và tôi đã ăn rồi.
14. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn phán cùng rắn rằng:
Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật,
các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời.
15.
Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ
nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân
người.
16. Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội
phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục
vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi.
17. Ngài
lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã
dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu
khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.
18. Ðất sẽ sanh chông gai và cây
tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng;
19. ngươi sẽ làm đổ mồ hôi
trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi
ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.
20. A-đam gọi vợ là Ê-va, vì
là mẹ của cả loài người.
21. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lấy da thú kết
thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho.
22. Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã
thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người
giơ tay khiến cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời
chăng.
23. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn đuổi loài người ra khỏi vườn
Ê-đen đặng cày cấy đất, là nơi có người ra.
24. Vậy, Ngài đuổi loài
người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn Ê-đen các thần chê-ru-bin
với gươm lưỡi chói lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống.
Sáng-thế Ký 4
chọn đoạn khác
1. A-đam ăn ở với Ê-va, là vợ mình; người thọ thai sanh
Ca-in và nói rằng: Nhờ Ðức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi mới sanh được một
người.
2. Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm nghề chăn chiên,
còn Ca-in thì nghề làm ruộng.
3. Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ sản
làm của lễ dâng cho Ðức Giê-hô-va.
4. A-bên cũng dâng chiên đầu lòng
trong bầy mình cùng mỡ nó. Ðức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của
người;
5. nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ vật của
người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt.
6. Ðức Giê-hô-va phán hỏi
Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống?
7.
Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành,
thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị
nó.
8. Ca-in thuật lại cùng A-bên là em mình. Vả, khi hai người đương ở
ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi.
9. Ðức
Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng: A-bên, em ngươi, ở đâu? Thưa rằng: Tôi không
biết; tôi là người giữ em tôi sao?
10. Ðức Giê-hô-va hỏi: Ngươi đã làm
điều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta.
11.
Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa sả, là đất đã hả miệng chịu hút máu của em
ngươi bởi chính tay ngươi làm đổ ra.
12. Khi ngươi trồng tỉa, đất chẳng
sanh hoa lợi cho ngươi nữa; ngươi sẽ lưu lạc và trốn tránh, trên mặt
đất.
13. Ca-in thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Sự hình phạt tôi nặng quá
mang không nổi.
14. Nầy, ngày nay, Chúa đã đuổi tôi ra khỏi đất nầy,
tôi sẽ lánh mặt Chúa, sẽ đi lưu lạc trốn tránh trên đất; rồi, xảy có ai
gặp tôi, họ sẽ giết đi.
15. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Bởi cớ ấy, nếu ai
giết Ca-in, thì sẽ bị báo thù bảy lần. Ðức Giê-hô-va bèn đánh dấu trên
mình Ca-in, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết.
16. Ca-in bèn lui ra
khỏi mặt Ðức Giê-hô-va, và ở tại xứ Nốt, về phía đông của Ê-đen.
17.
Ðoạn, Ca-in ăn ở cùng vợ mình, nàng thọ thai và sanh được Hê-nóc; Ca-in
xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc, tùy theo tên con trai mình.
18.
Rồi, Hê-nóc sanh Y-rát; Y-rát sanh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sanh
Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sanh Lê-méc.
19. Lê-méc cưới hai vợ; một người
tên là A-đa, một người tên là Si-la.
20. A-đa sanh Gia-banh; Gia-banh
là tổ phụ của các dân ở trại và nuôi bầy súc vật.
21. Em người là
Giu-banh, tổ phụ của những kẻ đánh đờn và thổi sáo.
22. Còn Si-la cũng
sanh Tu-banh-Ca-in là người rèn đủ thứ khí giới bén bằng đồng và bằng sắt.
Em gái của Tu-banh-Ca-in là Na-a-ma.
23. Lê-méc bèn nói với hai vợ mình
rằng: Hỡi A-đa và Si-la! hãy nghe tiếng ta; Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai
nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta, Và một người trẻ,
vì đánh sưng bầm ta.
24. Nếu Ca-in được bảy lần báo thù, Lê-méc sẽ được
bảy mươi bảy lần báo oán.
25. A-đam còn ăn ở với vợ mình; người sanh
được một con trai đặt tên là Sết; vì vợ rằng: Ðức Chúa Trời đã cho tôi một
con trai khác thế cho A-bên mà đã bị Ca-in giết rồi.
26. Sết cũng sanh
được một con trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn
danh Ðức Giê-hô-va.
Sáng-thế Ký 5 chọn
đoạn khác
1. Ðây là sách
chép dòng dõi của A-đam. Ngày mà Ðức Chúa Trời dựng nên loài người, thì
Ngài làm nên loài người giống như Ðức Chúa Trời;
2. Ngài dựng nên người
nam cùng người nữ, ban phước cho họ, và trong ngày đã dựng nên, đặt tên là
người.
3. Vả, A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sanh một con trai giống
như hình tượng mình, đặt tên là Sết.
4. Sau khi A-đam sanh Sết rồi, còn
sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái.
5. Vậy, A-đam hưởng thọ
được chín trăm ba mươi tuổi, rồi qua đời.
6. Sết được một trăm năm
tuổi, sanh Ê-nót.
7. Sau khi Sết sanh Ê-nót rồi, còn sống được tám trăm
bảy năm, sanh con trai con gái.
8. Vậy, Sết hưởng thọ được chín trăm
mười hai tuổi, rồi qua đời.
9. Ê-nót được chín mươi tuổi, sanh
Kê-nan.
10. Sau khi sanh Kê-nan rồi, còn sống được tám trăm mười lăm
năm, sanh con trai con gái.
11. Vậy, Ê-nót hưởng thọ được chín trăm năm
tuổi, rồi qua đời.
12. Kê-nan được bảy mươi tuổi, sanh
Ma-ha-la-le.
13. Sau khi Kê-nan sanh Ma-ha-la-le rồi, còn sống được tám
trăm bốn mươi năm, sanh con trai con gái.
14. Vậy, Kê-nan hưởng thọ
được chín trăm mười tuổi, rồi qua đời.
15. Ma-ha-la-le được sáu mươi
lăm tuổi, sanh Giê-rệt.
16. Sau khi Ma-ha-la-le sanh Giê-rệt, còn sống
được tám trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.
17. Vậy, Ma-ha-la-le
hưởng thọ được tám trăm chín mươi lăm tuổi, rồi qua đời.
18. Giê-rệt
được một trăm sáu mươi hai tuổi, sanh Hê-nóc.
19. Sau khi Giê-rệt sanh
Hê-nóc rồi, còn sống được tám trăm năm, sanh con trai con gái.
20. Vậy,
Giê-rệt hưởng thọ được chín trăm sáu mươi hai tuổi, rồi qua đời.
21.
Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la.
22. Sau khi Hê-nóc
sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Ðức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh
con trai con gái.
23. Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ba trăm sáu mươi lăm
tuổi.
24. Hê-nóc đồng đi cùng Ðức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Ðức
Chúa Trời tiếp người đi.
25. Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy
tuổi, sanh Lê-méc.
26. Sau khi Mê-tu-sê-la sanh Lê-méc rồi, còn sống
được bảy trăm tám mươi hai năm, sanh con trai con gái.
27. Vậy,
Mê-tu-sê-la hưởng thọ được chín trăm sáu mươi chín tuổi, rồi qua
đời.
28. Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai,
29.
đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Ðứa nầy sẽ an ủy lòng ta về công việc và về
sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Ðức Giê-hô-va đã rủa
sả.
30. Sau khi Lê-méc sanh Nô-ê rồi, còn sống được năm trăm chín mươi
lăm năm, sanh con trai con gái.
31. Vậy, Lê-méc hưởng thọ được bảy trăm
bảy mươi bảy tuổi, rồi qua đời.
32. Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi,
sanh Sem Cham và Gia-phết.
Sáng-thế Ký 6 chọn
đoạn khác
1. Vả, khi loài
người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái
rồi,
2. các con trai của Ðức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp,
bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ.
3. Ðức Giê-hô-va phán rằng:
Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài
người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà
thôi.
4. Ðời đó và đời sau, có người cao lớn trên mặt đất, vì con trai
Ðức Chúa Trời ăn ở cùng con gái loài người mà sanh con cái; ấy những người
mạnh dạn ngày xưa là tay anh hùng có danh.
5. Ðức Giê-hô-va thấy sự
hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ
chỉ là xấu luôn;
6. thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất,
và buồn rầu trong lòng.
7. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ hủy diệt khỏi
mặt đất loài người mà ta đã dựng nên, từ loài người cho đến loài súc vật,
loài côn trùng, loài chim trời; vì ta tự trách đã dựng nên các loài
đó.
8. Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Ðức Giê-hô-va.
9. Nầy là dòng
dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và toàn vẹn, đồng
đi cùng Ðức Chúa Trời.
10. Nô-ê sanh ba con trai là Sem, Cham và
Gia-phết.
11. Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Ðức Chúa Trời và
đầy dẫy sự hung ác.
12. Nầy, Ðức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy điều
bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại
hoại.
13. Ðức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi
xác thịt đã đưa đến trước mặt ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy
điều hung hăng; vậy, ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất.
14. Ngươi hãy đóng một
chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng
bề ngoài.
15. Vậy, hãy làm theo thế nầy: Bề dài tàu ba trăm thước, bề
ngang năm mươi thước, bề cao ba mươi thước.
16. Trên tàu ngươi sẽ làm
một cửa sổ, bề cao một thước, và chừa một cửa bên hông; ngươi sẽ làm một
từng dưới, một từng giữa và một từng trên.
17. Còn ta đây, ta sẽ dẫn
nước lụt khắp trên mặt đất, đặng diệt tuyệt các xác thịt có sanh khí ở
dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết.
18. Nhưng
ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của
ngươi, đều hãy vào tàu.
19. Về các loài sanh vật, ngươi hãy dẫn xuống
tàu mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, hầu cho ở cùng ngươi
đặng giữ tròn sự sống;
20. chim tùy theo loại, súc vật tùy theo loại,
côn trùng tùy theo loại, mỗi thứ hai con, sẽ đến cùng ngươi, để ngươi giữ
tròn sự sống cho.
21. Lại, ngươi hãy lấy các thứ đồ ăn đem theo, đặng
để dàng làm lương thực cho ngươi và các loài đó.
22. Nô-ê làm các điều
nầy y như lời Ðức Chúa Trời đã phán dặn.
Sáng-thế Ký 7 chọn
đoạn khác
1.
Ðức Giê-hô-va phán cùng Nô-ê rằng: Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu, vì
về đời nầy ta thấy ngươi là công bình ở trước mặt ta.
2. Trong các loài
vật thanh sạch, hãy đem theo mỗi loài bảy cặp, đực và cái; còn loài vật
không thanh sạch mỗi loài một cặp, đực và cái.
3. Cũng hãy đem theo
những chim trời, mỗi thứ bảy cặp, trống và mái, để giữ giống ở trên khắp
mặt đất.
4. Vì còn bảy ngày nữa, ta sẽ làm mưa xuống mặt đất, trong bốn
mươi ngày và bốn mươi đêm; ta sẽ tuyệt diệt khỏi đất hết các loài của ta
đã dựng nên.
5. Ðoạn, Nô-ê làm theo mọi điều Ðức Giê-hô-va đã phán dặn
mình.
6. Vả, khi lụt xảy ra, và nước tràn trên mặt đất, thì Nô-ê đã
được sáu trăm tuổi.
7. Vì cớ nước lụt, nên Nô-ê vào tàu cùng vợ, các
con trai và các dâu mình;
8. loài vật thanh sạch và loài vật không
thanh sạch, loài chim, loài côn trùng trên mặt đất,
9. từng cặp, đực và
cái, trống và mái, đều đến cùng Nô-ê mà vào tàu, y như lời Ðức Chúa Trời
đã phán dặn người.
10. Sau bảy ngày, nước lụt xảy có trên mặt
đất.
11. Nhằm năm sáu trăm của đời Nô-ê, tháng hai, ngày mười bảy,
chánh ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra, và các đập trên trời mở
xuống;
12. mưa sa trên mặt đất trọn bốn mươi ngày và bốn mươi
đêm.
13. Lại cũng trong một ngày đó, Nô-ê với vợ, ba con trai: Sem,
Cham và Gia-phết, cùng ba dâu mình đồng vào tàu.
14. Họ và các loài,
thú rừng tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, côn trùng trên mặt đất tùy
theo loại, chim tùy theo loại, và hết thảy vật nào có cánh,
15. đều
từng cặp theo Nô-ê vào tàu; nghĩa là mọi xác thịt nào có sanh khí,
16.
một đực một cái, một trống một mái, đều đến vào tàu, y như lời Ðức Chúa
Trời đã phán dặn; đoạn, Ðức Giê-hô-va đóng cửa tàu lại.
17. Nước lụt
phủ mặt đất bốn mươi ngày; nước dưng thêm nâng hỏng tàu lên khỏi mặt
đất.
18. Trên mặt đất nước lớn và dưng thêm nhiều lắm; chiếc tàu nổi
trên mặt nước.
19. Nước càng dưng lên bội phần trên mặt đất, hết thảy
những ngọn núi cao ở dưới trời đều bị ngập.
20. Nước dưng lên mười lăm
thước cao hơn, mấy ngọn núi đều ngập.
21. Các xác thịt hành động trên
mặt đất đều chết ngột, nào chim, nào súc vật, nào thú rừng, nào côn trùng,
và mọi người.
22. Các vật có sanh khí trong lỗ mũi, các vật ở trên đất
liền đều chết hết.
23. Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài
người cho đến loài thú, loài côn trùng, cùng loài chim trời, chỉ còn Nô-ê
và các loài ở với người trong tàu mà thôi.
24. Nước dưng lên trên mặt
đất trọn một trăm năm mươi ngày.
Sáng-thế Ký 8 chọn
đoạn khác
1. Vả, Ðức Chúa
Trời nhớ lại Nô-ê cùng các loài thú và súc vật ở trong tàu với người, bèn
khiến một trận gió thổi ngang qua trên đất, thì nước dừng lại.
2. Các
nguồn của vực lớn và các đập trên trời lấp ngăn lại; mưa trên trời không
sa xuống nữa.
3. Nước giựt khỏi mặt đất, lần lần vừa hạ vừa giựt; trong
một trăm năm mươi ngày nước mới bớt xuống.
4. Ðến tháng bảy, ngày mười
bảy, chiếc tàu tấp trên núi A-ra-rát.
5. Nước cứ lần lần hạ cho đến
tháng mười; ngày mồng một tháng đó, mấy đỉnh núi mới lộ ra.
6. Ðược bốn
mươi ngày, Nô-ê mở cửa sổ mình đã làm trên tàu,
7. thả một con quạ ra;
quạ liệng đi liệng lại cho đến khi nước giựt khô trên mặt đất.
8. Người
cũng thả một con bò câu ra, đặng xem thử nước hạ bớt trên mặt đất
chưa.
9. Nhưng bò câu chẳng tìm được nơi nào đáp chơn xuống, bèn bay
trở về trong tàu cùng người, vì nước còn khắp cả trên mặt đất. Nô-ê giơ
tay bắt lấy bò câu, đem vào tàu lại với mình.
10. Ðoạn, người đợi bảy
ngày nữa, lại thả bò câu ra khỏi tàu;
11. đến chiều bò câu về cùng
người, và nầy, trong mỏ tha một lá Ô-li-ve tươi; Nô-ê hiểu rằng nước đã
giảm bớt trên mặt đất.
12. Người đợi bảy ngày nữa, thả con bò câu ra;
nhưng chuyến nầy bò câu chẳng trở về cùng người nữa.
13. Nhằm năm sáu
trăm một của đời Nô-ê, ngày mồng một, tháng giêng, nước đã giựt bày mặt
đất khô; Nô-ê bèn giở mui tàu mà nhìn; nầy, mặt đất đã se.
14. Ðến
tháng hai, ngày hai mươi bảy, đất đã khô rồi.
15. Ðức Chúa Trời bèn
phán cùng Nô-ê rằng:
16. Hãy ra khỏi tàu, ngươi, vợ các con và các dâu
ngươi.
17. Hãy thả ra với ngươi mọi vật sống của các xác thịt đã ở cùng
ngươi: nào chim, nào thú, nào côn trùng bò trên đất, hầu cho chúng nó sanh
sản, và thêm nhiều trên mặt đất.
18. Vậy, Nô-ê cùng vợ người, các con
trai và các dâu người ra khỏi tàu.
19. Các thú, rắn, chim cùng mọi vật
hành động trên mặt đất tùy theo giống đều ra khỏi tàu.
20. Nô-ê lập một
bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va. Người bắt các súc vật thanh sạch, các loài chim
thanh sạch, bày của lễ thiêu dâng lên bàn thờ.
21. Ðức Giê-hô-va hưởng
lấy mùi thơm và nghĩ thầm rằng: Ta chẳng vì loài người mà rủa sả đất nữa,
vì tâm tánh loài người vẫn xấu xa từ khi còn tuổi trẻ; ta cũng sẽ chẳng
hành các vật sống như ta đã làm.
22. Hễ đất còn, thì mùa gieo giống
cùng mùa gặt hái, lạnh và nóng, mùa hạ cùng mùa đông, ngày và đêm, chẳng
bao giờ tuyệt được.
Sáng-thế Ký 9 chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Trời
ban phước cho Nô-ê cùng các con trai người, mà phán rằng: Hãy sanh sản,
thêm nhiều, làm cho đầy dẫy trên mặt đất.
2. Các loài vật ở trên đất,
các loài chim trời, và các vật hành động trên đất, cùng các cá biển, đều
sẽ kinh khủng ngươi và bị phú vào tay ngươi.
3. Phàm vật chi hành động
và có sự sống thì dùng làm đồ ăn cho các ngươi. Ta cho mọi vật đó như ta
đã cho thứ cỏ xanh.
4. Song các ngươi không nên ăn thịt còn hồn sống,
nghĩa là có máu.
5. Quả thật, ta sẽ đòi máu của sự sống ngươi lại, hoặc
nơi các loài thú vật, hoặc nơi tay người, hoặc nơi tay của anh em
người.
6. Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu
lại; vì Ðức Chúa Trời làm nên người như hình của Ngài.
7. Vậy, các
ngươi hãy sanh sản, thêm nhiều, và làm cho đầy dẫy trên mặt đất.
8. Ðức
Chúa Trời cũng phán cùng Nô-ê và các con trai người rằng:
9. Còn phần
ta đây, ta lập giao ước cùng các ngươi, cùng dòng dõi các ngươi,
10. và
cùng mọi vật sống ở với ngươi, nào loài chim, nào súc vật, nào loài thú ở
trên đất, tức là các loài ở trong tàu ra, cho đến các loài vật ở trên
đất.
11. Vậy, ta lập giao ước cùng các ngươi, và các loài xác thịt
chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt, và cũng chẳng có nước lụt để hủy
hoại đất nữa.
12. Ðức Chúa Trời lại phán rằng: Ðây là dấu chỉ về sự
giao ước mà ta lập cùng các ngươi, cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi,
trải qua các đời mãi mãi.
13. Ta đặt mống của ta trên từng mây, dùng
làm dấu chỉ sự giao ước của ta với đất.
14. Phàm lúc nào ta góp các đám
mây trên mặt đất và phàm mống mọc trên từng mây,
15. thì ta sẽ nhớ lại
sự giao ước của ta đã lập cùng các ngươi, và cùng các loài xác thịt có sự
sống, thì nước chẳng bao giờ lại trở nên lụt mà hủy diệt các loài xác thịt
nữa.
16. Vậy, cái mống sẽ ở trên mây, ta nhìn xem nó đặng nhớ lại sự
giao ước đời đời của Ðức Chúa Trời cùng các loài xác thịt có sự sống ở
trên đất.
17. Ðức Chúa Trời lại phán cùng Nô-ê rằng: Ðó là dấu chỉ sự
giao ước mà ta đã lập giữa ta và các xác thịt ở trên mặt đất.
18. Các
con trai của Nô-ê ở trong tàu ra là Sem, Cham và Gia-phết. Vả, Cham là cha
của Ca-na-an.
19. Ấy đó, là ba con trai của Nô-ê, và cũng do nơi họ mà
có loài người ở khắp trên mặt đất.
20. Vả, Nô-ê khởi cày đất và trồng
nho.
21. Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình.
22. Cham
là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha, thì ra ngoài thuật lại cùng
hai anh em mình.
23. Nhưng Sem và Gia-phết đều lấy áo choàng vắt trên
vai mình, đi thùi lui đến đắp khuất thân cho cha; và bởi họ xây mặt qua
phía khác, nên chẳng thấy sự trần truồng của cha chút nào.
24. Khi Nô-ê
tỉnh rượu rồi, hay được điều con thứ hai đã làm cho mình,
25. bèn nói
rằng: Ca-na-an đáng rủa sả! Nó sẽ làm mọi cho các tôi tớ của anh em
nó.
26. Người lại nói rằng: Ðáng ngợi khen Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời
của Sem thay; Ca-na-an phải làm tôi cho họ!
27. Cầu xin Ðức Chúa Trời
mở rộng đất cho Gia-phết, cho người ở nơi trại của Sem; còn Ca-na-an phải
làm tôi của họ.
28. Sau khi lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi
năm.
29. Vậy, Nô-ê hưởng thọ được chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua
đời.
Sáng-thế Ký 10
chọn đoạn khác
1. Ðây là dòng dõi của Sem, Cham và
Gia-phết, ba con trai của Nô-ê; sau khi lụt, họ sanh con cái.
2. Con
trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và
Ti-ra.
3. Con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát, và Tô-ga-ma.
4.
Con trai của Gia-van là Ê-li-sa và Ta-rê-si, Kít-sim và Ðô-đa-nim.
5.
Do họ mà có người ta ở tràn ra các cù lao của các dân, tùy theo xứ, tiếng
nói, chi phái và dân tộc của họ mà chia ra.
6. Con trai của Cham là
Cúc, Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an.
7. Con trai của Cúc là Sê-ba,
Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma và Sáp-tê-ca; con trai của Ra-ê-ma là Sê-la và
Ðê-đan.
8. Cúc sanh Nim-rốt, ấy là người bắt đầu làm anh hùng trên mặt
đất.
9. Người là một tay thợ săn can đảm trước mặt Ðức Giê-hô-va. Bởi
cớ đó, có tục ngữ rằng: Hệt như Nim-rốt, một tay thợ săn can đảm trước mặt
Ðức Giê-hô-va!
10. Nước người sơ-lập là Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne ở
tại xứ Si-nê-a.
11. Từ xứ đó người đến xứ A-si-ri, rồi lập thành
Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách,
12. Và thành Rê-sen, là thành rất lớn,
ở giữa khoảng thành Ni-ni-ve và Ca-lách.
13. Mích-ra-im sanh họ Lu-đim,
họ A-na-mim, họ Lê-ha-bim, họ Náp-tu-him,
14. họ Bát-ru-sim, họ
Cách-lu-him (bởi đó sanh họ Phi-li-tin), và họ Cáp-tô-rim.
15. Ca-na-an
sanh Si-đôn, là con trưởng nam, và Hếch,
16. cùng họ Giê-bu-sít, họ
A-mô-rít, họ Ghi-rê-ga-sít,
17. họ Hê-vít, họ A-rê-kít, họ
Si-nít,
18. họ A-va-đít, họ Xê-ma-rít, họ Ha-ma-tít. Kế đó, chi tộc
Ca-na-an đi tản lạc.
19. Còn địa-phận Ca-na-an, về hướng Ghê-ra, chạy
từ Si-đôn tới Ga-xa; về hướng Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im, chạy
đến Lê-sa.
20. Ðó là con cháu của Cham, tùy theo họ hàng, tiếng nói, xứ
và dân tộc của họ.
21. Sem, tổ phụ của họ Hê-be và anh cả của Gia-phết,
cũng có sanh con trai.
22. Con trai của Sem là Ê-lam, A-sự-rơ,
A-bác-sát, Lút và A-ram.
23. Con trai của A-ram là U-xơ, Hu-lơ, Ghê-te
và Mách.
24. Còn A-bác-sát sanh Sê-lách; Sê-lách sanh Hê-be,
25.
Hê-be sanh được hai con trai; tên của một người là Bê-léc, vì đất trong
đời người đó đã chia ra; trên của người em là Giốc-tan.
26. Giốc-tan
sanh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết và Giê-rách,
27. Ha-đô-ram, U-xa,
Ðiếc-la,
28. Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,
29. Ô-phia, Ha-vi-la và
Giô-báp. Hết thảy các người đó là con trai của Giốc-tan.
30. Cõi đất
của các người đó ở về phía Sê-pha, chạy từ Mê-sa cho đến núi Ðông
phương.
31. Ðó là con cháu của Sem, tùy theo họ hàng, tiếng nói, xứ và
dân tộc của họ.
32. Ấy là các họ hàng của ba con trai Nô-ê tùy theo đời
và dân tộc của họ; lại cũng do nơi họ mà các dân chia ra trên mặt đất sau
cơn nước lụt.
Sáng-thế
Ký 11 chọn đoạn khác
1. Vả, cả thiên hạ đều có một giọng
nói và một thứ tiếng.
2. Nhưng khi ở Ðông phương dời đi, người ta gặp
một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.
3. Người nầy nói với
người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch
thế cho đá, còn chai thế cho hồ.
4. Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây
một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo
làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.
5. Ðức
Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người
xây nên.
6. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng
một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đương khởi làm; bây giờ chẳng
còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được.
7. Thôi! chúng
ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được
tiếng nói của người nầy với người kia.
8. Rồi, từ đó Ðức Giê-hô-va làm
cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất
thành.
9. Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Ðức Giê-hô-va
làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người
tản ra khắp trên mặt đất.
10. Ðây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm,
sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát.
11. Sau khi
Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con
gái.
12. A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.
13. Sau khi
A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai
con gái.
14. Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.
15. Sau khi
Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con
gái.
16. Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.
17. Sau khi Hê-be
sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con
gái.
18. Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu
19. Sau khi Bê-léc
sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con
gái.
20. Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.
21. Sau khi Rê-hu
sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con
gái.
22. Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.
23. Sau khi Sê-rúc
sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.
24.
Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.
25. Sau khi Na-cô sanh
Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con
gái.
26. Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Áp-ram, Na-cô và
Ha-ran.
27. Ðây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Áp-ram, Na-cô và
Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.
28. Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là
U-ru, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống.
29.
Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là
Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran.
30. Vả, Sa-rai
son sẻ, nên người không có con.
31. Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình,
Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, đồng
ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran
thì lập gia cư tại đó.
32. Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi
qua đời tại Cha-ran.
Sáng-thế Ký 12 chọn
đoạn khác
1. Vả, Ðức
Giê-hô-va có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà
con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho.
2. Ta sẽ làm cho
ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi,
và ngươi sẽ thành một nguồn phước.
3. Ta sẽ ban phước cho người nào
chúc phước cho ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế
gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.
4. Rồi Áp-ram đi, theo như lời Ðức
Giê-hô-va đã phán dạy; Lót đồng đi với người. Khi Áp-ram ra khỏi Cha-ran,
tuổi người được bảy mươi lăm.
5. Áp-ram dẫn Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu
mình, cả gia tài đã thâu góp, và các đầy tớ đã được tại Cha-ran, từ đó ra,
để đi đến xứ Ca-na-an; rồi, chúng đều đến xứ Ca-na-an.
6. Áp-ram trải
qua xứ nầy, đến cây dẻ bộp của Mô-rê, tại Si-chem. Vả, lúc đó, dân
Ca-na-an ở tại xứ.
7. Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng Áp-ram mà phán rằng:
Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất nầy! Rồi tại đó Áp-ram lập một bàn thờ
cho Ðức Giê-hô-va, là Ðấng đã hiện đến cùng người.
8. Từ đó, người đi
qua núi ở về phía đông Bê-tên, rồi đóng trại; phía tây có Bê-tên, phía
đông có A-hi. Ðoạn, người lập tại đó một bàn thờ cho Ðức Giê-hô-va và cầu
khẩn danh Ngài.
9. Kế sau, Áp-ram vừa đi vừa đóng trại lần lần đến Nam
phương.
10. Bấy giờ, trong xứ bị cơn đói kém; sự đói kém ấy lớn, nên
Áp-ram xuống xứ Ê-díp-tô mà kiều ngụ.
11. Khi hầu vào đất Ê-díp-tô,
Áp-ram bèn nói cùng Sa-rai, vợ mình, rằng: Nầy, ta biết ngươi là một người
đờn bà đẹp.
12. Gặp khi nào dân Ê-díp-tô thấy ngươi, họ sẽ nói rằng: Ấy
là vợ hắn đó; họ sẽ giết ta, nhưng để cho ngươi sống.
13. Ta xin hãy
xưng ngươi là em gái ta, hầu cho sẽ vì ngươi mà ta được trọng đãi và giữ
toàn mạng ta.
14. Áp-ram vừa đến xứ Ê-díp-tô, dân Ê-díp-tô nhìn thấy
người đờn bà đó đẹp lắm.
15. Các triều thần của Pha-ra-ôn cùng thấy
người và trằm-trồ trước mặt vua; đoạn người đờn bà bị dẫn vào cung
Pha-ra-ôn.
16. Vì cớ người, nên Pha-ra-ôn hậu đãi Áp-ram, và Áp-ram
được nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái.
17.
Song vì Sa-rai, vợ Áp-ram, nên Ðức Giê-hô-va hành phạt Pha-ra-ôn cùng nhà
người bị tai họa lớn.
18. Pha-ra-ôn bèn đòi Áp-ram hỏi rằng: Ngươi đã
làm chi cho ta vậy? Sao không tâu với ta rằng là vợ ngươi?
19. Sao đã
nói rằng: người đó là em gái tôi? nên nỗi ta đã lấy nàng làm vợ. Bây giờ,
vợ ngươi đây; hãy nhận lấy và đi đi.
20. Ðoạn, Pha-ra-ôn hạ lịnh cho
quan quân đưa vợ chồng Áp-ram cùng hết thảy tài vật của người
đi.
Sáng-thế Ký 13
chọn đoạn khác
1. Áp-ram ở Ê-díp-tô dẫn vợ cùng các tài
vật mình và Lót đồng trở lên Nam phương.
2. Vả, Áp-ram rất giàu có súc
vật, vàng và bạc.
3. người vừa đi vừa đóng trại, từ Nam phương trở về
Bê-tên và A-hi,
4. là nơi đã lập một bàn thờ lúc trước. Ở đó Áp-ram cầu
khẩn danh Ðức Giê-hô-va.
5. Vả, Lót cùng đi với Áp-ram, cũng có chiên,
bò, và trại.
6. Xứ đó không đủ chỗ cho hai người ở chung, vì tài vật
rất nhiều cho đến đỗi không ở chung nhau được.
7. Trong khi dân
Ca-na-an và dân Phê-rê-sít ở trong xứ, xảy có chuyện tranh giành của bọn
chăn chiên Áp-ram cùng bọn chăn chiên Lót.
8. Áp-ram nói cùng Lót rằng:
Chúng ta là cốt nhục, xin ngươi cùng ta chẳng nên cãi lẫy nhau và bọn chăn
chiên ta cùng bọn chăn chiên ngươi cũng đừng tranh giành nhau nữa.
9.
Toàn xứ há chẳng ở trước mặt ngươi sao? Vậy, hãy lìa khỏi ta; nếu ngươi
lấy bên hữu, ta sẽ qua bên tả.
10. Lót bèn ngước mắt lên, thấy khắp
cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh, là nơi (trước khi Ðức Giê-hô-va chưa phá
hủy thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ) thảy đều có nước chảy tưới khắp đến Xoa;
đồng ó cũng như vườn của Ðức Giê-hô-va và như xứ Ê-díp-tô vậy.
11. Lót
bèn chọn lấy cho mình hết cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh và đi qua phía
Ðông. Vậy, hai người chia rẽ nhau.
12. Áp-ram ở trong xứ Ca-na-an, còn
Lót ở trong thành của đồng bằng và dời trại mình đến Sô-đôm.
13. Vả,
dân Sô-đôm là độc ác và kẻ phạm tội trọng cùng Ðức Giê-hô-va.
14. Sau
khi Lót lìa khỏi Áp-ram rồi, Ðức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Hãy
nhướng mắt lên, nhìn từ chỗ ngươi cho đến phương bắc, phương nam, phương
đông và phương tây:
15. Vì cả xứ nào ngươi thấy, ta sẽ ban cho ngươi và
cho dòng dõi ngươi đời đời.
16. Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi như bụi
trên đất; thế thì, nếu kẻ nào đếm đặng dòng dõi ngươi vậy.
17. Hãy đứng
dậy đi khắp trong xứ, bề dài và bề ngang; vì ta sẽ ban cho ngươi xứ
nầy.
18. Ðoạn áp-ram đời trại mình đến ở nơi lùm cây dẻ bộp tại Mam-rê,
thuộc về Hếp-rôn, và lập tại đó một bàn thờ cho Ðức
Giê-hô-va.
Sáng-thế Ký
14 chọn đoạn khác
1. Trong đời Am-ra-phên, vua Si-nê-a;
A-ri-óc, vua Ê-la-sa; Kết-rô-Lao me, vua Ê-lam, và Ti-đanh, vua
Gô-im,
2. bốn vua hiệp lại tranh chiến cùng Bê-ra, vua Sô-đôm;
Bi-rê-sa, vua Gô-mô-rơ; Si-nê-áp, vua Át-ma; Sê-mê-bê, vua Xê-bô-im, và
vua Bê-la, tức là Xoa.
3. Các vua nầy hiệp lại tại trũng Si-điêm, bây
giờ là biển muối.
4. Trong mười hai năm các vua nầy đều là chư-hầu của
vua Kết-rô-Lao me; nhưng qua năm thứ mười ba, thì họ dấy loạn.
5. Nhằm
năm thứ mười bốn, Kết-rô-Lao-me cùng các vua đồng minh kéo quân đến dẹp
dân Rê-pha-im ở đất Ách-tê-rót-Ca-na-im, dân Xu-xin tại đất Ham, dân Ê-mim
ở trong đồng bằng Ki-ri-a-ta-im,
6. và dân Hô-rít tại núi Sê-i-rơ, cho
đến nơi Ên-Ba-ran, ở gần đồng vắng.
7. Ðoạn, các vua thâu binh trở về,
đến Suối Xử đoán, tức Ca-đe, hãm đánh khắp miền dân A-ma-léc, và dân
A-mô-rít ở tại Hát-sát sôn-Tha-ma.
8. Các vua của Sô-đôm, Gô-mô-rơ,
Át-ma, Xê-bô-im và vua Bê-la, tức là Xoa, bèn xuất trận và dàn binh đóng
tại trũng Si-điêm,
9. đặng chống cự cùng Kết-rô-Lao-me, vua Ê-lam;
Ti-đanh, vua Gô-im; Am-ra-phên, vua Si-nê-a, và A-ri-óc, vua Ê-la-sa; bốn
vị đương địch cùng năm.
10. Vả, trong trũng Si-điêm có nhiều hố nhựa
chai; vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ thua chạy, sa xuống hố, còn kẻ nào thoát
được chạy trốn trên núi.
11. Bên thắng trận bèn cướp lấy hết của cải và
lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, rồi đi.
12. Giặc cũng bắt Lót, là
cháu của Áp-ram, ở tại Sô-đôm, và hết thảy gia tài người, rồi đem
đi.
13. Có một người thoát được chạy đến báo điều đó cùng Áp-ram, là
người Hê-bơ-rơ. Áp-ram ở tại lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, là người A-mô-rít,
anh của Ếch-côn và A-ne; ba người nầy đã có kết-ước cùng Áp-ram.
14.
Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười
tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó
đến đất Ðan.
15. Ðoạn Áp-ram chia bọn đầy tớ mình ra, thừa ban đêm xông
hãm quân nghịch, đánh đuổi theo đến đất Hô-ba ở về phía tả Ða-mách.
16.
Người thâu về đủ hết các tài vật mà quân giặc đã cướp lấy; lại cũng dẫn
cháu mình, là Lót cùng gia tài người, đờn bà và dân chúng trở về.
17.
Sau khi Áp-ram đánh bại Kết-rô-Lao-me và các vua đồng minh, thắng trận trở
về, thì vua Sô-đôm ra đón rước người tại trũng Sa-ve, tức là trũng
Vua.
18. Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem bánh và rượu ra. Vả, vua
nầy là thầy tế lễ của Ðức Chúa Trời Chí cao,
19. chúc phước cho Áp-ram
và nói rằng: Nguyện Ðức Chúa Trời Chí cao, là Ðấng dựng nên trời và đất,
ban phước cho Áp-ram!
20. Ðáng ngợi khen thay Ðức Chúa Trời Chí cao đã
phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi! Ðoạn, Áp-ram lấy một phần mười về cả của
giặc mà dâng cho vua đó.
21. Vua Sô-đôm bèn nói cùng Áp-ram rằng: Hãy
giao người cho ta, còn của cải, thì ngươi thâu lấy.
22. Áp-ram đáp lại
rằng: Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể
của trời và đất, mà thề rằng:
23. Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một
sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói
được rằng: Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có,
24. chỉ món chi của những
người trẻ đã ăn, và phần của các người cùng đi với tôi, là A-ne, Ếch-côn
và Mam-rê; về phần họ, họ hãy lấy phần của họ đi.
Sáng-thế Ký 15
chọn đoạn khác
1. Sau các việc đó, trong sự hiện thấy có lời Ðức Giê-hô-va
phán cùng Áp-ram rằng: Hỡi Áp-ram! ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái
thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.
2. Áp-ram thưa
rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ
nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Ða-mách.
3. Áp-ram lại nói rằng:
Nầy, Chúa làm cho tôi tuyệt-tự; một kẻ tôi tớ sanh đẻ tại nhà tôi sẽ làm
người kế nghiệp tôi.
4. Ðức Giê-hô-va bèn phán cùng Áp-ram rằng: Kẻ đó
chẳng phải là kẻ kế nghiệp ngươi đâu, nhưng ai ở trong gan ruột ngươi ra,
sẽ là người kế nghiệp ngươi.
5. Ðoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán
rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy
đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy.
6. Áp-ram
tin Ðức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người.
7. Ðức
Giê-hô-va lại phán cùng Áp-ram rằng: Ta là Ðức Giê-hô-va, Ðấng đã dẫn
ngươi ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, để ban cho ngươi xứ nầy làm sản
nghiệp.
8. Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, bởi cớ chi tôi biết
rằng tôi sẽ được xứ nầy làm sản nghiệp?
9. Ðức Giê-hô-va đáp rằng:
Ngươi hãy bắt đem cho ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi,
một con chiên đực ba tuổi, một con cu rừng và một con bò câu con.
10.
Áp-ram bắt đủ các loài vật đó, mổ làm hai, để mỗi nửa con mỗi bên đối với
nhau, nhưng không mổ các loài chim ra làm hai.
11. Có những chim ăn mồi
bay đáp trên mấy con thú chết đó, song Áp-ram đuổi nó đi.
12. Vả, khi
mặt trời vừa lặn, thì Áp-ram ngủ mê; nầy một cơn kinh hãi, tối tăm nhập
vào mình người.
13. Ðức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Phải biết
rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi
mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm.
14. Nhưng, ta sẽ đoán
phạt dân mà dòng dõi ngươi sẽ làm tôi mọi đó; rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ
được của cải rất nhiều.
15. Còn ngươi sẽ bình yên về nơi tổ phụ, hưởng
lộc già sung sướng, rồi qua đời.
16. Ðến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ
trở lại đây, vì tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy.
17. Khi mặt
trời đã lặn, thình lình sự tối mịt giáng xuống; kìa có một lò lớn khói
lên, và một ngọn lửa lòe ngang qua các xác thịt đã mổ,
18. Ngày đó, Ðức
Giê-hô-va lập giao ước cùng Áp-ram, mà phán rằng: Ta cho dòng dõi ngươi xứ
nầy, từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát,
19. là
xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít
20. Hê-tít, Phê-rê-sít,
Rê-pha-im,
21. A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-ê-ga-sít và
Giê-bu-sít.
Sáng-thế Ký
16 chọn đoạn khác
1. Vả, Sa-rai, vợ của Áp-ram, vẫn không
sanh con; nàng có một con đòi Ê-díp-tô, tên là A-ga.
2. Sa-rai nói cùng
Áp-ram rằng: Nầy, Ðức Giê-hô-va đã làm cho tôi son sẻ, vậy xin ông hãy lại
ăn ở cùng con đòi tôi, có lẽ tôi sẽ nhờ nó mà có con chăng. Áp-ram bèn
nghe theo lời của Sa-rai.
3. Sau khi Áp-ram đã trú ngụ mười năm tại xứ
Ca-na-an, Sa-rai, vợ người, bắt A-ga, là con đòi Ê-díp-tô mình, đưa cho
chồng làm hầu.
4. Người lại cùng con đòi, thì nàng thọ thai. Khi con
đòi thấy mình thọ thai, thì khinh bỉ bà chủ mình.
5. Sa-rai nói cùng
Áp-ram rằng: Ðiều sỉ nhục mà tôi bị đây đổ lại trên ông. Tôi đã phú con
đòi tôi vào lòng ông, mà từ khi nó thấy mình thọ thai, thì lại khinh tôi.
Cầu Ðức Giê-hô-va xét đoán giữa tôi với ông.
6. Áp-ram đáp cùng Sa-rai
rằng: Nầy, con đòi đó ở trong tay ngươi, phân xử thể nào, mặc ý ngươi cho
vừa dạ. Ðoạn Sa-rai hành hạ A-ga, thì nàng trốn đi khỏi mặt người.
7.
Nhưng thiên sứ của Ðức Giê-hô-va thấy nàng ở trong đồng vắng gần bên suối
nước, nơi mé đường đi và Su-rơ,
8. thì hỏi rằng: Hỡi A-ga, đòi của
Sa-rai, ngươi ở đâu đến, và sẽ đi đâu? Nàng thưa rằng: Tôi lánh xa mặt
Sa-rai, chủ tôi.
9. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va dạy nàng rằng: Ngươi hãy
trở về chủ ngươi, và chịu lụy dưới tay người.
10. Thiên sứ của Ðức
Giê-hô-va lại phán rằng: Ta sẽ thêm dòng dõi ngươi nhiều, đông đảo đến đỗi
người ta đếm không đặng nữa.
11. Lại phán rằng: Nầy, ngươi đương có
thai, sẽ sanh một trai, đặt tên là Ích-ma-ên; vì Ðức Giê-hô-va có nghe sự
sầu khổ của ngươi.
12. Ðứa trẻ đó sẽ như một con lừa rừng; tay nó sẽ
địch cùng mọi người, và tay mọi người sẽ địch lại nó. Nó sẽ ở về phía đông
đối mặt cùng hết thảy anh em mình.
13. Nàng gọi Ðức Giê-hô-va mà đã
phán cùng mình, danh là "Ðức Chúa Trời hay đoái xem," vì nàng nói rằng:
Chính tại đây, tôi há chẳng có thấy được Ðắng đoái xem tôi sao?
14. Bởi
cớ ấy, người ta gọi cái giếng nầy ở về giữa khoảng của Ca-đe và Bê-re, là
giếng La-chai-Roi.
15. Rồi nàng A-ga sanh được một con trai; Áp-ram đặt
tên đứa trai đó là Ích-ma-ên.
16. Vả lại, khi A-ga sanh Ích-ma-ên cho
Áp-ram, thì Áp-ram đã được tám mươi sáu tuổi.
Sáng-thế Ký 17 chọn
đoạn khác
1.
Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Ðức Giê-hô-va hiện đến cùng người
và phán rằng: Ta là Ðức Chúa Trời toàn năng; ngươi hãy đi ở trước mặt ta
làm một người trọn vẹn.
2. Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, làm cho dòng
dõi ngươi thêm nhiều quá-bội.
3. Áp-ram bèn sấp mình xuống đất; Ðức
Chúa Trời phán cùng người rằng:
4. Nầy, phần ta đây, ta đã lập giao ước
cùng ngươi; vậy ngươi sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc.
5. Thiên hạ
chẳng còn gọi ngươi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi là Áp-ra-ham, vì ta đặt
ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc.
6. Ta sẽ làm cho ngươi sanh sản rất
nhiều, làm cho ngươi thành nhiều nước; và các vua sẽ do nơi ngươi mà
ra.
7. Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, và cùng hậu tự ngươi trải qua các
đời; ấy là giao ước đời đời, hầu cho ta làm Ðức Chúa Trời của ngươi và của
dòng dõi ngươi.
8. Ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi xứ mà ngươi
đương kiều ngụ, tức toàn xứ Ca-na-an, làm cơ nghiệp đời đời. Vậy, ta sẽ
làm Ðức Chúa Trời của họ.
9. Ðoạn, Ðức Chúa Trời phán cùng Áp-ra-ham
rằng: Phần ngươi cùng dòng dõi ngươi, từ đời nọ sang đời kia, sẽ giữ sự
giao ước của ta.
10. Mỗi người nam trong vòng các ngươi phải chịu phép
cắt bì; ấy là giao ước mà các ngươi phải giữ, tức giao ước lập giữa ta và
các ngươi, cùng dòng dõi sau ngươi.
11. Các ngươi phải chịu cắt bì;
phép đó sẽ là dấu hiệu của sự giao ước giữa ta cùng các ngươi.
12. Trải
qua các đời, mỗi người nam trong vòng các ngươi, hoặc sanh đẻ tại nhà,
hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, chẳng thuộc về dòng giống
ngươi, hễ lên được tám ngày rồi, đều phải chịu phép cắt bì.
13. Chớ khá
bỏ làm phép cắt bì cho ai sanh tại trong nhà ngươi, hay đem tiền ra mua
về; sự giao ước của ta sẽ lập đời đời trong xác thịt của các ngươi
vậy.
14. Một người nam nào không chịu phép cắt bì nơi xác thịt mình, sẽ
bị truất ra khỏi ngoài dân sự mình; người đó là kẻ bội lời giao ước
ta.
15. Ðức Chúa Trời phán cùng Áp-ra-ham rằng: còn Sa-rai, vợ ngươi,
chớ gọi là Sa-rai nữa; nhưng Sa-ra là tên người đó.
16. Ta sẽ ban phước
cho nàng, lại do nơi nàng ta sẽ cho ngươi một con trai, Ta sẽ ban phước
cho nàng, nàng sẽ làm mẹ các dân tộc; những vua của các dân tộc sẽ do nơi
nàng mà ra.
17. Áp-ra-ham bèn sấp mình xuống đất, cười và nói thầm
rằng: Hồ dễ người đã trăm tuổi rồi, mà sanh con được chăng? Còn Sa-ra,
tuổi đã chín mươi, sẽ sanh sản được sao?
18. Áp-ra-ham thưa cùng Ðức
Chúa Trời rằng: Chớ chi Ích-ma-ên vẫn được sống trước mặt Ngài!
19. Ðức
Chúa Trời bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai,
rồi ngươi đặt tên là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước
đời đời cho dòng dõi của nó.
20. Ta cũng nhậm lời ngươi xin cho
Ích-ma-ên. Nầy, ta ban phước cho người, sẽ làm cho người sanh sản và thêm
nhiều quá-bội; người sẽ là tổ phụ của mười hai vị công-hầu, và ta làm cho
người thành một dân lớn.
21. Nhưng ta sẽ lập giao ước ta cùng Y-sác, độ
khoảng nầy năm tới Sa-ra phải sanh cho ngươi.
22. Khi Ðức Chúa Trời đã
phán xong, thì Ngài từ Áp-ra-ham ngự lên.
23. Chánh ngày đó, Áp-ra-ham
bắt Ích-ma-ên, con trai mình, và hết thảy các người nam trong nhà, hoặc
sanh tại đó, hoặc đem tiền ra mua về, mà làm phép cắt bì cho, y như lời
Ðức Chúa Trời đã phải dặn.
24. Vả, khi Áp-ra-ham chịu phép cắt bì, thì
đã được chín mươi chín tuổi;
25. còn Ích-ma-ên, con người, khi chịu
phép cắt bì, thì được mười ba tuổi.
26. Cũng trong một ngày đó,
Áp-ra-ham và Ích-ma-ên chịu phép cắt bì,
27. và mọi người nam trong
nhà, hoặc sanh tại đó, hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, đồng
chịu phép cắt bì với người.
Sáng-thế Ký 18 chọn
đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va
hiện ra cùng Áp-ra-ham nơi lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, đương khi ngồi nơi
cửa trại lúc trời nắng ban ngày.
2. Áp-ra-ham nhướng mắt lên, thấy ba
người đứng trước mặt. Vừa khi thấy, bèn bắt từ cửa trại chạy đến trước mặt
ba người đó, sấp mình xuống đất,
3. và thưa rằng: Lạy Chúa, nếu tôi
được ơn trước mặt Chúa, xin hãy ghé lại nhà kẻ tôi tớ Chúa, đừng bỏ đi
luôn.
4. Xin các đấng hãy cho phép người ta lấy chút nước rửa chơn các
đấng, và xin hãy nằm nghỉ mát dưới cội cây nầy.
5. Tôi sẽ đi đem một
miếng bánh cho các đấng ăn vững lòng, rồi sẽ dời gót lên đường; vì cớ ấy,
nên mới quá bộ lại nhà kẻ tôi tớ các đấng vậy. Các đấng phán rằng: Hãy cứ
việc làm như ngươi đã nói.
6. Ðoạn, Áp-ra-ham lật đật vào trại đến cùng
Sa-ra mà rằng: Hãy mau mau lấy ba đấu bột lọc nhồi đi, rồi làm bánh
nhỏ.
7. Áp-ra-ham bèn chạy lại bầy, bắt một con bò con ngon, giao cho
đầy tớ mau mau nấu dọn;
8. rồi lấy mỡ-sữa và sữa cùng con bò con đã nấu
xong, dọn ngay trước mặt các đấng; còn người thì đứng hầu trước mặt, dưới
cội cây. Vậy các đấng đó bèn ăn.
9. Các đấng hỏi Áp-ra-ham rằng: Sa-ra,
vợ ngươi, ở đâu? Ðáp rằng: Kìa, nàng ở trong trại kia.
10. Một đấng nói
rằng: Trong độ một năm nữa, ta sẽ trở lại đây với ngươi không sai, và
chừng đó, Sa-ra, vợ ngươi, sẽ có một con trai. Sa-ra ở nơi cửa trại sau
lưng đấng đó, nghe các lời nầy.
11. Vả, Áp-ra-ham cùng Sa-ra đã già,
tuổi tác đã cao; Sa-ra không còn chi nữa như thế thường người đờn
bà.
12. Sa-ra cười thầm mà rằng: Già như tôi thế nầy, dễ còn được điều
vui đó sao? Còn chúa tôi cũng đã già rồi!
13. Ðức Giê-hô-va phán hỏi
Áp-ra-ham rằng: Cớ sao Sa-ra cười như vậy mà rằng: Có quả thật rằng tôi
già đến thế nầy lại còn sanh sản chăng?
14. Há điều chi Ðức Giê-hô-va
làm không được chăng? Ðến kỳ đã định, trong một năm nữa, ta sẽ trở lại
cùng ngươi, và Sa-ra sẽ có một con trai.
15. Vì Sa-ra sợ, nên chối mà
thưa rằng: Tôi có cười đâu! Nhưng Ngài phán rằng: Thật ngươi có cười
đó!
16. Các đấng đều đứng dậy mà đi, ngó về phía, Sô-đôm. Áp-ra-ham
cũng theo để tiễn bước các đấng.
17. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Lẽ nào ta
giấu Áp-ra-ham điều chi ta sẽ làm sao?
18. vì Áp-ra-ham chắc sẽ được
trở nên một dân lớn và cường thạnh; các dân tộc trên thế gian đều sẽ nhờ
người mà được phước.
19. Ta đã chọn người đặng người khiến dạy các con
cùng nội nhà người giữ theo đạo Ðức Giê-hô-va, làm các điều công bình và
ngay thẳng; thế thì, Ðức Giê-hô-va sẽ làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã hứa
cùng Áp-ra-ham.
20. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Tiếng kêu oan về Sô-đôm và
Gô-mô-rơ thật là quá, tội lỗi các thành đó thật là trọng.
21. Ta muốn
ngự xuống, để xem xét chúng nó ăn ở có thật như tiếng đã kêu thấu đến ta
chăng; nếu chẳng thật, thì ta sẽ biết.
22. Vậy, thì đấng bèn từ đó đi
qua hướng Sô-đôm; nhưng Áp-ra-ham hãy còn đứng chầu trước mặt Ðức
Giê-hô-va.
23. Áp-ra-ham lại gần và thưa rằng: Chúa sẽ diệt người công
bình luôn với người độc ác sao?
24. Ngộ trong thành có năm mươi người
công bình, Chúa cũng sẽ diệt họ hết sao? Há chẳng tha thứ cho thành đó vì
cớ năm mươi người công bình ở trong sao?
25. Không lẽ nào Chúa làm điều
như vậy, diệt người công bình luôn với kẻ độc ác; đến đỗi kể người công
bình cũng như người độc ác. Không, Chúa chẳng làm điều như vậy bao giờ!
Ðấng đoán xét toàn thế gian, há lại không làm sự công bình sao?
26. Ðức
Giê-hô-va phán rằng: Nếu ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công
bình, vì tình thương bấy nhiêu người đó ta sẽ tha hết cả thành.
27.
Áp-ra-ham lại thưa rằng: mặc dầu tôi đây vốn là tro bụi, song tôi cũng dám
cả gan thưa lại cùng Chúa.
28. Hãy trong năm mươi người công bình rủi
thiếu hết năm; vì cớ năm người thiếu Chúa sẽ diệt hết cả thành chăng? Ngài
trả lời rằng: Nếu ta tìm được có bốn mươi lăm người, ta chẳng diệt thành
đâu.
29. Áp-ra-ham cứ thưa rằng: Ngộ trong thành chỉ có bốn mươi người
công bình, thì sẽ ra sao? Ngài phán rằng: Ta sẽ chẳng diệt đâu, vì tình
thương bốn mươi nầy.
30. Áp-ra-ham cứ tiếp: Tôi xin Chúa đừng giận, thì
tôi sẽ thưa: Ngộ trong đó chỉ có ba mươi người, thì sẽ ra sao? Ngài phán:
Nếu ta tìm trong đó có ba mươi người, thì ta chẳng diệt đâu.
31.
Áp-ra-ham thưa rằng: Tôi đây cũng cả gan thưa cùng Chúa: Nếu chỉ có hai
mươi người, thì lại làm sao? Ngài rằng: Vì tình thương hai mươi người đó,
ta sẽ chẳng diệt thành đâu.
32. Áp-ra-ham lại thưa: Xin Chúa đừng giận,
để cho tôi thưa chỉ một lần nầy nữa: Ngộ chỉ có mười người, thì nghĩ làm
sao? Ngài phán rằng: Ta cũng sẽ chẳng diệt thành đâu, vì tình thương mười
người đó.
33. Khi Ðức Giê-hô-va phán xong cùng Áp-ra-ham, thì Ngài ngự
đi; còn Áp-ra-ham trở về trại mình.
Sáng-thế Ký 19 chọn
đoạn khác
1.
Lối chiều, hai thiên sứ đến Sô-đôm; lúc đó, Lót đương ngồi tại cửa thành.
Khi Lót thấy hai thiên sứ đến, đứng dậy mà đón rước và sấp mình xuống
đất.
2. Người thưa rằng: Nầy, lạy hai chúa, xin hãy đến ở nhà của kẻ
tôi tớ, và hãy nghỉ đêm tại đó. Hai chúa hãy rửa chơn, rồi sáng mai thức
dậy lên đường. Hai thiên sứ phán rằng: Không, đêm nầy ta sẽ ở ngoài
đường.
3. Nhưng Lót cố mời cho đến đỗi hai thiên sứ phải đi lại vào nhà
mình. Người dâng một bữa tiệc, làm bánh không men, và hai thiên sứ bèn
dùng tiệc.
4. Hai thiên sứ chưa đi nằm, mà các người nam ở Sô-đôm, từ
trẻ đến già, tức cả dân, đều chạy đến bao chung quanh nhà.
5. Bọn đó
gọi Lót mà hỏi rằng: Những khác đã vào nhà ngươi buổi chiều tối nay ở đâu?
Hãy dẫn họ ra đây, hầu cho chúng ta được biết.
6. Lót bèn ra đến cùng
dân chúng ở ngoài cửa, rồi đóng cửa lại,
7. và nói cùng họ rằng: Nầy,
tôi xin anh em đừng làm điều ác đó!
8. Ðây, tôi sẵn có hai con gái chưa
chồng, tôi sẽ đưa chúng nó cho anh em, rồi mặc tình anh em tính làm sao
tùy ý; miễn đừng làm cho hại cho hai người kia; vì cớ đó, nên họ đến núp
bóng mái nhà tôi.
9. Bọn dân chúng nói rằng: Ngươi hãy tránh chỗ khác!
Lại tiếp rằng: Người nầy đến đây như kẻ kiều ngụ, lại muốn đoán xét nữa
sao! Vậy, thôi! chúng ta sẽ đãi ngươi bạc-tệ hơn hai khách kia. Ðoạn, họ
lấn ép Lót mạnh quá, và tràn đến đặng phá cửa.
10. Nhưng hai thiên sứ
giơ tay ra, đem Lót vào nhà, và đóng cửa lại,
11. đoạn, hành phạt bọn
dân chúng ở ngoài cửa, từ trẻ đến già, đều quáng lòa mắt, cho đến đỗi tìm
cửa mệt mà không được.
12. Hai thiên sứ bèn hỏi Lót rằng: Ngươi còn có
ai tại đây nữa chăng? Rể, con trai, con gái và ai trong thành thuộc về
ngươi, hãy đem ra khỏi hết đi!
13. Chúng ta sẽ hủy diệt chỗ nầy, vì
tiếng kêu oan về dân thành nầy đã thấu lên đến Ðức Giê-hô-va, nên Ngài sai
chúng ta xuống mà hủy diệt.
14. Lót bèn đi ra và nói cùng rể đã cưới
con gái mình rằng: Hãy chổi dậy, đi ra khỏi chốn nầy, vì Ðức Giê-hô-va sẽ
hủy diệt thành. Nhưng các chàng rể tưởng người nói chơi.
15. Ðến sáng,
hai thiên sứ hối Lót và phán rằng: Hãy thức dậy, dẫn vợ và hai con gái
ngươi đương ở đây ra, e khi ngươi cũng chết lây về việc hình phạt của
thành nữa chăng.
16. Nhưng Lót lần lữa; vì cớ Ðức Giê-hô-va thương xót
Lót, nên hai thiên sứ nắm lấy tai kéo người, vợ cùng hai con gái người, và
dẫn ra khỏi thành.
17. Vả, khi hai thiên sứ dẫn họ ra khỏi rồi, một
trong hai vì nói rằng: Hãy chạy trốn cứu lấy mạng, đừng ngó lại sau và
cũng đừng dừng bước lại nơi nào ngoài đồng bằng; hãy chạy trốn lên núi,
kẻo phải bỏ mình chăng.
18. Lót đáp lại rằng: Lạy Chúa, không
được!
19. Nầy, tôi tớ đã được ơn trước mặt Chúa; Chúa đã tỏ lòng nhơn
từ rất lớn cùng tôi mà cứu tròn sự sống tôi. Nhưng tôi chạy trốn lên núi
không kịp trước khi tai nạn đến, thì tôi phải chết.
20. Kìa, thành kia
đã nhỏ, lại cũng gần đặng tôi có thế ẩn mình. Ôi! chớ chi Chúa cho tôi ẩn
đó đặng cứu tròn sự sống tôi. Thành nầy há chẳng phải nhỏ sao?
21.
Thiên sứ phán rằng: Ðây, ta ban ơn nầy cho ngươi nữa, sẽ không hủy diệt
thành của ngươi đã nói đó đâu.
22. Mau mau hãy lại ẩn đó, vì ta không
làm chi được khi ngươi chưa vào đến nơi. Bởi cớ ấy, nên người ta gọi tên
thành nầy là Xoa.
23. Khi mặt trời mọc lên khỏi đất, thì Lót vào đến
thành Xoa.
24. Ðoạn, Ðức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi
Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ,
25. hủy diệt hai thành nầy,
cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.
26. Nhưng
vợ của Lót quay ngó lại đặng sau mình, nên hóa ra một tượng muối.
27.
Áp-ra-ham dậy sớm, đi đến nơi mà người đã đứng chầu Ðức Giê-hô-va,
28.
ngó về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, cùng khắp xứ ở đồng bằng, thì thấy từ
dưới đất bay lên một luồng khói, như khói của một lò lửa lớn.
29. Vả,
khi Ðức Chúa Trời hủy diệt các thành nơi đồng bằng, tức là thành Lót ở,
thì nhớ đến Áp-ra-ham, cứu Lót ra khỏi chốn phá tan đó.
30. Lót ở Xoa
thì sợ hãi, nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang
đá kia.
31. Cô lớn nói cùng em mình rằng: Cha ta đã già, mà không còn
ai trên mặt đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên
hạ.
32. Hè! chúng ta hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để
lưu truyền dòng giống cha lại.
33. Ðêm đó, hai nàng phục rượu cho cha
mình; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm,
lúc nào nàng dậy hết.
34. Qua ngày mai, chị nói cùng em rằng: Nầy, đêm
hôm qua ta đã nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha
nữa, rồi em hãy lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha
lại.
35. Ðêm đó, hai nàng lại phục rượu cho cha mình nữa, rồi nàng nhỏ
thức dậy lại nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào
nàng dậy hết.
36. Vậy, hai con gái của Lót do nơi cha mình mà thọ
thai.
37. Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ
phụ của dân Mô-áp đến bây giờ.
38. Người em cũng sanh đặng một con
trai, đặt trên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây
giờ.
Sáng-thế Ký 20
chọn đoạn khác
1. Áp-ra-ham từ đó đi đến miền Nam, kiều
ngụ tại Ghê-ra, ở về giữa khoảng Ca-đe và Su-rơ.
2. Áp-ra-ham nói về
Sa-ra, vợ mình rằng: Nó là em gái tôi. A-bi-mê-léc, vua Ghê-ra sai người
bắt Sa-ra.
3. Nhưng trong cơn chiêm bao ban đêm, Ðức Chúa Trời hiện đến
cùng vua A-bi-mê-léc mà phán rằng: Nầy, ngươi sẽ chết bởi cớ người đờn bà
mà ngươi đã bắt đến; vì nàng có chồng rồi.
4. Vả, vua A-bi-mê-léc chưa
đến gần người đó, nên thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa há sẽ hủy diệt cả một dân
công bình chăng?
5. Người đó há chẳng nói với tôi rằng: ấy là em gái
tôi chăng? và chánh người nữ há chẳng nói rằng: ấy là anh tôi sao? Tôi làm
sự nầy bởi lòng ngay thẳng và tay thanh khiết của tôi.
6. Trong cơn
chiêm bao, Ðức Chúa Trời phán nữa rằng: Ta cũng biết ngươi vì lòng ngay
thẳng mà làm điều đó; bởi cớ ấy, ta mới ngăn trở ngươi phạm tội cùng ta,
và không cho động đến người đó.
7. Bây giờ, hãy giao đờn bà đó lại cho
chồng nó, vì chồng nó là một đấng tiên tri, sẽ cầu nguyện cho ngươi, thì
ngươi mới được sống. Còn như không giao lại, thì phải biết rằng ngươi và
hết thảy ai thuộc về ngươi quả hẳn sẽ chết.
8. Vua A-bi-mê-léc dậy sớm,
đòi các tôi tớ mình đến, thuật lại hết mọi lời, thì họ lấy làm kinh
ngạc.
9. Rồi, A-bi-mê-léc đòi Áp-ra-ham mà nói rằng: Ngươi đã làm gì
cho ta vậy? Ta có làm điều chi mất lòng chăng mà ngươi làm cho ta và cả
nước phải bị một việc phạm tội lớn dường nầy? Ðối cùng ta, ngươi đã làm
những việc không nên làm đó.
10. Vua A-bi-mê-léc lại nói cùng Áp-ra-ham
rằng: Ngươi có ý gì mà làm như vậy?
11. Áp-ra-ham đáp: Tôi tự nghĩ
rằng: Trong xứ nầy thật không có ai kính sợ Ðức Chúa Trời, thì họ sẽ vì cớ
vợ tôi mà giết tôi chăng.
12. Nhưng nó cũng thật là em gái tôi, em một
cha khác mẹ; và tôi cưới nó làm vợ.
13. Khi Ðức Chúa Trời làm cho tôi
phải lưu lạc xa nhà cha, thì tôi có nói với nàng rằng: Nầy là ơn của ngươi
sẽ làm cho ta: Hễ chỗ nào chúng ta sẽ đi đến, hãy nói về ta: Ấy là anh
tôi.
14. Ðoạn, vua A-bi-mê-léc đem chiên và bò, tôi trai cùng tớ gái
cho Áp-ra-ham, và trả Sa-ra vợ người lại, mà phán rằng:
15. Nầy, xứ ta
sẵn dành cho ngươi; ngươi thích đâu thì ở đó.
16. Rồi vua phán cùng
Sa-ra rằng: Ðây, ta ban cho anh ngươi một ngàn miếng bạc; số tiền đó dùng
cho ngươi như một bức màn che trước mắt về mọi việc đã xảy ra cùng ngươi;
và mọi người đều sẽ cho ngươi là công bình.
17. Áp-ra-ham cầu xin Ðức
Chúa Trời, thì Ngài chữa bịnh cho vua A-bi-mê-léc, vợ cùng các con đòi
người; vậy, họ đều có con.
18. Vả, lúc trước, vì vụ Sa-ra, vợ
Áp-ra-ham, nên Ðức Giê-hô-va làm cho cả nhà A-bi-mê-léc đều son
sẻ.
Sáng-thế Ký 21
chọn đoạn khác
1. Ðức Giê-hô-va đến viếng Sa-ra, theo như
lời Ngài đã phán, và làm cho nàng như lời Ngài đã nói.
2. Sa-ra thọ
thai, sanh một con trai cho Áp-ra-ham trong khi tuổi đã già, đúng kỳ Ðức
Chúa Trời đã định.
3. Áp-ra-ham đặt tên đứa trai mà Sa-ra đã sanh cho
mình là Y-sác.
4. Ðúng tám ngày, Áp-ra-ham làm phép cắt bì cho Y-sác
theo như lời Ðức Chúa Trời đã phán dặn.
5. Vả, khi Y-sác ra đời, thì
Áp-ra-ham đã được một trăm tuổi.
6. Sa-ra nói rằng: Ðức Chúa Trời làm
cho tôi một việc vui cười; hết thảy ai hay được cũng sẽ vui cười về sự của
tôi.
7. Lại nói rằng: Há ai dám nói với Áp-ra-ham rằng Sa-ra sẽ cho con
bú ư? vì tôi đã sanh một đứa trai trong lúc người già yếu rồi.
8. Ðứa
trẻ lớn lên, thì thôi bú. Chánh ngày Y-sác thôi bú, Áp-ra-ham bày một tiệc
lớn ăn mừng.
9. Sa-ra thấy đứa trai của A-ga, người Ê-díp-tô, đã sanh
cho Áp-ra-ham, cười cợt,
10. thì người nói với Áp-ra-ham rằng: Hãy đuổi
con đòi với con nó đi đi, vì đứa trai của con đòi nầy sẽ chẳng được kế
nghiệp cùng con trai tôi là Y-sác đâu.
11. Lời nầy lấy làm buồn lòng
Áp-ra-ham lắm, vì cớ con trai mình.
12. Nhưng Ðức Chúa Trời phán cùng
Áp-ra-ham rằng: Ngươi chớ buồn bực vì con trai và con đòi ngươi. Sa-ra nói
thể nào, hãy nghe theo tiếng người nói; vì do nơi Y-sác sẽ sanh ra dòng
dõi lưu danh ngươi.
13. Ta cũng sẽ làm cho đứa trai của con đòi trở nên
một dân, vì nó cũng do một nơi ngươi mà ra.
14. Áp-ra-ham dậy sớm, lấy
bánh và một bầu nước, đưa cho A-ga; để các món đó trên vai nàng, và giao
đứa trai cho nàng, rồi đuổi đi. Nàng ra đi, đi dông dài trong đồng vắng
Bê-e-Sê-ba.
15. Khi nước trong bầu đã hết, nàng để đứa trẻ dưới một cội
cây nhỏ kia,
16. đi ngồi đối diện cách xa xa dài chừng một khoảng tên
bắn; vì nói rằng: Ôi! tôi nỡ nào thấy đứa trẻ phải chết! Nàng ngồi đối
diện đó, cất tiếng la khóc.
17. Ðức Chúa Trời nghe tiếng đứa trẻ khóc,
thì thiên sứ của Ðức Chúa Trời từ trên trời kêu nàng A-ga mà phán rằng:
Hỡi A-ga! Ngươi có điều gì vậy? Chớ sợ chi, vì Ðức Chúa Trời đã nghe tiếng
đứa trẻ ở đâu đó rồi.
18. Hãy đứng dậy đỡ lấy đứa trẻ và giơ tay nắm
nó, vì ta sẽ làm cho nó nên một dân lớn.
19. Ðoạn, Ðức Chúa Trời mở mắt
nàng ra; nàng bèn thấy một cái giếng nước, và đi lại múc đầy bầu cho đứa
trẻ uống.
20. Ðức Chúa Trời vùa giúp đứa trẻ; nó lớn lên, ở trong đồng
vắng, có tài bắn cung.
21. Nó ở tại trong đồng vắng Pha-ran; mẹ cưới
cho nó một người vợ quê ở xứ Ê-díp-tô.
22. Về thuở đó, vua A-bi-mê-léc
và Phi-côn, quan tổng binh mình, nói cùng Áp-ra-ham rằng: Ðức Chúa Trời
vùa giúp ngươi trong mọi việc ngươi làm.
23. Vậy bây giờ, hãy chỉ danh
Ðức Chúa Trời mà thề rằng: Ngươi sẽ chẳng gạt ta, con ta cùng dòng giống
ta. Nhưng ngươi sẽ đãi ta và xứ ngươi đương trú ngụ, một lòng tử tế như ta
đã đãi ngươi vậy.
24. Áp-ra-ham đáp rằng: Tôi xin thề.
25. Áp-ra-ham
phàn nàn cùng vua A-bi-mê-léc về vụ một giếng kia bị đầy tớ người chiếm
đoạt.
26. Vua A-bi-mê-léc bèn nói rằng: Ta chẳng hay ai đã làm nên nông
nỗi đó; chính ngươi chẳng cho ta hay trước; ngày nay ta mới rõ đây mà
thôi.
27. Ðoạn, Áp-ra-ham bắt chiên và bò, dâng cho vua A-bi-mê-léc;
rồi hai người kết ước cùng nhau.
28. Áp-ra-ham lựa để riêng ra bảy con
chiên tơ trong bầy;
29. thì vua A-bi-mê-léc hỏi rằng: Làm chi để bảy
con chiên tơ đó riêng ra vậy?
30. Ðáp rằng: Xin vua hãy nhận lấy bảy
con chiên tơ nầy mà chánh tay tôi dâng cho, đặng làm chứng rằng tôi đã đào
cái giếng nầy.
31. Bởi cớ ấy, nên họ đặt tên chỗ nầy là Bê-e-Sê-ba; vì
tại đó hai người đều đã thề nguyện cùng nhau.
32. Vậy, hai người kết
ước cùng nhau tại Bê-e-Sê-ba. Ðoạn vua A-bi-mê-léc cùng quan tổng binh
Phi-côn đứng dậy, trở về xứ Phi-li-tin.
33. Áp-ra-ham trồng một cây me
tại Bê-e-Sê-ba, và ở đó người cầu khẩn danh Ðức Giê-hô-va, là Ðức Chúa
Trời hằng-hữu.
34. Áp-ra-ham trú ngụ lâu ngày tại xứ
Phi-li-tin.
Sáng-thế Ký
22 chọn đoạn khác
1. Khi mọi việc kia đã xong, thì Ðức
Chúa Trời thử Áp-ra-ham; Ngài phán rằng: Hỡi Áp-ra-ham! Người thưa rằng:
Có tôi đây.
2. Ðức Chúa Trời phán rằng: Hãy bắt đứa con một ngươi yêu
dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu
ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho.
3. Áp-ra-ham dậy sớm, thắng
lừa, đem hai đầy tớ và con mình, là Y-sác, cùng đi; người cũng chặt củi để
dùng về của lễ thiêu, rồi đi đến nơi mà Ðức Chúa Trời đã truyền dạy.
4.
Qua đến ngày thứ ba, Áp-ra-ham nhướng mắt lên thấy nơi đó ở lối đằng
xa,
5. thì nói cùng hai kẻ đầy tớ rằng: Hãy ở lại đây với con lừa; ta
cùng đứa trẻ sẽ đi đến chốn kia đặng thờ phượng, rồi sẽ trở lại với hai
ngươi.
6. Áp-ra-ham lấy củi về của lễ thiêu, chất trên Y-sác, con mình;
rồi người cầm lửa và dao trong tay, và cả hai cha con đồng đi.
7. Y-sác
bèn nói cùng Áp-ra-ham, cha mình rằng: Hỡi Cha! Người đáp: Con ơi! cha
đây. Y-sác nói: Củi đây, lửa đây, nhưng chiên con đâu có đặng làm của lễ
thiêu?
8. Áp-ra-ham rằng: Con ơi! chính Ðức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy
chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu; rồi cả hai cha con cứ đồng đi.
9.
Họ đến chốn Ðức Chúa Trời đã phán dạy; tại đó, Áp-ra-ham lập bàn thờ, chất
củi lên, trói Y-sác con mình lại, để lên đống củi trên bàn thờ.
10.
Áp-ra-ham bèn giơ tay ra cầm lấy giao đặng giết con mình.
11. Thiên sứ
của Ðức Giê-hô-va từ trên trời kêu xuống mà rằng: Hỡi Áp-ra-ham,
Áp-ra-ham! Người thưa rằng: Có tôi đây.
12. Thiên sứ phán rằng: Ðừng
tra tay vào mình con trẻ và chớ làm chi hại đến nó; vì bây giờ ta biết
rằng ngươi thật kính sợ Ðức Chúa Trời, bởi cớ không tiếc với ta con ngươi,
tức con một ngươi.
13. Áp-ra-ham nhướng mắt lên, xem thấy sau lưng một
con chiên đực, sừng mắc trong bụi cây, bèn bắt con chiên đực đó dâng làm
của lễ thiêu thay cho con mình.
14. Áp-ra-ham gọi chỗ đó là Giê-hô-va
Di-rê. Bởi cớ ấy, ngày nay có tục ngữ rằng: Trên núi của Ðức Giê-hô-va sẽ
có sắm sẵn.
15. Thiên sứ của Ðức Giê-hô-va từ trên trời kêu Áp-ra-ham
lần thứ nhì mà rằng:
16. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Vì ngươi đã làm điều
đó, không tiếc con ngươi, tức con một ngươi, thì ta lấy chánh mình ta mà
thề rằng:
17. sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao
trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành
quân nghịch.
18. Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế
gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước.
19. Ðoạn Áp-ra-ham trở về
nơi hai người đầy tớ; họ đứng dậy, đồng nhau đi về Bê-e-Sê-ba. Áp-ra-ham
cứ ở tại Bê-e-Sê-ba.
20. Sau các việc đó, người ta thuật lại với
Áp-ra-ham tin nầy rằng: Nầy, nàng Minh-ca cũng sanh con cho em ngươi, là
Na-cô.
21. Con trưởng nam là Út-xơ, em trai là Bu-xơ, Kê-mu-ên, cha của
A-ram;
22. Kê-sết, Ha-xô, Phin-đát, Dít-láp và Bê-tu-ên;
23.
Bê-tu-ên là người sanh Rê-be-ca. Minh-ca sanh tám người con trai đó cho
Na-cô, em của Áp-ra-ham.
24. Còn người vợ nhỏ, tên là Rê-u-ma, cũng
sanh con, là Tê-ba, Ga-ham, Ta-hách và Ma-a-ca.
Sáng-thế Ký 23 chọn
đoạn khác
1.
Sa-ra hưởng thọ được một trăm hai mươi bảy tuổi. Ấy là bao nhiêu năm của
đời Sa-ra.
2. Sa-ra qua đời tại Ki-ri-át-A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, thuộc
về xứ Ca-na-an. Áp-ra-ham đến chịu tang cho Sa-ra và than khóc
người.
3. Ðoạn, Áp-ra-ham đứng dậy trước người chết mình và nói cùng
dân họ Hếch rằng:
4. Ta là một khách kiều ngụ trong vòng các ngươi; xin
hãy cho một nơi mộ địa trong xứ các ngươi, để chôn người thác của
ta.
5. Dân họ Hếch đáp rằng:
6. Lạy chúa, xin hãy nghe chúng tôi:
giữa chúng tôi, chúa tức là một quân trưởng của Ðức Chúa Trời; hãy chôn
người chết của chúa nơi mộ địa nào tốt hơn hết của chúng tôi. Trong bọn
chúng tôi chẳng có ai tiếc mộ địa mình, đặng chôn người chết của chúa
đâu.
7. Áp-ra-ham bèn đứng dậy, sấp mình xuống trước mặt các dân của
xứ, tức dân họ Hếch,
8. mà nói rằng: Nếu các ngươi bằng lòng cho chôn
người chết ta, thì hãy nghe lời, và cầu xin Ép-rôn, con của Xô-ha giùm
ta,
9. đặng người nhượng cho ta hang đá Mặc-bê-la, ở về tận đầu đồng
người, để lại cho đúng giá, hầu cho ta được trong vòng các ngươi một nơi
mộ địa.
10. Vả, Ép-rôn, người Hê-tít, đương ngồi trong bọn dân họ Hếch,
đáp lại cùng Áp-ra-ham trước mặt dân họ Hếch vẫn nghe và trước mặt mọi
người đến nơi cửa thành, mà rằng:
11. Không, thưa chúa, hãy nghe lời
tôi: Hiện trước mặt dân tôi, tôi xin dâng cho chúa cánh đồng, và cũng dâng
luôn cái hang đá ở trong đó nữa; hãy chôn người chết của chúa đi.
12.
Áp-ra-ham sấp mình xuống trước mặt dân của xứ,
13. và nói lại cùng
Ép-rôn hiện trước mặt dân của xứ đương nghe, mà rằng: Xin hãy nghe, ta trả
giá tiền cái đồng, hãy nhận lấy đi, thì ta mới chôn người chết ta,
14.
Ép-rôn đáp rằng:
15. Thưa chúa, hãy nghe lời tôi: một miếng đất giá
đáng bốn trăm siếc-lơ bạc, mà tôi cùng chúa, thì có giá chi đâu? Xin hãy
chôn người chết của chúa đi.
16. Áp-ra-ham nghe theo lời Ép-rôn, trước
mặt dân họ Hếch cân bốn trăm siếc-lơ bạc cho người, là bạc thông dụng nơi
các tay buôn bán.
17. Vậy, cái đồng của Ép-rôn, tại Mặc-bê-la, nằm
ngang Mam-rê, nghĩa là cái đồng ruộng hang đá, các cây cối ở trong và
chung quanh theo giới hạn đồng,
18. đều trước mặt có các dân họ Hếch
cùng mọi người đến cửa thành, nhận chắc cho Áp-ra-ham làm sản
nghiệp.
19. Sau các việc đó, Áp-ra-ham chôn Sa-ra, vợ mình, trong hang
đá của đồng Mặc-bê-la, nằm ngang MNam-rê tại Hếp-rôn, thuộc về xứ
Ca-na-an.
20. Ðồng và hang đá đều có các người họ Hếch nhận chắc, để
lại cho Áp-ra-ham dùng làm mộ địa.
Sáng-thế Ký 24 chọn
đoạn khác
1. Vả, Áp-ra-ham
đã già, tuổi đã cao; trong mọi việc Ðức Giê-hô-va đã ban phước cho
người.
2. Áp-ra-ham nói cùng người đầy tớ ở lâu hơn hết trong nhà mình,
có quyền quản trị các gia tài, mà rằng: Xin hãy đặt tay lên đùi ta,
3.
và ta sẽ biểu ngươi chỉ Ðức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của trời và đất,
mà thề rằng: ngươi không cưới một cô nào trong bọn con gái của dân
Ca-na-an, tức giữa dân ấy ta trú ngụ, làm vợ cho con trai ta.
4. Nhưng
hãy đi về quê hương ta, trong vòng bà con ta, cưới một người vợ cho Y-sác,
con trai ta.
5. Người đầy tớ thưa rằng: Có lẽ người con gái không khứng
theo tôi về xứ nầy; vậy, có phải tôi dẫn con trai ông đến xứ mà ông đã ra
đi khỏi chăng?
6. Áp-ra-ham nói rằng: Hãy cẩn thận, đừng dẫn con ta về
xứ đó!
7. Giê-hô-va Ðức Chúa Trời trên trời, là Ðấng đã đem ta ra khỏi
nhà cha ta và xứ sở ta, có phán và thề rằng: Ta sẽ cho dòng dõi ngươi xứ
nầy! Chánh Ngài sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi, và nơi đó ngươi hãy cưới
một vợ cho con trai ta.
8. Nếu người con gái không khứng theo, thì
ngươi sẽ khỏi mắc lời của ta biểu ngươi thề; mà dẫu thế nào đi nữa, chớ
đem con ta về chốn đó.
9. Ðoạn, người đầy tớ để tay lên đùi Áp-ra-ham
chủ mình, và thề sẽ làm theo như lời người đã dặn biểu.
10. Ðoạn, người
đầy tớ bắt mười con lạc đà trong bầy của chủ mình, đem theo đủ các tài vật
của chủ đã giao, rồi đứng dậy đi qua xứ Mê-sô-bô-ta-mi, đến thành của
Na-cô.
11. Người cho lạc đà nằm quì gối xuống nghỉ ở ngoài thành, gần
bên một giếng kia, vào buổi chiều, đến giờ của những con gái ra đi xách
nước.
12. Người nói rằng: Hỡi Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của chủ
Áp-ra-ham tôi ơi! xin ngày nay cho tôi gặp điều mà tôi tìm kiếm, và hãy
làm ơn cho chủ Áp-ra-ham tôi!
13. Nầy, tôi đứng gần bên giếng nầy, các
con gái của dân trong thành sẽ ra đi xách nước,
14. xin cho người gái
trẻ nào mà tôi nói như vầy: "Xin nàng hãy nghiêng bình, cho tôi uống nhờ
hớp nước," mà nàng trả lời rằng: "Hãy uống đi, rồi tôi sẽ cho các lạc đà
ngươi uống nữa," là chánh người mà Chúa đã định cho Y-sác, kẻ tôi tớ
người; và nhờ đó tôi sẽ biết rằng Chúa đã làm ơn cho chủ tôi vậy.
15.
Người đầy tớ chưa dứt lời, nầy, nàng Rê-be-ca vác bình trên vai đi ra.
Nàng là con gái của Bê-tu-ên, Bê-tu-ên là con trai của Minh-ca, vợ Na-cô,
em trai của Áp-ra-ham.
16. Người gái trẻ đó thật rất đẹp, còn đồng
trinh, chưa gả cho ai. Nàng xuống giếng nhận đầy bình nước, rồi trở
lên.
17. Ðầy tớ bèn chạy lại trước mặt nàng và nói rằng: Xin hãy cho
tôi uống một hớp nước trong bình.
18. Nàng đáp rằng: Thưa chúa, hãy
uống đi; rồi nàng lật đật đỡ bình xuống tay và cho người uống.
19. Khi
đỡ cho người uống xong rồi, nàng lại tiếp rằng: Tôi cũng sẽ xách cho mấy
con lạc đà chúa uống nữa, chừng nào uống đã thì thôi.
20. Nàng lật đật
đổ nước bình ra máng, chạy xuống giếng xách nước thêm nữa cho hết thảy các
con lạc đà uống.
21. Còn người ngồi làm thinh mà nhìn nàng, để cho biết
Ðức Giê-hô-va làm thành công việc mình đi đây hay chăng.
22. Khi lạc đà
vừa thôi uống, người đầy tớ bèn lấy một khoanh vàng nặng được nửa siếc-lơ
và đôi xuyến nặng được mười siếc-lơ,
23. mà nói rằng: Nàng là con ai?
xin nói cho tôi biết. Trong nhà cha nàng có chỗ nào cho tôi ở nghỉ ban đêm
chăng?
24. Nàng đáp rằng: Tôi là con gái của Bê-tu-ên, cháu nội của
Minh-ca và Na-cô.
25. Rồi lại nói: Nhà chúng tôi có nhiều rơm và cỏ, và
cũng có chỗ để cho ở nghỉ nữa.
26. Người bèn cúi đầu và sấp mình xuống
trước mặt Ðức Giê-hô-va,
27. mà nói rằng: Ðáng ngợi khen thay
Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời của chủ Áp-ra-ham tôi! Ngài chẳng ngớt thương
xót và thành thực đối cùng chủ tôi! Khi đương đi, Ðức Giê-hô-va dẫn dắt
tôi đến nhà anh em của chủ tôi vậy.
28. Người gái trẻ đó chạy về, thuật
chuyện nầy lại cho nội nhà mẹ mình.
29. Vả, nàng Rê-be-ca có một anh,
tên là La-ban. La-ban chạy đến người đầy tớ đó ở gần bên giếng.
30. Vừa
thấy khoanh vàng và đôi xuyến nơi tay em gái mình, và đã nghe chuyện
Rê-be-ca thuật lại rằng: Người nầy nói vậy! thì đi đến người, đương đứng
gần bên mấy con lạc đà, ở nơi giếng nước,
31. mà thưa rằng: Hởi người
đã được Ðức Giê-hô-va ban phước! Xin mời vào. Sao đứng ngoài nầy vậy? Tôi
đã sửa soạn nhà và dọn-dẹp một nơi cho mấy con lạc đà rồi.
32. Người
đầy tớ bèn vào nhà; La-ban cổi yên cho lạc đà, đem cỏ cùng rơm cho các thú
đó; rồi lấy nước đặng rửa chơn cho người đầy tớ và mấy kẻ đi theo.
33.
Ðoạn, người nhà bày bữa và mời ăn; nhưng người đầy tớ nói: Không, tôi
không ăn đâu, nếu chưa nói được những điều tôi cần phải nói. La-ban đáp
rằng: Hãy nói đi!
34. Người bèn nói rằng: Tôi là đầy tớ của
Áp-ra-ham.
35. Ðức Giê-hô-va đã ban phước cho chủ tôi bội phần, trở nên
thạnh vượng; Ngài cho chủ tôi chiên, bò, bạc, vàng, tôi trai tớ gái, lạc
đà và lừa.
36. Vả, Sa-ra, vợ chủ tôi, trở về già, có sanh một con trai
cho người; người đã giao gia tài mình lại hết cho con trai đó.
37. Chủ
tôi lại có bắt tôi thề rằng: Ngươi chớ cưới cho con trai ta một người vợ
nào trong bọn con gái của dân Ca-na-an, là xứ ta đương trú ngụ;
38.
nhưng hãy về nhà cha ta, trong vòng bà con ta, mà cưới cho nó một người vợ
tại đó.
39. Tôi nói cùng chủ tôi rằng: Có lẽ người con gái không khứng
theo tôi về.
40. Chủ đáp rằng: Ðức Giê-hô-va là Ðấng ta phục sự sẽ sai
thiên sứ theo ngươi, làm cho thành công việc ngươi đi; và ngươi sẽ cưới
cho con trai ta một người vợ trong vòng bà con ta, tại nhà cha ta.
41.
Vậy, nếu khi ngươi đi về bà con ta, mà họ không khứng gả cho, thì ngươi sẽ
được gỡ lời thề nặng của ngươi đã thề cùng ta đó.
42. Ngày nay, khi đi
đến giếng kia, tôi có cầu rằng: Lạy Ðức Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của chủ
Áp-ra-ham tôi! Xin đoái đến mà giúp công việc của tôi đi đây cho được
thành!
43. Nầy, tôi ngồi gần bên giếng nầy: cầu xin hễ người gái trẻ
nào sẽ ra xách nước mà tôi nói cùng nàng rằng: Xin cho tôi uống một hớp
nước trong bình;
44. mà sẽ trả lời rằng: Hãy uống đi, trước tôi sẽ xách
cho các lạc đà ngươi uống nữa, xin cho người gái trẻ đó là vợ mà Ðức
Giê-hô-va đã định cho con trai của chủ tôi!
45. Chưa dứt lời thầm
nguyện, bỗng đâu nàng Rê-be-ca vác bình trên vai đi ra, xuống giếng xách
nước. Tôi nói với nàng rằng: Xin cho tôi uống hớp nước.
46. Nàng lật
đật hạ bình trên vai xuống mà nói rằng: Hãy uống đi, rồi tôi sẽ cho các
lạc đà ngươi uống nữa; vậy tôi có uống và nàng cũng có cho các lạc đà uống
nữa.
47. Tôi bèn hỏi nàng rằng: Nàng là con gái ai? Nàng đáp: Tôi là
con gái của Bê-tu-ên, cháu nội của Na-cô và Minh-ca. Tôi liền đeo cái
khoanh nơi lỗ mũi và đôi xuyến vào tay nàng.
48. Ðoạn, tôi cúi đầu và
sấp mình xuống trước mặt Ðức Giê-hô-va, ngợi khen Giê-hô-va Ðức Chúa Trời
của chủ Áp-ra-ham tôi, mà đã dẫn tôi vào đường chánh đáng, để chọn được
cho con trai người con gái của em chủ tôi.
49. Vậy, bây giờ, nếu các
ông muốn lấy lòng tử tế và trung tín đối cùng chủ tôi, xin hãy tỏ điều đó
cho, dầu không, xin cũng nói cho biết, hầu cho tôi sẽ xây về bên hữu hay
là về bên tả.
50. La-ban và Bê-tu-ên đáp rằng: Ðiều đó do nơi Ðức
Giê-hô-va mà ra, chúng tôi đâu nói được cùng ngươi rằng quấy hay rằng
phải.
51. Kìa, Rê-be-ca đương ở trước mặt ngươi, hãy dẫn nó đi, để nó
được làm vợ của con trai chủ ngươi, theo như lời Ðức Giê-hô-va phán
định.
52. Ðầy tớ của Áp-ra-ham vừa nghe lời hai người nói xong, liền
sấp mình xuống đất trước mặt Ðức Giê-hô-va.
53. Người lấy đồ trang sức
bằng bạc, vàng, và áo xống trao cho Rê-be-ca; rồi cùng lấy các vật quí
dâng cho anh và mẹ nàng.
54. Ðoạn người đầy tớ cùng các người đi theo
ngồi ăn uống; rồi ngủ tại đó. Qua ngày sau, khi họ đã thức dậy, người đầy
tớ nói rằng: Xin hãy cho tôi trở về chủ.
55. Nhưng anh và mẹ nàng rằng:
Hãy cho người gái trẻ ở lại cùng chúng tôi ít ngày nữa, độ chừng mười bữa,
rồi nó sẽ đi.
56. Ðầy tớ đáp rằng: Xin chớ cầm tôi trễ lại, vì Ðức
Giê-hô-va có làm việc đi đường tôi được thành. Hãy cho tôi đi, trở về nhà
chủ tôi.
57. Họ đáp rằng: Chúng ta hãy gọi người gái trẻ đó và hỏi ý nó
ra sao;
58. bèn kêu Rê-be-ca và nói rằng: Con muốn đi cùng người nầy
chăng? Nàng rằng: Tôi muốn đi.
59. Ðoạn, họ cho Rê-be-ca, em gái mình,
và người vú của nàng, đi về theo người đầy tớ của Áp-ra-ham và các kẻ đi
theo.
60. Họ chúc phước cho Rê-be-ca mà rằng: Hỡi em gái chúng ta! Chúc
cho em được trở nên mẹ của ức triệu người, và cho dòng dõi em được chiếm
lấy cửa thành của quân nghịch.
61. Rê-be-ca và các đòi nàng đứng dậy,
lên cỡi lạc đà, đi theo người đầy tớ đó. Vậy, người đầy tớ dẫn Rê-be-ca
đi.
62. Bấy giờ Y-sác ở tại nam phương từ giếng La-chai-Roi trở
về;
63. lối chiều, người đi ra ngoài đồng đặng suy ngẫm; nhướng mắt
lên, kìa ngó thấy lạc đà đâu đi đến.
64. Nàng Rê-be-ca cũng nhướng mắt
lên, bèn chợt thấy Y-sác; liền nhảy xuống lạc đà,
65. và hỏi đầy tớ
rằng: Người ở đằng trước mặt tôi đi lại trong đồng đó là ai: Ðầy tớ thưa
rằng: Ấy là chủ tôi đó. Nàng bèn lấy lúp che mặt lại.
66. Rồi, đầy tớ
thuật cho Y-sác nghe hết các việc mà mình đã làm;
67. Y-sác bèn dẫn
Rê-be-ca vào trại của Sa-ra, mẹ mình, cưới làm vợ, và yêu mến nàng. Vậy,
Y-sác được giải phiền sau khi mẹ mình qua đời.
Sáng-thế Ký 25 chọn
đoạn khác
1.
Áp-ra-ham cưới một người vợ khác, tên là Kê-tu-ra.
2. Người sanh cho
Áp-ra-ham Xim-ram, Giốc-chan, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác và Su-ách.
3.
Giốc-chan sanh Sê-ba và Ðê-đan; con cháu của Ðê-đan là họ A-chu-rim, họ
Lê-tu-chim và họ Lê-um-mim.
4. Con trai của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe,
Ha-nóc, A-bi-đa và Ên-đa. Các người trên đây đều là dòng dõi của
Kê-tu-ra.
5. Áp-ra-ham cho Y-sác hết thảy gia tài mình; còn cho các con
dòng thứ những tiền của;
6. rồi, khi còn sống, người sai họ qua đông
phương mà ở, cách xa con dòng chánh, là Y-sác.
7. Áp-ra-ham hưởng thọ
được một trăm bảy mươi lăm tuổi;
8. người tuổi cao tác lớn và đã thỏa
về đời mình, tắt hơi, được qui về nơi tổ tông.
9. Hai con trai người,
Y-sác và Ích-ma-ên, chôn người trong hang đá Mặc-bê-la tại nơi đồng của
Ép-rôn, con trai Sô-ha, người Hê-tít, nằm ngang Mam-rê.
10. Ấy là cái
đồng mà lúc trước Áp-ra-ham mua lại của dân họ Hếch; nơi đó họ chôn
Áp-ra-ham cùng Sa-ra, vợ người.
11. Sau khi Áp-ra-ham qua đời, Ðức
Giê-hô-va ban phước cho Y-sác con trai người. Y-sác ở gần bên cái giếng
La-chai-Roi.
12. Ðây là dòng dõi của Ích-ma-ên, con trai của Áp-ra-ham,
do nơi nàng A-ga, người Ê-díp-tô, con đòi của Sa-ra, đã sanh.
13. Và
đây là trên các con trai của Ích-ma-ên, sắp thứ tự theo ngày ra đời: Con
trưởng nam của Ích-ma-ên là Nê-ba-giốt; kế sau Kê-đa, Át-bê-ên,
Mi-bô-sam,
14. Mích-ma, Ðu-ma, Ma-sa,
15. Ha-đa, Thê-ma, Giê-thu,
Na-phích, và Kết-ma.
16. Ðó là các con trai của Ích-ma-ên và tên của họ
tùy theo làng và nơi đóng trại mà đặt. Ấy là mười hai vị công hầu trong
dân tộc của họ.
17. Ích-ma-ên hưởng thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi,
rồi tắt hơi mà qua đời, được qui về nơi tổ tông.
18. Dòng dõi người ở
trước mặt anh em mình, từ Ha-vi-la cho đến Xu-xơ, đối ngang Ê-díp-tô, chạy
qua A-si-ri.
19. Ðây là dòng dõi của Y-sác, con trai Áp-ra-ham.
Áp-ra-ham sanh Y-sác.
20. Vả, khi Y-sác được bốn mươi tuổi, thì cưới
Rê-be-ca, con gái của Bê-tu-ên và em gái của La-ban, đều là dân A-ram, ở
tại xứ Pha-đan-A-ram.
21. Y-sác khẩn cầu Ðức Giê-hô-va cho vợ mình, vì
nàng son sẻ. Ðức Giê-hô-va cảm động lời khẩn cầu đó, nên cho Rê-be-ca thọ
thai.
22. Nhưng vì thai đôi làm cho đụng nhau trong bụng, thì nàng nói
rằng: Nếu quả thật vậy, cớ sao đều nầy xảy đến làm chi? Ðoạn nàng đi hỏi
Ðức Giê-hô-va.
23. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Hai nước hiện ở trong bụng
ngươi, và hai thứ dân sẽ do lòng ngươi mà ra; dân nầy mạnh hơn dân kia, và
đứa lớn phải phục đứa nhỏ.
24. Ðến ngày nàng phải sanh nở, nầy hai đứa
sanh đôi trong bụng nàng ra.
25. Ðứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình
như một áo tơi lông; đặt tên là Ê-sau.
26. Kế em nó lại ra sau, tay nắm
lấy gót Ê-sau; nên đặt tên là Gia-cốp. Khi sanh hai đứa con nầy thì Y-sác
đã được sáu mươi tuổi.
27. Khi hai đứa trai nầy lớn lên, thì Ê-sau trở
nên một thợ săn giỏi, thường giong ruổi nơi đồng ruộng; còn Gia-cốp là
người hiền lành cứ ở lại trại.
28. Y-sác yêu Ê-sau, vì người có tánh ưa
ăn thịt rừng; nhưng Rê-be-ca lại yêu Gia-cốp.
29. Một ngày kia, Gia-cốp
đương nấu canh, Ê-sau ở ngoài đồng về lấy làm mệt mỏi lắm;
30. liền nói
cùng Gia-cốp rằng: Em hãy cho anh ăn canh gì đỏ đó với, vì anh mệt mỏi
lắm. Bởi cớ ấy, người ta gọi Ê-sau là Ê-đôm.
31. Gia-cốp đáp rằng: Nay
anh hãy bán quyền trưởng nam cho tôi đi.
32. Ê-sau đáp rằng: Nầy, anh
gần thác, quyền trưởng nam để cho anh dùng làm chi?
33. Gia-cốp đáp lại
rằng: Anh hãy thề trước đi. Người bèn thề; vậy, người bán quyền trưởng nam
cho Gia-cốp.
34. Rồi, Gia-cốp cho Ê-sau ăn bánh và canh phạn đậu; ăn
uống xong, người bèn đứng dậy đi. Vậy, Ê-sau khinh quyền trưởng nam là
thế.
Sáng-thế Ký 26
chọn đoạn khác
1. Trừ cơn đói kém thứ nhứt trong đời
Áp-ra-ham, bấy giờ tại xứ lại có một lần nữa. Y-sác bèn đi đến
A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin, tại Ghê-ra.
2. Ðức Giê-hô-va hiện đến cùng
người và phán rằng: Chớ xuống xứ Ê-díp-tô; hãy ở lại xứ mà ta sẽ chỉ
cho.
3. Hãy ngụ trong xứ nầy, ta sẽ ở cùng ngươi và ban phước cho
ngươi; vì ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi các xứ nầy và ta sẽ làm
thành lời ta đã thề cùng Áp-ra-ham, cha ngươi.
4. Ta sẽ thêm dòng dõi
ngươi nhiều như sao trên trời, sẽ cho họ các xứ nầy; hết thảy dân thế gian
đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước;
5. vì Áp-ra-ham đã vâng lời ta
và đã giữ điều ta phán dạy, lịnh, luật và lệ của ta.
6. Vậy, Y-sác ở
tại Ghê-ra.
7. Bởi nàng Rê-be-ca sắc-sảo dung nhan, nên khi dân xứ đó
hỏi thăm vợ người, thì người đáp rằng: "Ấy là em gái tôi," e khi nói: "Ấy
là vợ tôi," thì họ sẽ giết mình chăng.
8. Vả, người ngụ tại xứ đó cũng
đã lâu; một ngày kia A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin, ngó ngang qua cửa sổ,
thấy Y-sác đương giỡn chơi cùng Rê-be-ca, vợ người,
9. bèn đòi Y-sác mà
rằng: Quả thật là vợ ngươi đó; sao có nói: Ấy là em gái tôi? Y-sác đáp
rằng: Vì tôi có thầm nói: Chớ khá vì nàng mà tôi phải bỏ mình.
10.
A-bi-mê-léc hỏi: Ngươi làm chi cho chúng ta vậy? Ngộ có một người dân đến
nằm cùng vợ ngươi, ngươi làm cho chúng ta phải phạm tội!
11.
A-bi-mê-léc bèn truyền lịnh cho cả dân chúng rằng: Kẻ nào động đến người
nầy, hay là vợ người nầy, thì sẽ bị xử tử.
12. Y-sác gieo hột giống
trong xứ đó; năm ấy gặt được bội trăm phần; vì Ðức Giê-hô-va đã ban phước
cho.
13. Người nên thạnh vượng, của cải càng ngày càng thêm cho đến đỗi
người trở nên rất lớn.
14. Người có nhiều bầy chiên, bầy bò và tôi tớ
rất đông; bởi cớ ấy, dân Phi-li-tin đem lòng ganh ghẻ.
15. Mấy cái
giếng lúc trước đầy tớ của Áp-ra-ham, cha người, đã đào, bây giờ đều bị
dân Phi-li-tin lấp đất lại hết.
16. A-bi-mê-léc nói cùng Y-sác rằng:
Hãy ra khỏi nơi ta, vì ngươi thạnh vượng hơn chúng ta bội phần.
17.
Vậy, Y-sác bỏ chốn nầy đi đến đóng trại tại trũng Ghê-ra và ở đó.
18.
Y-sác bèn đào lại mấy cái giếng người ta đã đào trong đời Áp-ra-ham, cha
mình, mà bị dân Phi-li-tin lấp đất lại khi Áp-ra-ham qua đời, và đặt tên
mấy giếng đó như tên của cha mình đã đặt.
19. Các đầy tớ của Y-sác còn
đào thêm giếng nơi trũng, gặp được một giếng nước mạch.
20. Nhưng bọn
chăn chiên Ghê-ra tranh giành cùng bọn chăn chiên của Y-sác, mà rằng:
Người đó của chúng ta; nên người đặt tên giếng nầy là Ê-sét. Vì bọn chăn
chiên đó có tranh giành cùng mình.
21. Kế ấy, các đầy tớ đào một giếng
khác, thì bị tranh giành nhau nữa; người đặt tên giếng nầy là
Sít-na.
22. Ðoạn, người bỏ chỗ đó đi đào một giếng khác; về giếng nầy,
họ không tranh giành nhau, nên người đặt tên là Rê-hô-bốt, mà rằng: Bây
giờ Ðức Giê-hô-va đã để cho chúng ta được rộng rãi, và ta sẽ đặng thịnh
vượng trong xứ.
23. Y-sác ở đó đi, dời lên Bê-e-Sê-ba.
24. Ðêm đó
Ðức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Ðức Chúa Trời của
Áp-ra-ham, cha ngươi; chớ sợ chi, ta ở cùng ngươi, sẽ ban phước cho và
thêm dòng dõi ngươi, vì cớ Áp-ra-ham là tôi tớ ta.
25. Y-sác lập một
bàn thờ, cầu khẩn danh Ðức Giê-hô-va và đóng trại tại đó. Ðoạn, các đầy tớ
người đào một cái giếng tại nơi ấy.
26. Vua A-bi-mê-léc ở Ghê-ra đi đến
viếng Y-sác, có A-hu-sát, bạn mình, và Phi-côn, quan tổng binh mình, đi
theo.
27. Y-sác bèn hỏi rằng: Các người ghét tôi, đã đuổi tôi ra khỏi
nơi mình, sao còn đi đến tôi mà chi?
28. Chúng đáp rằng: Chúng tôi đã
thấy rõ ràng Ðức Giê-hô-va phù hộ người, nên nói với nhau rằng: Phải có
một lời thề giữa chúng tôi và người, để chúng ta kết giao ước với
người.
29. Hãy thề rằng: Người chẳng bao giờ làm hại chúng tôi, như
chúng tôi đã không động đến người, chỉ hậu đãi người và cho đi bình yên.
Bây giờ người được Ðức Giê-hô-va ban phước cho.
30. Y-sác bày một bữa
tiệc, các người đồng ăn uống.
31. Qua ngày sau, chúng đậy sớm, lập lời
thề với nhau. Rồi, Y-sác đưa các người đó đi về bình yên.
32. Cùng
trong ngày đó, các đầy tớ của Y-sác đến đem tin cho người hay về giếng họ
đã đào, rằng: Chúng tôi đã thấy có nước.
33. Người bèn đặt tên cái
giếng đó là Si-ba. Vì cớ đó nên tên thành ấy là Bê-e-Sê-ba cho đến ngày
nay.
34. Khi Ê-sau được bốn mươi tuổi, cưới Giu-đít, con gái của
Bê-e-ri, người Hê-tít; và Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người
Hê-tít.
35. Hai dâu đó là một sự cay đắng lòng cho Y-sác và
Rê-be-ca.
Sáng-thế Ký
27 chọn đoạn khác
1. Bởi Y-sác đã già, mắt làng chẳng
thấy được nữa, bèn gọi Ê-sau, con trưởng nam, mà rằng: Hỡi con! Ê-sau thưa
rằng: Có con đây.
2. Người bèn nói rằng: Nầy, cha đã già rồi, chẳng
biết ngày nào phải chết;
3. vậy bây giờ, cha xin con hãy lấy khí giới,
ống tên và cung con, ra đồng săn thịt rừng cho cha,
4. dọn một món ngon
tùy theo cha sở thích; rồi dâng lên cho cha ăn, đặng linh hồn cha chúc
phước cho con trước khi chết.
5. Vả, đương khi Y-sác nói cùng Ê-sau con
trai mình, thì Rê-be-ca có nghe. Ê-sau bèn ra đồng săn thịt rừng đặng đem
về cho cha.
6. Rê-be-ca nói cùng Gia-cốp, con trai mình, rằng: Nầy, mẹ
có nghe cha nói cùng Ê-sau, anh con, và dặn rằng:
7. Hãy đem thịt rừng
về cho cha, dọn một món ngon cha ăn; đặng trước khi qua đời, cha sẽ chúc
phước cho con trước mặt Ðức Giê-hô-va.
8. Vậy, con ơi! bây giờ, hãy
nghe mẹ và làm theo lời mẹ biểu:
9. Hãy ra ngoài bầy, bắt hai dê con
tốt, rồi mẹ sẽ dọn cho cha con một món ngon, tùy theo người sở
thích;
10. con sẽ đem cho cha ăn, đặng người chúc phước con trước khi
qua đời.
11. Gia-cốp thưa lại cùng mẹ rằng: Thưa mẹ, Ê-sau, anh con, có
lông, còn con lại không.
12. Có lẽ cha sẽ rờ mình chăng, coi con như kẻ
phỉnh gạt, thì con chắc lấy cho mình sự rủa sả, chớ chẳng phải sự chúc
phước đâu.
13. Mẹ đáp rằng: Con ơi! xin sự rủa sả đó để cho mẹ chịu;
hãy cứ nghe lời mẹ, ra bắt hai dê con.
14. Vậy, Gia-cốp đi bắt hai dê
con, đem lại cho mẹ, làm món ngon, tùy theo cha sở thích.
15. Ðoạn
Rê-be-ca lấy quần áo tốt nhứt của Ê-sau, con trưởng nam, sẵn để trong nhà,
mà mặc vào cho Gia-cốp, con út mình;
16. rồi người lấy da dê con bao
hai tay và cổ, vì tay và cổ Gia-cốp không có lông.
17. Rê-be-ca bèn để
món ngon và bánh của mình đã dọn vào tay con út mình.
18. Gia-cốp bưng
đến cha mình và nói rằng: Thưa cha! Y-sác đáp: Có cha đây; con là đứa nào
đó?
19. Gia-cốp thưa: Tôi là Ê-sau, con trưởng nam của cha; con đã làm
theo lời cha dặn biểu; xin cha dậy, ngồi ăn lấy thịt săn của con, đặng
linh hồn cha sẽ chúc phước cho con.
20. Y-sác hỏi rằng: Sao con đi săn
được mau thế? Thưa rằng: Ấy nhờ Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của cha xui tôi
gặp mau vậy.
21. Y-sác nói cùng Gia-cốp rằng: Hỡi con! hãy lại gần đặng
cha rờ thử xem có phải là Ê-sau, con của cha chăng?
22. Gia-cốp bèn lại
gần Y-sác; người rờ và nói rằng: Tiếng nói thì của Gia-cốp, còn hai tay
lại của Ê-sau.
23. Người chẳng nhận biết đặng vì hai tay cũng có lông
như của anh, là Ê-sau. Vậy Y-sác chúc phước cho.
24. Người lại hỏi
rằng: Ấy con thật là Ê-sau, con trai ta, phải chăng? Gia-cốp thưa: Phải,
con đây.
25. Y-sác bèn nói: Hãy dọn cho cha ăn lấy thịt săn của con,
đặng linh hồn cha chúc phước cho con. Gia-cốp dọn cho người ăn, cũng có
đem rượu cho người uống nữa.
26. Rồi Y-sác cha người nói rằng: Hỡi con!
hãy lại gần và hôn cha.
27. Gia-cốp bèn lại gần và hôn người. Y-sác
đánh mùi thơm của áo con, liền chúc phước cho, và nói rằng: Nầy, mùi hương
của con ta Khác nào mùi hương của cánh đồng mà Ðức Giê-hô-va đã ban phước
cho.
28. Cầu xin Ðức Chúa Trời cho con sương móc trên trời xuống, Ðược
màu mỡ của đất, và dư dật lúa mì cùng rượu.
29. Muôn dân phải phục con,
Các nước phải quì lạy trước mặt con! Hãy được quyền chủ các anh em, Các
con trai của mẹ con phải quì lạy trước mặt con! Ai rủa sả con sẽ bị rủa sả
lại, Ai cầu phước cho con, sẽ được ban phước lại!
30. Vừa khi Y-sác
chúc phước cho Gia-cốp xuống, và vừa khi Gia-cốp lùi ra khỏi nơi cha mình,
thì Ê-sau, anh người, đi săn trở về.
31. Người cũng dọn một món ngon,
dâng lên cho cha và thưa rằng: Xin dậy, ngồi ăn thịt săn của con trai cha,
đặng linh hồn cha chúc phước cho con.
32. Y-sác, cha người, hỏi: Con là
đứa nào? Thưa rằng: Tôi là Ê-sau, con trưởng nam của cha.
33. Y-sác lấy
làm cảm động qua đỗi mà nói rằng: Vậy, còn đứa nào đã săn thịt rừng, và đã
dâng lên cho cha đó? Trước khi con về, cha đã ăn hết rồi, và chúc phước
cho nó; nó lại sẽ được ban phước vậy.
34. Vừa nghe dứt lời cha, thì
Ê-sau la lên một tiếng rất lớn, và rất thảm thiết mà thưa cùng cha rằng:
Cha ơi! xin hãy chúc phước cho con luôn nữa!
35. Nhưng Y-sác lại đáp:
Em con đã dùng mưu kế đến cướp sự chúc phước của con rồi.
36. Ê-sau
liền nói rằng: Có phải vì người ta gọi nó là Gia-cốp mà đó hai lần chiếm
lấy vị tôi rồi chăng? Nó đã chiếm quyền trưởng nam tôi, và lại bây giờ còn
chiếm sự phước lành của tôi nữa. Tiếp rằng: Cha chẳng có dành sự chúc
phước chi cho tôi sao?
37. Y-sác đáp rằng: Nầy, cho đã lập nó lên làm
chủ con, và đã cho các anh em làm tôi nó; và đã dự bị lúa mì và rượu cho
nó. Vậy, cha sẽ làm chi cho con đây?
38. Ê-sau thưa rằng: Cha ơi! cha
chỉ có sự chúc phước đó thôi sao? Hãy chúc phước cho con với, cha! Rồi
Ê-sau cất tiếng lên khóc.
39. Y-sác cha người, đáp rằng: Nầy, nơi con ở
sẽ thiếu màu mỡ của đất, Cùng sương-móc trên trời sa xuống.
40. Con sẽ
nhờ gươm mới được sống. Và làm tôi tớ cho em con. Song khi con lưu lạc rày
đó mai đây, Sẽ bẻ cái ách của em trên cổ con vậy.
41. Ê-sau trở lòng
ghét Gia-cốp vì cớ cha mình chúc phước cho người, bèn nói thầm trong lòng
rằng: Ngày tang của cha đã hầu gần; vậy, ta sẽ giết Gia-cốp, em ta,
đi.
42. Họ đem lời Ê-sau, con lớn, thuật lại cùng Rê-be-ca, thì người
sai gọi Gia-cốp, con út mình, mà nói rằng: Nầy, Ê-sau, anh con, toan giết
con để báo thù.
43. Vậy, bây giờ, hỡi con, hãy nghe lời mẹ, đứng dậy,
chạy trốn qua nhà La-ban, cậu con, tại Cha-ran,
44. và hãy ở cùng người
ít lâu, cho đến lúc nào cơn giận của anh con qua hết.
45. Khi cơn giận
anh con bỏ qua rồi, và nó quên việc con đã gây nên với nó, thì mẹ sẽ biểu
con về. Có lẽ đâu mẹ phải chịu mất cả hai đứa trong một ngày ư?
46.
Rê-be-ca nói cùng Y-sác rằng: Tôi đã chán, không muốn sống nữa, vì cớ mấy
con gái họ Hếch. Nếu Gia-cốp cưới một trong mấy con gái họ Hếch mà làm vợ,
tức một người con gái trong xứ như các dân đó; thôi, tôi còn sống mà
chi?
Sáng-thế Ký 28
chọn đoạn khác
1. Y-sác bèn gọi Gia-cốp, chúc phước cho
và dặn rằng: Con chớ chọn một người vợ nào hết trong bọn con gái
Ca-na-an.
2. Hãy đứng dậy, đi qua xứ Pha-đan-A-ram, tại nhà Bê-tu-ên,
ông ngoại con, và cưới ở đó một người vợ trong các con gái của La-ban, là
cậu con.
3. Cầu xin Ðức Chúa Trời toàn năng ban phước cho con, làm con
sanh sản, thêm nhiều và trở nên một đám dân đông.
4. Cầu xin Ngài ban
cho con và dòng dõi con phước lành của Áp-ra-ham, hầu cho xứ con đã kiều
ngụ sẽ làm sản nghiệp cho con, tức xứ Ngài đã ban cho Áp-ra-ham!
5. Rồi
Y-sác sai Gia-cốp đi qua xứ Pha-đan-A-ram, đến nhà La-ban, con trai
Bê-tu-ên, vốn người A-ram, lại là anh của Rê-bê-ca, mẹ của Gia-cốp và
Ê-sau.
6. Ê-sau thấy Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp, và sai đi qua xứ
Pha-đan-A-ram đặng cưới vợ; và trong lúc đương chúc phước có dặn rằng: Chớ
cưới vợ trong bọn con gái Ca-na-an;
7. lại đã thấy Gia-cốp vâng lời cha
me đi qua xứ Pha-đan-A-ram đó,
8. thì biết rằng bọn con gái Ca-na-an
không vừa ý Y-sác, cha mình;
9. nên người bèn đi đến nhà Ích-ma-ên
(ngoài hai người vợ đã có rồi) cưới thêm nàng Ma-ba-lát, con gái của
Ích-ma-ên, cháu nội của Áp-ra-ham và em của Nê-ba-giốt.
10. Gia-cốp từ
Bê-e-Sê-ba đi đến Cha-ran,
11. tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất, thì
qua đêm tại đó. Người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại
đó;
12. bèn chiêm bao thấy một cái thang bắc từ dưới đất, đầu đến tận
trời, các thiên sứ của Ðức Chúa Trời đi lên xuống trên thang đó.
13.
Nầy, Ðức Giê-hô-va ngự trên đầu thang mà phán rằng: Ta là Ðức Chúa Trời
của Áp-ra-ham, tổ phụ ngươi, cùng là Ðức Chúa Trời của Y-sác. Ta sẽ cho
ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi đương nằm ngủ đây.
14. Dòng dõi
ngươi sẽ đông như cát bụi trên mặt đất, tràn ra đến đông tây nam bắc, và
các chi họ thế gian sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước.
15.
Nầy, ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ
nầy; vì ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi ta làm xong những điều ta đã
hứa cùng ngươi.
16. Gia-cốp thức giấc, nói rằng: Thật Ðức Giê-hô-va
hiện có trong nơi đây mà tôi không biết!
17. Người bắt sợ và nói rằng:
Chốn nầy đáng kinh khủng thay thật là đền Ðức Chúa Trời, thật là cửa của
trời!
18. Người dậy sớm, lấy hòn đá của mình dùng gối đầu, dựng đứng
lên làm cây trụ, đổ dầu lên trên chót trụ đó;
19. rồi đặt tên chốn nầy
là Bê-tên; còn nguyên khi trước tên thành là Lu-xơ.
20. Gia-cốp bèn
khấn vái rằng: Nếu Ðức Chúa Trời ở cùng tôi, gìn giữ tôi trong lúc đi
đường, cho bánh ăn, áo mặc,
21. và nếu tôi trở về bình an đến nhà cha
tôi, thì Ðức Giê-hô-va sẽ là Ðức Chúa Trời tôi.
22. Hòn đá đã dùng làm
trụ đây sẽ là đền Ðức Chúa Trời, Và tôi sẽ nộp lại cho Ngài một phần mười
mọi của cải mà Ngài sẽ cho tôi.
Sáng-thế Ký 29 chọn
đoạn khác
1. Ðoạn, Gia-cốp
lên đường, đi đến xứ của dân Ðông phương.
2. Người nhìn xem, thấy một
cái giếng trong đồng ruộng, gần đó có ba bầy chiên nằm nghỉ, vì nơi nầy là
chốn người ta cho các bầy chiên uống nước. Hòn đá đậy trên miệng giếng rất
lớn.
3. Các bầy chiên đều hiệp lại đó, rồi họ lăn hòn đá trên miệng
giếng ra, cho các bầy uống nước; đoạn, lăn đá lại chỗ cũ, đậy trên miệng
giếng.
4. Gia-cốp hỏi mấy tay chăn chiên rằng: Hỡi các anh! các anh ở
đâu đây? Bọn đó đáp rằng: Chúng tôi ở Cha-ran đến.
5. Người hỏi: Các
anh có biết La-ban, con trai Na-cô, chăng? Ðáp rằng: Chúng tôi biết.
6.
Lại hỏi: Người đó được mạnh giỏi chăng? Ðáp rằng: Người vẫn được mạnh
giỏi, và nầy, Ra-chên, con gái người, dương đi đến cùng bầy chiên
kia.
7. Ngươi nói: Nầy, trời hãy còn sớm, chưa phải là giờ nhóm hiệp
các súc vật; vậy, các anh hãy cho bầy chiên uống nước, rồi thả đi ăn lại
đi.
8. Ðáp rằng: Chúng tôi làm như vậy chẳng được; phải đợi các bầy
hiệp lại đủ hết rồi, bấy giờ mới lăn hòn đá trên miệng giếng ra, cho bầy
uống nước được.
9. Vả, đương lúc người còn nói chuyện cùng bọn đó, thì
Ra-chên dắt bầy chiên của cha nàng đến, vi nàng vốn là người chăn
chiên.
10. Khi vừa thấy Ra-chên, con gài La-ban, cậu mình, thì người
liền lại gần lăn hòn đá ra khỏi miệng giếng, cho bầy chiên của La-ban, cậu
mình, uống nước.
11. Gia-cốp hôn Ra-chên, cất tiếng lên khóc;
12.
rồi nói cho nàng biết rằng mình là bà con với cha nàng, tức con trai của
Rê-bê-ca. Nàng bèn chạy về thuật lại cho cha hay.
13. Vừa khi nghe nói
Gia-cốp, con trai của em gái mình, thì La-ban chạy đến trước mặt người, ôm
choàng lấy mà hôn, rồi mới vào nhà. Gia-cốp thuật lại cho La-ban nghe các
việc đã xảy qua.
14. La-ban bèn đáp rằng: Thật vậy, cháu là cốt nhục
của cậu; rồi Gia-cốp ở một tháng cùng cậu.
15. Ðoạn, La-ban nói cùng
Gia-cốp rằng: vì cớ cháu là bà con của cậu, cháu giúp công không cho cậu
thôi sao? Tiền công bao nhiêu hãy nói cho cậu biết.
16. Vả, La-ban có
hai con gái, con lớn tên là Lê-a; con nhỏ tên là Ra-chên.
17. Mắt Lê-a
yếu, còn Ra-chên hình dung đẹp đẽ, vẻ mặt tốt tươi.
18. Gia-cốp yêu
Ra-chên nên nói rằng: Vì nàng Ra-chên, con út cậu, tôi sẽ giúp việc trong
bảy năm.
19. La-ban trả lời rằng: Thà cậu gả nó cho cháu hơn là gả cho
một người khác; hãy ở với cậu.
20. Vậy, Gia-cốp vì Ra-chên, phải giúp
việc trong bảy năm: nhưng bởi yêu nàng, nên coi bảy năm bằng chừng đôi ba
bữa.
21. Kế đó, Gia-cốp nói cùng La-ban rằng: Hạn tôi đã mãn rồi; đâu!
xin cậu hãy giao vợ tôi lại đặng tôi đến gần cùng nàng.
22. La-ban bèn
mời các người trong xóm, bày một bữa tiệc;
23. đến chiều tối, bắt Lê-a,
con gái mình, đưa cho Gia-cốp, rồi chàng đến cùng nàng.
24. La-ban lại
cắt con đòi Xinh-ba theo hầu Lê-a, con gái mình.
25. Sáng bữa sau, mới
biết là nàng Lê-a, thì Gia-cốp hỏi La-ban rằng: Cậu đã đãi tôi cách chi
vậy? Có phải vì Ra-chên mà tôi mới giúp việc cho nhà cậu chăng? Sao cậu
lừa-gạt tôi?
26. La-ban đáp rằng: Phong tục ở đây chẳng phải được gả em
út trước, rồi chị cả sau.
27. Hãy ở với đứa nầy trọn một tuần đi, rồi
ta sẽ gả luôn đứa kia cho; về đứa kia cháu phải giúp công cho cậu thêm bảy
năm nữa.
28. Gia-cốp theo lời, ở cùng Lê-a trọn một tuần, rồi La-ban gả
Ra-chên con gái mình, cho chàng,
29. và cắt con đòi Bi-la theo hầu
Ra-chên con gái mình.
30. Gia-cốp đi lại cùng Ra-chên, thương yêu nàng
hơn Lê-a. Vậy, người ở giúp việc nhà La-ban thêm bảy năm nữa.
31. Ðức
Giê-hô-va thấy Lê-a bị ghét, bèn cho nàng sanh sản; còn Ra-chên lại son
sẻ.
32. Lê-a thọ thai, sanh một con trai, đặt tên Ru-bên; vì nói rằng:
Ðức Giê-hô-va đã thấy sự cực khổ tôi; bây giờ chồng sẽ yêu mến tôi.
33.
Nàng thọ thai nữa và sanh một con trai, đặt tên Si-mê-ôn; vì nói rằng. Ðức
Giê-hô-va có nghe biết tôi bị ghét, nên cho thêm đứa này.
34. Nàng thọ
thai nữa và sanh một con trai; nàng rằng: Lần nầy chồng sẽ dính díu cùng
tôi, vì tôi đã sanh cho người ba con trai; bởi cớ đó, đặt tên là
Lê-vi.
35. Nàng thọ thai nữa, sanh một con trai, và nói rằng: Lần nầy
tôi ngợi khen Ðức Giê-hô-va; vì cớ ấy, đặt tên là Giu-da. Ðoạn, nàng thôi
thai nghén.
Sáng-thế Ký
30 chọn đoạn khác
1. Ra-chên thấy mình chẳng sanh con cho
Gia-cốp, thì đem lòng ghen ghét chị, nói cùng Gia-cốp rằng: Hãy cho tôi có
con, bằng không, tôi chết.
2. Gia-cốp nổi giận cùng Ra-chên mà rằng: Há
ta được thay quyền Ðức Giê-hô-va, mà không cho ngươi sanh sản sao?
3.
Ra-chên rằng: Nầy con đòi Bi-la của tôi, hãy lại cùng nó, hầu cho nó sanh
đẻ thay cho tôi, đặng phần tôi bởi nó cũng có con nữa.
4. Vậy, Ra-chên
đưa Bi-la làm hầu Gia-cốp, và người đi lại cùng nàng.
5. Bi-la thọ
thai, sanh một con trai cho Gia-cốp.
6. Ra-chên rằng: Ðức Chúa Trời đã
xét tôi công bình, nhậm lời tôi, nên cho tôi một con trai; vì cớ ấy, nàng
đặt tên đứa trai đó là Ðan.
7. Bi-la, con đòi của Ra-chên, thọ thai
nữa, và sanh một con trai thứ nhì cho Gia-cốp.
8. Ra-chên rằng: Tôi đã
hết sức chống cự với chị tôi, và tôi được thắng; vì cớ ấy, nàng đặt tên
đứa trai nầy là Nép-ta-li.
9. Lê-a thấy mình thôi sanh sản, bèn bắt
Xinh-ba, con đòi mình, làm hầu cho Gia-cốp.
10. Xinh-ba, con đòi của
Lê-a, sanh một con trai cho Gia-cốp.
11. Lê-a rằng: Phước biết dường
bao! rồi đặt tên đứa trai đó là Gát.
12. Xinh ba, con đòi của Lê-a,
sanh một con trai thứ nhì cho Gia-cốp;
13. thì Lê-a rằng: Tôi lấy làm
vui mừng dường bao! vì các con gái sẽ xưng ta được phước; nàng bèn đặt tên
đứa trai đó là A-se.
14. Nhằm mùa gặt lúa mì, Ru-bên đi ra đồng gặp
được những trái phong già, đem về dâng cho Lê-a, mẹ mình. Ra-chên bèn nói
cùng Lê-a rằng: Xin chị hãy cho tôi những trái phong già của con chị
đó.
15. Ðáp rằng: Cướp chồng tao há là một việc nhỏ sao, nên mầy còn
muốn lấy trái phong già của con trai tao nữa? Ra-chên rằng: Ừ thôi! chồng
ta hãy ở cùng chị tối đêm nay, đổi cho trái phong già của con chị
đó.
16. Ðến chiều, Gia-cốp ở ngoài đồng về, thì Lê-a đến trước mặt
người mà nói rằng: Chàng hãy lại cùng tôi, vì tôi đã dùng trái phong già
của con tôi chịu thuê được chàng; vậy, đêm đó người lại nằm cùng
nàng.
17. Ðức Chúa Trời nhậm lời Lê-a, nàng thọ thai và sanh cho
Gia-cốp một con trai thứ năm.
18. Nàng rằng: Ðức Chúa Trời đã đền công
tôi, vì cớ tôi đã trao con đòi cho chồng; vậy, nàng đặt tên đứa con trai
đó là Y-sa-ca.
19. Lê-a thọ thai nữa, sanh một con trai thứ sáu cho
Gia-cốp,
20. bèn nói rằng: Ðức Chúa Trời ban cho tôi một vật quí báu;
lần nầy chồng sẽ ở cùng tôi, vì đã sanh cho người sáu con trai rồi. Nàng
đặt tên đứa con trai nầy là Sa-bu-lôn.
21. Kế đó, nàng sanh một con
gái, đặt tên là Ði-na.
22. Ðức Chúa Trời nhớ lại Ra-chên, bèn nhậm lời
và cho nàng sanh sản.
23. Nàng thọ thai, sanh một con trai, mà rằng:
Ðức Chúa Trời đã rửa sự xấu hổ cho tôi rồi;
24. bèn đặt tên đứa trai đó
là Giô-sép; lại nói rằng: Cầu xin Ðức Giê-hô-va thêm cho một con trai
nữa!
25. Khi Ra-chên đã sanh Giô-sép thì Gia-cốp thưa cùng La-ban rằng:
Xin cậu cho tôi thôi, đặng trở về quê hương tôi;
26. xin giao vợ và con
lại cho tôi, mà tôi đã đặng vì cớ giúp cậu, để tôi đi; bởi cậu cũng biết
rằng tôi đã giúp công việc cho cậu thể nào.
27. La-ban đáp rằng: Ước gì
cậu được nhờ ơn cháu! Cậu cũng đoán rõ ràng Ðức Giê-hô-va đã vì cháu mà
ban phước cho cậu vậy.
28. Lại nói rằng: Cháu hãy định công giá cháu
đi, rồi cậu sẽ trả cho!
29. Gia-cốp đáp: Cậu biết tôi giúp đỡ cậu thể
nào, và về tay tôi bầy súc vật cậu được ra sao.
30. Trước khi tôi đến,
súc vật của cậu thật ít, nhưng từ khi tôi đến ở, thì thêm nhiều quá bội.
Ðức Giê-hô-va đã ban phước cho cậu từ khi tôi bước chơn vào nhà nầy; bây
giờ biết chừng nào tôi sẽ được lo việc nhà tôi?
31. La-ban rằng: Cậu sẽ
cho cháu cái gì bây giờ? Ðáp rằng: Sẽ chẳng cho tôi chi cả. Nếu thuận theo
lời nầy, thì tôi sẽ cho ăn và chăn bầy súc vật cậu nữa:
32. Ngày nay
tôi sẽ đi kiểm soát các bầy chiên và bầy dê của cậu; trong bầy chiên bầy
dê, hễ con nào có rằn, có đốm, cùng chiên sắc đen, thì tôi sẽ để riêng ra;
ấy sẽ là phần công giá của tôi đó.
33. Một mai cậu đi xem xét công giá
tôi, thì lòng ngay thẳng tôi sẽ làm chứng trước mặt cậu. Hễ ở về phần bên
tôi, các con dê nào không có rằn và đốm, các chiên con nào không có sắc
đen, thì sẽ cho là ăn cắp.
34. La-ban đáp: Ừ thôi! được như lời cháu
nói.
35. Chánh ngày đó, La-ban liền để riêng các dê đực có sọc, có đốm,
các dê cái đó rằn, có đốm, các vật nào có đém trắng và các chiên con có
sắc đen, giao cho mấy con trai mình;
36. rồi để Gia-cốp cùng mình ở
cách xa nhau chừng ba ngày đường; Gia-cốp bèn chăn bầy súc vật của La-ban
chỉ còn lại.
37. Ðoạn, Gia-cốp lấy nhành bạch dương, nhành bồ đào và
nhành bá-tiên tươi, lột vỏ để bày lằn da trắng ở trong ra.
38. Người để
những nhành đã lột vỏ trong máng trước mặt con chiên, là nơi các thú đó
đến uống; khi đến uống nước thì con chiên có giao hiệp nhau.
39. Các
con chiên ngó thấy những nhành đó mà giao hiệp nhau thì sanh chiên con có
sọc, có rằn và có đốm.
40. Gia-cốp để riêng chiên con ra, rồi để chiên
cái trong bầy của La-ban trước mặt các con có sọc và có sắc đen; nhưng bầy
mình thì riêng ra, không để gần bầy của La-ban.
41. Vả, mọi lần các con
chiên mạnh mập giao hiệp, thì Gia-cốp để các nhành đó dưới mắt trong máng
uống nước, đặng chúng nó đối nhành mà giao hiệp cùng nhau.
42. Nhưng
khi nào con chiên gầy ốm, thì người không để nhành như vậy; thế thì, các
chiên con gầy ốm để về phần La-ban, còn chiên con mạnh mập lại về phần
Gia-cốp.
43. Vậy, người trở nên rất giàu, có nhiều bầy súc vật, tôi
trai, tớ gái, lạc đà và lừa.
Sáng-thế Ký 31 chọn
đoạn khác
1. Gia-cốp được
nghe lời các con La-ban nói rằng: Gia-cốp đã lấy hết gia tài cha ta, và vì
nhờ của cha ta, nên mới được giàu có dường ấy.
2. Gia-cốp cũng để ý coi
nét mặt cậu, nhận biết rằng người chẳng đối ở với mình như trước
nữa.
3. Ðức Giê-hô-va phán cùng Gia-cốp rằng: Hãy trở về xứ của tổ phụ
ngươi, chốn bà con ngươi, ta sẽ phù hộ ngươi.
4. Gia-cốp bèn sai người
gọi Ra-chên và Lê-a đến nơi cầm bầy súc vật của mình ngoài đồng,
5. và
nói cùng họ rằng: Ta thấy sắc mặt cha hai ngươi đối cùng ta chẳng còn như
trước nữa, nhưng nhờ Ðức Chúa Trời của cha ta phù hộ ta.
6. Chánh hai
ngươi cũng biết rằng ta đã giúp cha hai ngươi hết sức,
7. còn cha hai
ngươi lại khinh bạc và mười lần thay đổi công giá ta; nhưng Ðức Chúa Trời
không cho phép người làm hại ta chút nào.
8. Khi người dạy rằng: Các
con chiên có đốm dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh con
ra có sọc.
9. Thế thì, Ðức Chúa Trời đã bắt súc vật của cha hai ngươi
cho ta đó!
10. Ðương trong lúc chiên giao hiệp nhau, ta nhướng mắt lên,
chiêm bao thấy các chiên đực đương giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có
rằn và có đốm.
11. Thiên sứ Ðức Chúa Trời phán cùng ta trong mộng rằng:
Hỡi Gia-cốp! Ta bèn thưa: Có tôi đây.
12. Thiên sứ rằng: Hỡi nhướng mắt
lên mà nhìn: hết thảy chiên đực đương giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc,
có rằn và có đốm; vì ta đã thấy cách La-ban ăn ở cùng ngươi rồi.
13. Ta
đây là Ðức Chúa Trời của Bê-tên, tức nơi ngươi đã thoa dầu đầu cây trụ và
đã khấn vái ta. Bây giờ, hãy đứng dậy, ra khỏi xứ bầy và trở về xứ của bà
con ngươi.
14. Ra-chên và Lê-a đáp cùng người mà rằng: Chúng tôi còn
một phần chi hay là cơ nghiệp chi nơi nhà cha chúng tôi chăng?
15. Vì
người đã gả bán chúng tôi và ăn xài hết tiền bạc bán nữa, há người chẳng
đãi chúng tôi như người dưng ư?
16. Các tài vật mà Ðức Chúa Trời đoạt
nơi tay cha chúng tôi tức là của chúng tôi và của con cái chúng tôi. Vậy
bây giờ, chàng hãy làm theo mọi lời Ðức Chúa Trời đã phải dạy.
17.
Gia-cốp bèn đứng dậy, đỡ vợ và con lên lưng lạc đà,
18. dẫn hết thảy
súc vật và của cải mình, tức súc vật mình đã gây dựng ở Pha-đan-A-ram,
đặng trở về cùng Y-sác, cha mình, ở Ca-na-an.
19. Trong lúc La-ban mắc
đi hớt lông chiên người, thì Ra-chên ăn cắp các pho tượng thờ trong nhà
của cha mình.
20. Gia-cốp gạt La-ban, vì không nói rằng, mình muốn đi
trốn.
21. Vậy, người đứng dậy, đem theo hết thảy tài vật mình, trốn đi
ngang qua sông, thẳng tuốt về núi Ga-la-át.
22. Ðến ngày thứ ba, người
ta học lại cùng La-ban rằng Gia-cốp đã trốn đi rồi.
23. Người bèn đem
các anh em mình đuổi theo Gia-cốp trong bảy ngày đường, và theo kịp tại
núi Ga-la-át.
24. Nhưng trong cơn chiêm bao lúc ban đêm, Ðức Chúa Trời
đến cùng La-ban, người A-ram, mà phán rằng: Dầu lành dầu dữ, thế nào ngươi
khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.
25. Vậy, La-ban theo kịp
Gia-cốp. Vả, Gia-cốp đương đóng trại trên núi; La-ban và các anh em người
cũng đóng trại trên núi Ga-la-át.
26. La-ban nói cùng Gia-cốp rằng:
Cháu đã làm chi vậy? Cháu đã gạt cậu và dẫn mấy đứa gái cậu như phu tù
giặc.
27. Sao trốn nhẹm, gạt và không cho cậu hay trước? Có lẽ cậu đưa
đi rất vui vẻ, tiếng hát, tiếng đờn và tiếng trống phụ đưa.
28. Cháu
làm cách dại dột vậy, không để cho cậu hôn con trai và con gái cậu.
29.
Tay cậu có đủ quyền làm hại cháu; nhưng Ðức Chúa Trời của cha cháu đã mách
bảo cùng cậu tối hôm qua rằng: Dầu lành dầu dữ, ngươi khá giữ mình đừng
nói chi cùng Gia-cốp hết.
30. Bây giờ, vì lòng cháu mong mỏi về nhà cha
cháu, nên đã ra đi; nhưng cớ sao cháu lại ăn cắp các pho tượng cậu?
31.
Gia-cốp đáp rằng: Vì cớ tôi e cậu bắt hai người con gái lại chăng.
32.
Nhưng tìm nơi ai được các pho tượng của cậu, thì ai đó sẽ bị chết đi! Tại
trước mặt các anh em chúng ta, cậu hãy kiểm soát các món nơi tôi đi, và
hãy lấy vật chi thuộc về cậu. Vả, Gia-cốp vốn không hay rằng Ra-chên đã
trộm mấy pho tượng đó.
33. Vậy, La-ban vào trại Gia-cốp, trại Lê-a,
trại hai người đòi, chẳng tìm được chi cả. Ðoạn, ở trại Lê-a bước ra đi
vào trại Ra-chên.
34. Vả, Ra-chên có lấy mấy pho tượng đó, giấu dưới
bành lạc đà, rồi ngồi lên trên. La-ban soát lục khắp trại chẳng gặp pho
tượng.
35. Nàng bèn thưa cùng cha rằng: Vì trong mình con có việc riêng
của đờn bà, nên đứng dậy rước chẳng được; xin chúa chớ giận con chi hết.
Người kiếm, nhưng chẳng thấy pho tượng đâu hết.
36. Gia-cốp bèn nổi
giận rầy lộn cùng La-ban, mà rằng: Tôi có án gì, tội gì, mà cậu hằm hằm
đuổi theo như vậy!
37. Cậu đã soát lục các đồ hành lý tôi, có kiếm được
món chi thuộc về nhà cậu chăng? Hãy đem món đó ra trước mặt anh em tôi
cùng anh em cậu, đặng họ xét đoán đôi ta.
38. Kìa, đã hai mươi năm tôi
ăn ở nơi nhà cậu, chiên cùng dê cậu nào có sảo thai, và tôi chẳng hề ăn
thịt chiên đực của bầy cậu bao giờ;
39. cũng chẳng hề đem về cho cậu
một con nào bị xé; bằng có, chính tôi chịu đền đó thôi. Cậu cớ đòi luôn
những con bị ăn cắp ban ngày và ăn trộm ban đêm.
40. Ban ngày tôi chịu
nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lùng, ngủ nào có an giấc được đâu.
41. Ðó
trong hai mươi năm tôi ở tại nhà cậu là thế; trong mười bốn năm giúp việc,
để được hai con gái cậu, và sáu năm đặng lãnh lấy bầy súc vật của cậu, mà
cậu lại còn thay đổi mười lần công giá tôi.
42. Nếu Ðức Chúa Trời của
cha tôi, Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, là Ðấng mà Y-sác kính sợ, không phù
hộ tôi, chắc bây giờ cậu đuổi tôi ra tay không, Ðức Chúa Trời đã xem thấy
nỗi đau-khổ tôi cùng công việc hai tay tôi làm, nên đêm qua Ngài đã xét
công bình rồi đó.
43. La-ban đáp cùng Gia-cốp mà rằng: Các đứa gái nầy
là con của cậu; các đứa trẻ nầy là trẻ của cậu; các bầy súc vật tức là bầy
súc vật của cậu, và các vật chi cháu thấy được tức là của cậu hết; ngày
nay cậu sẽ làm chi được cùng các con gái hai là các cháu cậu đó?
44.
Vậy bây giờ, hè! chúng ta kết-ước cùng nhau, để dùng làm chứng cho cậu và
cháu.
45. Gia-cốp lấy một hòn đá, dựng đứng lên làm trụ;
46. và nói
cùng các anh em mình rằng: Hãy lượm góp đá lại. Chúng bèn góp đá lại, chất
thành một đống, rồi ngồi lên trên ăn bữa.
47. La-ban đặt trên đống đá
đó là Y-ê-ga Sa-ha-du-ta; còn Gia-cốp kêu là Ga-lét.
48. La-ban nói
rằng: Ðống đá nầy ngày nay làm chứng cho cậu và cháu đó. Cho nên chúng gọi
là Ga-lét.
49. Mà cũng gọi là Mích-ba, vì La-ban có nói thêm rằng: Khi
chúng ta phân cách nhau, cầu xin Ðức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu.
50.
Nếu cháu hành hạ các con gái cậu, nếu cưới vợ khác nữa, thì hãy giữ mình!
Chẳng phải người thường soi xét ta đâu, bèn là Ðức Chúa Trời làm chứng cho
chúng ta vậy.
51. La-ban lại nói cùng Gia-cốp rằng: Nầy đống đá, nầy
cây trụ mình cậu đã dựng lên giữa cậu và cháu đây.
52. Ðống đá nầy và
cây trụ nầy làm chứng rằng cậu chẳng qua khỏi đây, đi đến nơi cháu, và
cháu cũng chẳng vượt khỏi đây, đi đến nơi cậu, trong khi có ý muốn làm hại
nhau.
53. Cầu xin Ðức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Ðức Chúa Trời của Na-cô,
Ðức Chúa Trời của cha các người đó đoán xét cho chúng ta! Gia-cốp chỉ Ðấng
của Y-sác, cha mình, kính sợ mà thề.
54. Ðoạn, người dâng một của lễ
tại trên núi, và mời các anh em mình dùng bánh. Vậy, chúng dùng bánh, rồi
ở ban đêm trên núi.
55. La-ban dậy sớm, hôn các con trai và các con gái
mình, và chúc phước cho, rồi đi trở về nhà mình.
Sáng-thế Ký 32 chọn
đoạn khác
1.
Gia-cốp cứ đi đường, có thiên sứ Ðức Chúa Trời gặp người.
2. Khi
Gia-cốp thấy các vị nầy, nói rằng: Ấy là trại quân của Ðức Chúa Trời! Nên
người đặt tên chỗ đó là Ma-ha-na-im.
3. Gia-cốp sai sứ giả đến trước
cùng Ê-sau, anh mình, trong xứ Sê-i-rơ thuộc về địa-phận Ê-đôm;
4.
người bèn dặn rằng: Các ngươi hãy thưa cùng Ê-sau, chúa ta như vầy:
Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, có nói như vầy rằng: Tôi đã ngụ tại nhà La-ban
đến ngày nay;
5. có bò, lừa, chiên, tôi trai, tớ gái; vậy, xin sai đi
nói cho chúa hay trước, hầu cho nhờ được ơn trước mặt chúa tôi.
6. Các
sứ giả trở về nói cùng Gia-cốp rằng: Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của
chủ; nầy người đương đem bốn trăm người đến để rước chủ.
7. Gia-cốp rất
sợ hãi và sầu não, bèn chia các dân đi theo, cùng các bầy chiên, bò, lạc
đà ra làm hai đội, mà rằng:
8. Nếu Ê-sau đến hãm đánh một trong hai
đội, thì đội còn lại sẽ thoát được.
9. Ðoạn, Gia-cốp cầu rằng: Hỡi Ðức
Chúa Trời của tổ phụ Áp-ra-ham tôi! Ðức Chúa Trời của cha Y-sác tôi, tức
là Ðức Giê-hô-va! Ngài có phán dạy tôi rằng: Hãy trở về xứ ngươi và nơi bà
con ngươi, rồi ta sẽ làm ơn cho ngươi!
10. Tôi lấy làm hèn mọn không
đáng chịu các ân huệ và các điều thành thực mà Ngài đã làm cho kẻ tôi tớ
Ngài; vì lúc trước khi qua sông Giô-đanh chỉ có cây gậy tôi, mà ngày nay
tôi lại trở nên hai đội quân nầy.
11. Vậy, cầu xin Ðức Chúa Trời giải
cứu tôi khỏi tay Ê-sau, anh tôi, vì e người đến đánh tôi và đánh luôn mẹ
với con nữa.
12. Vả, Ngài có nói rằng: Quả thật vậy, ta sẽ làm ơn cho
ngươi, và làm cho dòng dõi ngươi đông như cát bãi biển, người ta sẽ không
biết sao đếm được, vì đông đúc quá.
13. Người ở ban đêm tại đó, lấy các
vật có hiện trong tay để làm một của lễ dâng cho Ê-sau, anh mình,
14.
là hai trăm dê cái và hai chục dê đực; hai trăm chiên cái và hai chục
chiên đực;
15. ba chục lạc đà cái có con đương bú, bốn chục bò cái và
mười bò đực; hai chục con lừa cái và mười lừa con.
16. Rồi, giao mỗi
bầy riêng ra nơi tay đầy tớ mình và dặn rằng: Các ngươi hãy đi trước ta và
dẫn bầy nầy cách một khoảng đến bầy kia.
17. Người dặn tên dẫn bầy đi
trước hết như vầy: Khi Ê-sau, sanh ta, gặp và hỏi ngươi rằng: Ngươi ở với
ai, đi đâu, và bầy súc vật trước mặt ngươi đó thuộc về ai?
18. thì hãy
thưa rằng: Của Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa; ấy là một lễ gởi dâng cho Ê-sau,
chúa tôi; và nầy, chánh mình người đương theo sau.
19. Gia-cốp cũng dặn
y lời cho tên dẫn bầy thứ nhì, thứ ba và hết thảy người theo coi chừng các
bầy, và lại nói: Khi gặp Ê-sau, các ngươi hãy nhớ lời đó,
20. và nói
như vầy: Nầy, Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, đương theo sau chúng tôi. Vì người
thầm nghĩ rằng: Mình đem lễ nầy dâng trước cho Ê-sau nguôi giận đã, rồi
mình sẽ giáp mặt sau; có lẽ người tiếp rước mình một cách thuận hiệp
đó.
21. Vậy, lễ nầy đem đi trước, còn người, đêm đó ở lại trại.
22.
Ban đêm, người thức dậy, dẫn hai vợ, hai tên đòi và mười một đứa con mình
đi qua rạch Gia-bốc.
23. Người đem họ qua rạch, và hết thảy của cải
mình qua nữa.
24. Vả, một mình Gia-cốp ở lại; thì có một người vật lộn
với mình được rạng đông.
25. Khi người đó thấy mình không thắng nổi,
bèn đánh vào xương hông Gia-cốp; xương hông liền trặt trong khi vật
lộn.
26. Người đó bèn nói: Trời đã rạng đông rồi; thôi để cho ta đi;
nhưng Gia-cốp đáp rằng: Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban
phước cho tôi.
27. Người đó hỏi: Tên ngươi là chi? Ðáp rằng: Tên tôi là
Gia-cốp.
28. Người lại nói: Tên ngươi sẽ chẳng làm Gia-cốp nữa, nhưng
tên là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Ðức Chúa Trời và người ta;
ngươi đều được thắng.
29. Gia-cốp hỏi: Xin cho tôi biết tên người. Ðáp
rằng: Làm sao ngươi hỏi tên ta? Rồi người nầy ban phước cho Gia-cốp tại
đó.
30. Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, và nói rằng: Tôi đã thấy
Ðức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu.
31. Khi
qua nơi Phi-ni-ên, thấy mặt trời mọc rồi; và người đi giẹo cẳng.
32.
Bởi cớ đó, cho đến ngày nay dân Y-sơ-ra-ên chẳng bao giờ ăn gân bắp vế của
lối xương hông; vì người đó có đánh vào xương hông Gia-cốp, nơi gân của
bắp vế.
Sáng-thế Ký 33
chọn đoạn khác
1. Gia-cốp nhướng mắt lên và nhìn, kìa,
Ê-sau dẫn bốn trăm người đi đến. Người bèn chia các con cho Lê-a, Ra-chên,
và cho hai tên đòi;
2. sắp hai tên đòi và con cái họ ở trước; kế đến
Lê-a và con cái nàng; Ra-chên cùng Giô-sép ở sau chót.
3. Còn người,
thì đi trước họ và sấp mình xuống đất bảy lần cho đến khi tới gần anh
mình.
4. Nhưng Ê-sau chạy đến trước mặt người, ôm choàng cổ mà hôn, rồi
hai anh em đều khóc.
5. Ðoạn, Ê-sau nhướng mắt lên thấy mấy người đờn
bà và con cái, thì hỏi rằng: Các người mà em có đó là ai? Ðáp rằng: Ấy là
con cái mà Ðức Chúa Trời đã cho kẻ tôi tớ anh.
6. Hai tên đòi và con
cái họ lại gần người, sấp mình xuống.
7. Lê-a và các con cái nàng cũng
lại gần, sấp mình xuống; đoạn, Ra-chên và Giô-sép lại gần, và sấp mình
xuống.
8. Ê-sau hỏi: Toán quân anh đã gặp đi trước đó, em tính làm chi?
Ðáp rằng: Ấy để nhờ được ơn trước mặt chúa tôi.
9. Ê-sau nói: Hỡi em!
anh đã được đủ rồi; vậy, hãy lấy lại vật chi của em đi.
10. Thưa rằng:
Xin anh, không. Nếu em được ơn trước mặt anh, hãy nhậm lấy lễ vật bởi tay
em làm ra đi; vì em thấy được mặt anh khác nào người ta thấy được mặt Ðức
Chúa Trời, và anh đã đẹp lòng tiếp rước em.
11. Xin anh hãy nhậm lấy lễ
vật em đã dâng cho anh, vì Ðức Chúa Trời cho em đầy dẫy ân huệ, và em có
đủ hết. Người nài xin Ê-sau quá đến đỗi phải chịu nhậm lấy.
12. Ê-sau
nói: Hè, ta hãy lên đường! Anh sẽ đi trước em.
13. Gia-cốp đáp: Chúa
biết rằng các đứa trả yếu lắm, và em lại mắc coi chừng chiên và bò cái
đương có con bú; nếu ép đi mau chỉ trong một ngày, chắc cả bầy phải chết
hết.
14. Xin chúa hãy đi trước kẻ tôi tớ chúa, còn tôi sẽ đi tới chậm
chậm theo bước một của súc vật đi trước và của các trẻ, cho đến chừng nào
tới nhà chúa tại xứ Sê-i-rơ.
15. Ê-sau nói: Vậy, anh xin để lại cùng em
một vài người tùy tùng của anh. Gia-cốp đáp rằng: Chi vậy? miễn em được
nhờ ơn trước mặt chúa thôi!
16. Nội ngày đó, Ê-sau bắt đường trở về
Sê-i-rơ.
17. Gia-cốp đi đến Su-cốt; bèn cất một nhà cho mình ở, và mấy
cái lều cho súc vật; cho nên họ đặt tên chốn nầy là Su-cốt.
18. Gia-cốp
ở xứ Pha-ran-A-ram đến thành Si-chem thuộc về xứ Ca-na-an, được bình an.
Người đóng tại trước thành,
19. bèn mua miếng đất chỗ người đóng trại,
giá một trăm miếng bạc của con Hê-mô, cha Si-chem.
20. Nơi đó người lập
một bàn thờ, đặt tên là En-Ên-ô-hê-Y-sơ-ra-ên.
Sáng-thế Ký 34 chọn
đoạn khác
1.
Nàng Ði-na, con gái của Lê-a sanh cho Gia-cốp, đi ra thăm bọn con gái của
xứ đó.
2. Si-chem, con trai Hê-mô, người Hê-vít, hoàng tử xứ đó, thấy
nàng, thì cướp đi, nằm với nàng và làm điếm nhục nàng.
3. Tâm hồn chàng
vấn-vít cùng Ði-na, con gái Gia-cốp, thương mến con gái tơ đó, lấy lời
ngon ngọt nói cùng nàng.
4. Si-chem nói cùng Hê-mô, cha mình, rằng: Hãy
cho tôi con gái nầy làm vợ.
5. Vả, Gia-cốp hay được rằng chàng làm hư
danh giá Ði-na, con gái mình, nhưng các con trai mình mắc ở ngoài đồng
cùng súc vật, nên người làm thinh đến khi họ trở về.
6. Lúc đó, Hê-mê,
cha Si-chem, đến cùng Gia-cốp đặng nói chuyện cùng người.
7. Các con
trai Gia-cốp ở ngoài đồng trở về, vừa hay được việc ấy, bèn nổi nóng và
giận lắm, vì việc ô danh mà Si-chem đã xui cho họ Y-sơ-ra-ên, nằm cùng con
gái của Gia-cốp, là việc chẳng bao giờ nên làm.
8. Hê-mô nói cùng họ
rằng: Tâm hồn Si-chem, con trai tôi, đã dan-díu cùng con gái các ông; xin
hãy gả nàng cho nó làm vợ.
9. Hãy kết sui-gia cùng nhau; các ông gả con
gái cho chúng tôi, rồi cưới các con gái chúng tôi lại.
10. Hãy ở cùng
chúng tôi; xứ sẵn dành cho các ông; hãy ở, buôn bán và dựng cơ nghiệp tại
đó.
11. Si-chem thưa cùng cha và các anh em của người con gái rằng: Xin
cho tôi được ơn trước mặt các ông, và điều chi các ông nói, tôi xin nạp
cho.
12. Xin hãy đòi một lễ cưới cho lớn, sính nghi cho cao, tôi xin
nạp theo y lời các ông nói; nhưng hãy gả con gái đó cho tôi làm vợ.
13.
Các con trai Gia-cốp đáp lại cùng Si-chem và Hê-mô, cha chàng, cùng dùng
mưu nói chuyện với họ, vì Si-chem đã làm mất danh giá của Ði-na, em gái
mình.
14. Các người ấy nói rằng: Gả em gái chúng tôi cho ai chẳng chịu
phép cắt bì, ấy là một việc chúng tôi làm không được, vì sẽ là một nỗi
nhuốc nha cho chúng tôi vậy.
15. Chúng tôi sẽ nhậm lời các ông được, là
khi nào các ông trở nên giống như chúng tôi, tức là mọi người nam chịu
phép cắt bì;
16. vậy, chúng tôi sẽ gả con gái chúng tôi cho các ông, và
sẽ cưới con gái các ông lại; đoạn ta sẽ ở chung nhau, thành ra một dân mà
thôi.
17. Còn nếu không khứng nghe theo lời, và không chịu phép cắt bì,
thì chúng tôi bắt con gái lại và đi ở nơi khác.
18. Bao nhiêu lời họ
nói làm cho đẹp dạ Hê-mô và Si-chem, con trai người.
19. Chàng trẻ tuổi
đó không ngần ngại các việc họ đã định, vì con gái của Gia-cốp đẹp lòng
chàng. Vả, chàng đây là một người quí trọng hơn mọi người trong nhà cha
mình.
20. Vậy, Hê-mô và Si-chem, con trai người, đi đến cửa thành mình,
nói cùng dân trong thành như vầy:
21. Các người đó ăn ở hòa thuận giữa
vòng chúng ta; vậy cho họ ở trong xứ đặng buôn bán. Nầy, xứ cũng rộng cho
họ ở; chúng ta sẽ cưới con gái họ làm vợ, và gả các con gái chúng ta
lại.
22. Nhưng họ bằng lòng ở cùng chúng ta đặng thành một dân, miễn
khi nào các người nam trong bọn mình phải chịu phép cắt bì chính như mọi
người nam của họ vậy.
23. Thế thì, há rằng các súc vật, các tài sản và
các bầy của họ sẽ chẳng thuộc về chúng ta sao? thôi, ta hãy nhận theo họ
điều đó đi, để họ ở chung cùng chúng ta.
24. Mọi người đi ra cửa thành
mình đều nghe theo lời Hê-mô và Si-chem, con trai người, và hết thảy người
nam đi ra cửa thành mình đều chịu phép cắt bì.
25. Ðến ngày thứ ba, khi
mọi người đương đau đớn, thì hai con trai Gia-cốp, là Si-mê-ôn và Lê-vi,
anh nàng Ði-na, cầm mỗi người một thanh gươm, thừa khi ai nấy yên ổn, xông
vào thành giết hết thảy người nam.
26. Hai người lại lấy gươm giết
Hê-mô và Si-chem, con trai người, đem nàng Ði-na ra khỏi nhà Si-chem, rồi
đi.
27. Vì cớ họ làm mất danh giá em gái mình, nên các con trai Gia-cốp
xông vào những xác chết và phá cướp thành;
28. bắt các bầy chiên, bò,
lừa, cùng vật chi trong thành và ngoài đồng;
29. cướp đem đi hết tài
vật, các con trẻ và đờn bà, cùng mọi vật chi ở trong nhà vậy.
30.
Gia-cốp bèn nói cùng Si-mê-ôn và Lê-vi rằng: Bay xui cho tao bối rối, làm
cho dân xứ nầy, là người Ca-na-an và người Phê-rê-sít, oán ghét tao vậy.
Tao đây, chỉ có ít người; nếu họ hiệp lại đánh tao, thì chắc tao và nội
nhà đều bị tàn hại.
31. Ðáp rằng: Chúng tôi nỡ chịu người ta đãi em gái
chúng tôi như con đĩ sao?
Sáng-thế Ký 35 chọn
đoạn khác
1. Ðức Chúa Trời
phán cùng Gia-cốp rằng: Hãy chổi dậy, đi lên Bê-tên mà ở, và hãy lập nơi
đó một bàn thờ cho Ðức Chúa Trời, là Ðấng hiện ra cùng ngươi đương lúc
chạy trốn khỏi Ê-sau, anh ngươi.
2. Gia-cốp bèn nói cùng vợ con và mọi
kẻ đi theo mình rằng: Hãy dẹp các tượng thần ngoại bang khỏi giữa các
ngươi, làm cho mình được thanh sạch và thay áo xống đi.
3. Ðoạn, chúng
ta hãy chổi dậy, đi đến Bê-tên, nơi đó ta sẽ lập một bàn thờ cho Ðức Chúa
Trời, là Ðấng đã trả lời ta trong lúc nguy hiểm, và đã phù hộ ta trong khi
đi đường.
4. Họ bèn đưa cho Gia-cốp các tượng thần ngoại bang của mình,
và các vòng đeo nơi tai; rồi người chôn mấy vật đó dưới gốc cây dẻ bộp,
gần thành Si-chem.
5. Ðoạn, chúng khởi hành. Ðức Chúa Trời bèn giáng sự
kinh hãi cho các thành ở chung quanh đó, nên họ chẳng dám đuổi theo các
con trai của Gia-cốp.
6. Gia-cốp cùng mọi kẻ đi theo đến tại Lu-xơ (là
thành Bê-tên), thuộc về xứ Ca-na-an.
7. Người lập tại đó một bàn thờ,
đặt tên chốn nầy Ên-Bê-tên, vì là nơi Ðức Chúa Trời đã hiện ra cùng người
trong lúc chạy trốn khỏi anh mình.
8. Khi đó Ðê-bô-ra, mụ vú của
Rê-be-ca, qua đời, được chôn thân dưới thành Bê-tên tại gốc dẻ bộp; nhơn
đó người ta gọi là cây A-lôn-Ba-cút.
9. Khi ở xứ Pha-đan-A-ram đến, Ðức
Chúa Trời lại hiện ra cùng Gia-cốp nữa, ban phước cho người,
10. và
phán rằng: Tên ngươi là Gia-cốp, sau nầy sẽ chẳng gọi Gia-cốp nữa, nhưng
sẽ đặt là Y-sơ-ra-ên. Rồi Ngài đặt tên người là Y-sơ-ra-ên.
11. Ðức
Chúa Trời lại phán rằng: Ta là Ðức Chúa Trời toàn năng; ngươi hãy sanh sản
và thêm nhiều; một dân cho đến nhiều dân đều sẽ do nơi ngươi mà sanh, cùng
các vua sẽ do nơi mình ngươi mà ra.
12. Xứ ta đã cho Áp-ra-ham và Y-sác
thì ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi.
13. Ðức Chúa Trời bèn ngự lên
khỏi nơi Ngài đã phải cùng Gia-cốp.
14. Người dựng một cây trụ đó tại
nơi Ðức Chúa Trời đã phán cùng mình, dâng lễ quán và tưới dầu vào.
15.
Ðoạn, Gia-cốp đặt tên nơi Ðức Chúa Trời đã phán cùng mình là
Bê-tên.
16. Ở từ Bê-tên đi, họ còn cách Ên-phù-hộ-rát chừng vào thôi
đường, thì Ra-chên sanh nở. Việc sanh nở của người thật đau đớn.
17.
Trong khi khó sanh, bà mụ nói rằng: Ðừng sợ chi, vì nàng còn một con trai
nữa.
18. Vả, bởi Ra-chên gần trút linh hồn, vì đương cơn hấp hối, nên
người đặt đứa con trai đó tên là Bê-nô-ni; còn cha nó lại đặt tên là
Bên-gia-min.
19. Vậy, Ra-chên qua đời, được chôn bên con đường đi về
Ê-phơ-rát, tức là Bết-lê-hem.
20. Gia-cốp dựng một mộ-bia; ấy là mộ-bia
của Ra-chên đến ngày nay hãy còn di tích.
21. Kế đó, Y-sơ-ra-ên đi,
đóng trại ở ngoài nơi tháp Ê-để.
22. Vả, nhầm khi Y-sơ-ra-ên ngụ tại xứ
nầy, thì Ru-bên có đến nằm cùng Bi-la, vợ lẽ của cha mình; Y-sơ-ra-ên hay
được việc đó.
23. Vả, Gia-cốp có được mười hai con trai. Con của Lê-a
là Ru-bên, trưởng nam của Gia-cốp; kế nữa là Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa,
Y-sa-ca và Sa-bu-lôn.
24. Con của Ra-chên và Giô-sép và
Bên-gia-min.
25. Con của Bi-la, đòi của Ra-chên là Ðan và
Nép-ta-li;
26. và con của Xinh-ba, đòi của Lê-a, là Gát và A-se. Ấy đó
là các con trai của Gia-cốp sanh tại xứ Pha-đan-A-ram.
27. Gia-cốp đến
cùng Y-sác, cha mình, ở Mam-rê, tại thành Ki-ri-át-A-ra-ba, tức là
Hếp-rôn, nơi Áp-ra-ham và Y-sác đã kiều ngụ.
28. Y-sác hưởng thọ được
một trăm tám mươi tuổi.
29. Người tuổi cao tác lớn, thỏa mãn về đời
mình, tắt hơi, được về cùng tổ phụ. Ê-sau và Gia-cốp, hai con trai, chôn
người.
Sáng-thế Ký 36
chọn đoạn khác
1. Ðây là dòng dõi của Ê-sau, tức là Ê-đôm
vậy.
2. Ê-sau cưới các vợ trong bọn con gái xứ Ca-na-an, là A-đa, con
gái Ê-lôn, người Hê-tít; Ô-hô-li-ba-ma, con gái A-na, cháu ngoại của
Xi-bê-ôn, người Hê-vít,
3. cùng Bách-mát, con gái Ích-ma-ên, và là em
gái của Nê-ba-giốt.
4. A-đa sanh Ê-li-pha cho Ê-sau; Bách-mát sanh
Rê-u-ên;
5. còn Ô-hô-li-ba-ma sanh Giê-úc, Gia-lam và Cô-ra. Ấy đó là
các con trai của Ê-sau sanh tại xứ Ca-na-an.
6. Ê-sau dẫn các vợ, con
trai, con gái mình, mọi người nhà, các bầy chiên, lục-súc, và tài vật mình
đã gây dựng tại xứ Ca-na-an, dời qua xứ khác, cách xa Gia-cốp, em
mình.
7. Vả, vì cớ hai anh em của cải nhiều, bầy súc vật đông, xứ đương
kiều ngụ không đủ đất dùng nữa, nên ở chung nhau chẳng được.
8. Vậy,
Ê-sau, tức là Ê-đôm, ở trên núi Sê-i-rơ.
9. Ðây là dòng dõi Ê-sau, tổ
phụ dân Ê-đôm, ở trên núi Sê-i-rơ.
10. Ðây là tên các con trai Ê-sau:
A-đa-vợ người, sanh Ê-li-pha; Bách-mát, cũng vợ người, sanh
Rê-u-ên.
11. Con trai của Ê-li-pha là Thê-ma, Ô-ma, Xê-phô, Ga-tham và
Kê-na.
12. Thim-na, vợ lẽ Ê-li-pha, con trai của Ê-sau, sanh A-ma-léc
cho người. Ðó là cháu của A-đa, vợ Ê-sau.
13. Còn đây là con trai của
Rê-u-ên: Na-hát, Xê-rách, Sam-ma và Mích-xa. Ấy là các cháu của Bách-mát,
cùng vợ Ê-sau.
14. Và mấy người nầy là con trai của Ô-lô-li-ba-ma, vợ
của Ê-sau, con gái A-na, cháu ngoại Xi-bê-ôn. Nàng sanh cho Ê-sau Giê-úc,
Gai-lam, và Cô-ra.
15. Ðây là các trưởng tộc trong vòng con cháu Ê-sau:
Các con trai Ê-li-pha con trưởng nam của Ê-sau, là trưởng tộc Thê-man,
trưởng tộc Ô-ma, trưởng tộc Xê-phô, trưởng tộc Kê-na,
16. trưởng tộc
A-ma-léc. Ðó là các trưởng tộc do nơi Ê-li-pha sanh tại xứ Ê-đôm, và là
các cháu của A-đa.
17. Ðây là các con trai của Rê-u-ên, con Ê-sau:
trưởng tộc Na-hát, trưởng tộc Xê-rách, trưởng tộc Sam-ma, và trưởng tộc
Mích-xa. Ðó là các trưởng tộc do nơi Rê-u-ên sanh ra tại xứ Ê-đôm, và là
các cháu của Bách-mát.
18. Ðây là các con trai của Ô-lo-li-ba-ma, vợ
Ê-sau: trưởng tộc Giê-úc, trưởng tộc Gia-lam, và trưởng tộc Cô-ra. Ðó là
mấy trưởng tộc do Ô-hô-li-ba-ma, vợ Ê-sau, con gái của A-na, sanh
ra.
19. Ấy là các con trai của Ê-sau, tức là Ê-đôm, và đó là mấy trưởng
tộc của họ.
20. Ðây là các con trai của Sê-i-rơ, người Hô-rít, thuở xưa
ở tại xứ đó: Lô-than, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na,
21. Ði-sôn, Ét-xe, và
Ði-san. Ðó là mấy con trai của Sê-i-rơ, trưởng tộc dân Hô-rít, ở tại xứ
Ê-đôm.
22. Các con trai của Lô-than là Hô-ri và Hê-man; còn Thim-na là
em của gái Lô-than.
23. Ðây là các con trai của Sô-banh: Anh-van,
Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phô, và Ô-nam.
24. Ðây là các con trai của
Xi-bê-ôn: Ai-gia và A-na. Ấy là A-na có tìm đặng suối nước sôi nơi đồng
vắng, trong khi chăn lừa cho Xi-bê-ôn, cha nàng.
25. Ðây là con cái của
A-na: Ði-sôn và Ô-hô-li-ba-ma, con gái người.
26. Ðây là con trai của
Ði-sôn: Hem-đan, Ếch-ban, Dít-ran và Kê-ran.
27. Ðây là con trai của
Ét-xe: Binh-han, Xa-van và A-can.
28. Ðây là con trai của Ði-san: Út-sơ
và A-ran.
29. Còn đây là các trưởng tộc dân Hô-rít: trưởng tộc Lô-than,
trưởng tộc Sô-banh, trưởng tộc Xi-bê-ôn, trưởng tộc A-na,
30. trưởng
tộc Ði-sôn, trưởng tộc Ét-xe, và trưởng tộc Ði-san. Ðó là các trưởng tộc
của dân Hô-rít, ở tại xứ Sê-i-rơ.
31. Trước khi dân Y-sơ-ra-ên chưa có
một vua nào cai trị, thì đây là các vua trị vì xứ Ê-đôm;
32. Bê-la, con
trai Bê-ô, trì vì xứ Ê-đôm; tên thành người là Ðin-ha-ba.
33. Vua Bê-la
băng, Giô-báp, con trai Xê-rách, người Bốt-ra, lên kế vị.
34. Vua
Giô-báp băng, Hu-sam, người xứ Thê-man, lên kế vị.
35. Vua Hu-sam băng,
Ha-đát, con trai Bê-đát, lên kế vị. Ấy là vua nầy đánh thắng dân Ma-đi-an
tại đồng Mô-áp; và tên thành người là A-vít.
36. Vua Ha-đát băng,
Sam-la, người Ma-rê-ca lên kế vị.
37. Vua Sam-la băng, Sau-lơ, người
Rê-hô-bốt ở trên mé sông, lên kế vị.
38. Vua Sau-lơ băng,
Ba-anh-Ha-man, con trai Ạc-bồ, lên kế vị.
39. vua Ba-anh-Ha-nan băng,
Ha-đa lên kế vị. Tên thành người là Ba-u; vợ người là Mê-hê-ta-bê-ên, con
gái của Mát-rết, cháu ngoại Mê-xa-háp.
40. Ðây là trưởng tộc do nơi
Ê-sau sanh ra, kể theo chi tộc, địa hạt và tên mình: trưởng tộc Thim-na,
trưởng tộc Anh-va, trưởng tộc Giê-hết,
41. trưởng tộc Ô-hô-li-ba-ma,
trưởng tộc Ê-la, trưởng tộc Phi-nôn,
42. trưởng tộc Kê-na, trưởng tộc
Thê-man, trưởng tộc Mép-xa,
43. trưởng tộc Mác-đi-ên à trưởng tộc
Y-ram. Ðó là các trưởng tộc của Ê-đôm, tùy theo nhà ở trong xứ của họ. Tổ
phụ của dân Ê-đôm là Ê-sau.
Sáng-thế Ký 37 chọn
đoạn khác
1. Gia-cốp, tại
xứ của cha mình đã kiều ngụ, là xứ Ca-na-an.
2. Ðây là chuyện dòng dõi
của Gia-cốp. Giô-sép, tuổi mười bảy, chăn chiên với các anh mình; người đi
kết bạn cùng con trai Bi-la và con Xinh-ba, hai vợ cha mình. Giô-sép thuật
lại với cha các chuyện xấu của họ nói.
3. Vả, Y-sơ-ra-ên thương yêu
Giô-sép hơn những con trai khác, vì là con muộn mình, nên may cho chàng
một cái áo dài có nhiều sắc.
4. Các anh thấy cha thương Giô-sép hơn bọn
mình, bèn sanh lòng ganh ghét, chẳng có thế lấy lời tử tế nói cùng chàng
được.
5. Giô-sép có nằm chiêm bao, thuật lại cho các anh mình nghe; họ
càng thêm ganh ghét nữa.
6. Người nói rằng: Tôi có điềm chiêm bao, xin
các anh hãy nghe tôi thuật:
7. Chúng ta đương ở ngoài đồng bó lúa, nầy
bó lúa tôi đứng dựng lên, còn bó lúa của các anh đều đến ở chung quanh,
sấp mình xuống trước bó lúa tôi.
8. Các anh người bèn đáp rằng: Vậy,
mầy sẽ cai trị chúng ta sao? mầy sẽ hành-quyền trên chúng ta sao? Họ càng
ganh ghét hơn nữa, vì điềm chiêm bao và lời nói của chàng.
9. Giô-sép
lại nằm chiêm bao nữa, thuật cùng các anh mình rằng: Tôi còn một điềm
chiêm bao nữa: Nầy mặt trời, mặt trăng, và mười một ngôi sao đều sấp mình
xuống trước mặt tôi!
10. Chàng thuật chiêm bao đó lại cho cha và các
anh mình nghe; nhưng cha chàng quở mà hỏi rằng: Ðiềm chiêm bao của mầy đó
có nghĩa chi? Có phải tao, mẹ, và các anh mầy đều phải đến sấp mình xuống
đất trước mặt mầy chăng?
11. Các anh lấy làm ganh ghét chàng; còn cha
lại ghi nhớ lấy điều đó.
12. Các anh chàng đi chăn chiên của cha tại
Si-chem.
13. Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sép rằng: Các anh con có chăn bầy
chiên tại Si-chem chăng? Lại đây, đặng cha sai con đi đến chúng nó.
Giô-sép đáp rằng: Có con đây.
14. Y-sơ-ra-ên biểu rằng: Con hãy đi, xem
thử các anh con ra sao, và các bầy chiên thể nào; rồi đem tin về cho cha
hay. Vậy, từ trũng Hếp-rôn, người sai Giô-sép đi đến Si-chem.
15. Có
một người gặp chàng đi lạc trong đồng ruộng, liền hỏi và nói cùng chàng
rằng: Ngươi tìm chi?
16. Ðáp rằng: Tôi tìm các anh tôi. Xin hãy chỉ
giùm tôi họ chăn bầy chiên nơi nào.
17. Người nói: Các anh ngươi ở đây
đi rồi, vì tôi có nghe họ nói rằng: Ta hãy đi đến Ðô-ta-in. Vậy, Giô-sép,
đi tìm các anh mình, gặp được tại Ðô-ta-in.
18. Các anh thấy chàng đi ở
đàng xa, chưa đến gần, thì đã lập mưu để giết chàng.
19. Chúng bèn nói
nhau rằng: Kìa, thằng nằm mộng đến kia!
20. Bây giờ, nào! chúng ta hãy
giết nó đi, quăng xuống một cái hố nước nào đó; đoạn ta sẽ nói rằng nó đã
bị thú rừng xé ăn, rồi sẽ xem các điềm chiêm bao của nó ra sao.
21.
Ru-bên nghe qua lời đó, liền giải cứu chàng ra khỏi ra các anh mà rằng:
Chúng ta đừng giết chết nó;
22. lại tiếp: Chúng ta chớ nên làm đổ máu
ra; hãy liệng nó trong cái hố nước nơi đồng vắng kia, và đừng tra tay vào
mình nó. Người nói vậy, có ý muốn giải cứu chàng khỏi tay họ, để trả chàng
về cùng cha mình.
23. Vừa khi Giô-sép đến gần các anh, họ bèn lột áo
chàng, là áo có nhiều sắc đương mặc trong mình;
24. rồi, bắt chàng đem
quăng trong hố nước. Vả, hố khô cạn, chẳng có nước.
25. Ðoạn, họ ngồi
lại ăn. Nhướng mắt lên chợt thấy một đoàn dân Ích-ma-ên ở phía Ga-la-át đi
đến, trên lưng lạc đà họ chở đầy thuốc thơm, nhũ hương và một dược đương
đem đi đến xứ Ê-díp-tô.
26. Giu-đa bèn nói cùng các anh em rằng: Giết
em ta mà giấu máu nó, có dùng cho ta được việc chi?
27. Hè! hãy đem bán
nó cho dân Ích-ma-ên và đừng tra tay vào mình nó; vì nó là em, là cốt nhục
của chúng ta. Các anh em đều nghe theo lời người nói.
28. Vả, khi những
lái-buôn Ma-đi-an đi ngang qua, các anh kéo Giô-sép lên khỏi hố nước, rồi
bán chàng giá hai mươi miếng bạc cho dân Ích-ma-ên đem qua xứ
Ê-díp-tô.
29. Ru-bên trở lại hố; nầy Giô-sép đâu mất rồi; bèn xé áo
mình,
30. trở lại nơi các em mình mà rằng: Ôi! đứa trẻ đâu mất rồi! còn
tôi, sẽ đi đâu.
31. Các anh giết một con dê đực, rồi lấy áo Giô-sép
nhúng vào trong máu;
32. đoạn, gởi cái áo nhiều sắc đó đem về cho cha
mình và dặn nói rằng: Ðây là vật chúng tôi đã kiếm được. Vậy, xin hãy nhìn
coi, có phải áo của con trai cha chăng.
33. Gia-cốp nhìn và nói rằng:
Ấy là áo của con trai ta đó; một thú dữ đã xé cấu nó! Quả thật Giô-sép đã
bị phân thây rồi!
34. Người xé quần áo mình ra, lấy bao quấn ngang
hông, và để tang lâu ngày cho con trai mình.
35. Hết thảy con trai, con
gái hiệp lại an ủy người, nhưng không chịu; bèn nói rằng: Ta để tang luôn
xuống chốn âm phủ cùng con ta! Ấy đó, cha Giô-sép khóc than chàng như
vậy.
36. Các lái buôn Ma-đi-an đem Giô-sép đến xứ Ê-díp-tô, bán cho
Phô-ti-pha, quan thị vệ của Pha-ra-ôn.
Sáng-thế Ký 38 chọn
đoạn khác
1.
Trong lúc đó, Giu-đa, lìa xa các anh em mình, đến ở cùng một người
A-đu-lam, tên là Hi-ra.
2. Tại đó, Giu-đa thấy con gái của một người
Ca-na-an, tên là Su-a, bèn cưới làm vợ, và ăn ở cùng nàng.
3. Nàng thọ
thai, sanh được một con trai, đặt tên là Ê-rơ.
4. Nàng thọ thai nữa,
sanh được một con trai đặt tên là Ô-nan;
5. lại sanh thêm một con trai,
đặt tên là Sê-la. Vả, lúc vợ sanh sản, thì Giu-đa ngụ tại Kê-xíp.
6.
Giu-đa cưới cho Ê-rơ, con trưởng nam, một người vợ tên là Ta-ma.
7.
Nhưng Ê-rơ độc ác trước mặt Ðức Giê-hô-va, nên Ngài giết người đi.
8.
Giu-đa bèn biểu Ô-nan rằng: Con hãy lại gần vợ anh con, kết bạn cùng nàng
như em chồng, đặng nối dòng dõi cho anh.
9. Ô-nan biết rằng dòng dõi
nầy sẽ chẳng thuộc về mình, nên đương khi đến cùng nàng, thì làm rơi rớt
xuống đất, để đừng sanh dòng dõi cho anh.
10. Nhưng điều người làm vậy
không đẹp lòng Ðức Giê-hô-va, nên Ngài cũng giết người luôn đi.
11.
Ðoạn, Giu-đa biểu Ta-ma, dâu mình, rằng: Hãy về ở góa bên nhà cha con, cho
đến chừng nào Sê-la, con trai cha, sẽ trở nên khôn lớn. Vì người nói rằng:
Chúng ta hãy coi chừng, e khi nó cũng chết như hai anh nó chăng. Ta-ma bèn
đi về ở nhà cha mình.
12. Ngày qua tháng lại, con gái của Su-a, vợ
Giu-đa, qua đời. Khi đã nguôi lòng, thì Giu-đa đi cùng bạn là Hi-ra, người
A-đu-lam, lên đến nơi mấy thợ hớt lông chiên mình, tại Thim-na.
13.
Người ta cho nàng Ta-ma hay điều đó mà rằng: Nầy, ông gia ngươi đi khiến
Thim-na đặng hớt lông chiên.
14. Nàng bèn cổi áo góa bụa mình lại, rồi
ngồi trước cửa thành Ê-na-im, bên con đường đi về Thim-na; làm vậy là vì
nàng đã thấy Sê-la khôn lớn rồi, nhưng họ không gả mình cho chàng làm
vợ.
15. Giu-đa thấy nàng, cho là một kỵ nữ, vì nàng che mặt,
16. bèn
lại gần mà nói rằng: Hãy cho ta đến cùng nàng; vì cớ ngươi không biết nàng
là dâu mình. Nàng đáp rằng: Ngươi sẽ cho tôi món chi đặng đi đến cùng
tôi?
17. Ðáp rằng: Ta sẽ gởi cho nàng một con dê con của bầy ta. Nàng
hỏi: Người sẽ cho tôi một của chi làm tin, cho đến chừng nào sẽ gởi con
dê?
18. Ðáp rằng: Ta sẽ cho nàng của chi làm tin bây giờ? Nàng đáp: Con
dầu, dây và cây gậy của người đương cầm nơi tay. Người liền cho, đi lại
cùng nàng; nàng thọ thai vì người vậy. Ðoạn, nàng đứng dậy mà đi,
19.
cổi lúp ra và mặc quần áo góa bụa lại.
20. Giu-đa cậy bạn A-đu-lam mình
đem cho con dê con đặng chuộc mấy vật tin nơi tay người đờn bà nầy; nhưng
tìm nàng chẳng thấy.
21. Bạn bèn hỏi dân tại nơi nàng ở rằng: Người kỵ
nữ khi trước ở ngoài đường nơi cửa thành Ê-na-im đâu rồi? Họ đáp rằng: Ở
đây chẳng có một kỵ nữ nào hết.
22. Bạn bèn trở về Giu-đa mà rằng: Tôi
kiếm nàng không đặng; và dân nơi đó có nói: ở đây chẳng có một kỵ nữ
nào.
23. Giu-đa rằng: Nầy, tôi đã gởi dê con đến, mà bạn chẳng thấy
nàng; vậy, để cho nàng giữ lấy của tin đó, chẳng nên gây điều nhơ nhuốc
cho chúng ta.
24. Cách chừng ba tháng sau, người ta có học lại cùng
Giu-đa rằng: Ta-ma, dâu ngươi, đã làm kỵ nữ, và vì nông nổi đó, nàng đã
hoang-thai. Giu-đa đáp: Hãy đem nó ra thiêu đi.
25. Ðương khi người ta
đem nàng ra, thì nàng sai đến nói cùng ông gia rằng: Xin cha hãy nhìn lại
con dấu, dây và gậy nầy là của ai. Tôi thọ thai do nơi người mà có các vật
nầy.
26. Giu-đa nhìn biết mấy món đó, bèn nói rằng: Nàng phải hơn ta,
vì ta không đưa Sê-la, con trai ta, cho nàng. Ðoạn, người không ăn ở cùng
nàng nữa.
27. Ðến kỳ sanh nở, nầy trong bụng nàng có thai đôi.
28.
Ðương lúc sanh nở, một trong hai đứa đưa tay ra trước; bà mụ bắt lấy tay
buộc một sợi chỉ điều, và nói rằng: Ðứa nầy ra trước.
29. Nhưng nó rút
tay vào, thì đây, anh nó lại ra. Bà mụ nói rằng: Mầy, tông rách dường nầy!
Họ đặt tên là Phê-rết.
30. Kế em nó ra sau, là đứa nơi tay có sợi chỉ
điều, và họ đặt tên là Sê-rách.
Sáng-thế Ký 39 chọn
đoạn khác
1. Vả, Giô-sép
bị đem qua xứ Ê-díp-tô, thì Phô-ti-pha, người bổn xứ, làm quan thị vệ của
Pha-ra-ôn, mua chàng nơi thay dân Ích-ma-ên đã dẫn đến.
2. Giô-sép ở
trong nhà chủ mình, là người Ê-díp-tô, được Ðức Giê-hô-va phù hộ, nên
thạnh lợi luôn.
3. Chủ thấy Ðức Giê-hô-va phù hộ chàng và xui cho mọi
việc chi chàng lãnh làm nơi tay đều được thạnh vượng.
4. Vậy, Giô-sép
được ơn trước mặt chủ mình; chủ cắt chàng hầu việc, đặt cai quản cửa nhà,
và phó của cải mình cho chàng hết.
5. Từ khi người đặt Giô-sép cai quản
cửa nhà cùng hết thảy của cải mình rồi, thì Ðức Giê-hô-va vì Giô-sép ban
phước cho nhà người; sự ban phước của Ðức Giê-hô-va bủa khắp mọi vật của
người làm chủ, hoặc trong nhà, hoặc ngoài đồng.
6. Người giao hết của
cải mình cho Giô-sép coi sóc, chẳng lo đến việc nào nữa, trừ ra các phần
vật thực của mình ăn mà thôi. Vả, Giô-sép hình dung đẹp đẽ, mặt mày tốt
tươi.
7. Sau các việc nầy, vợ chủ đưa mắt cùng Giô-sép, mà nói rằng:
Hãy lại nằm cùng ta.
8. Chàng từ chối và đáp rằng: Chủ đã giao nơi tay
tôi mọi vật của người, và nầy, chủ chẳng lo biết đến việc chi trong nhà
nữa;
9. trong nhà nầy chẳng ai lớn hơn tôi, và chủ cùng không cấm chi
tôi, trừ ra một mình ngươi, vì là vợ của chủ tôi. Thế nào tôi dám làm điều
đại ác dường ấy, mà phạm tội cùng Ðức Chúa Trời sao?
10. Thường ngày
người dỗ dành mặc dầu, thì Giô-sép chẳng khấng nghe lời dụ dỗ nằm cùng hay
là ở cùng người chút nào.
11. Một ngày kia, Giô-sép vào nhà đặng làm
công việc; vả, chẳng có người nhà nào ở đó,
12. thì người bèn nắm áo
chàng mà rằng: Hãy nằm cùng ta! Nhưng chàng liền tuột áo để lại trong tay
người mà chạy trốn ra ngoài.
13. Khi người thấy áo còn lại nơi tay
mình, và chàng đã chạy trốn ra ngoài như vậy,
14. bèn gọi người nhà mà
nói rằng: Bay coi! Họ khéo đem vào nhà một thằng Hê-bơ-rơ để chọc ghẹo ta.
Nó lại gần toan nằm cùng ta, nhưng ta la lớn lên.
15. Vừa khi nó nghe
ta cất tiếng la, thì tuột áo lại bên ta, chạy trốn ra ngoài.
16. Người
bèn để áo của Giô-sép bên mình đợi khi chủ về nhà,
17. học lại cùng chủ
y như lời trước, rằng: Thằng nô lệ Hê-bơ-rơ mà ông khéo đem về nhà đã đến
gần đặng chọc ghẹo tôi;
18. nhưng khi tôi cất tiếng la lên, nó tuột áo
lại bên tôi, rồi chạy trốn ra ngoài.
19. Vừa khi chủ của Giô-sép nghe
lời vợ nói rằng: Ðó, kẻ nô lệ ông làm điều như vậy, thì nổi giận phừng
phừng,
20. bèn bắt chàng đem bỏ vào tù, là nơi cầm các kẻ phạm tội của
vua. Vậy, chàng ở tù tại đó.
21. Ðức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép và tỏ
lòng nhân từ cùng chàng, làm cho được ơn trước mặt chủ ngục.
22. Chủ
ngục giao hết các kẻ tù trong tay Giô-sép, chẳng việc chi làm qua khỏi
được chàng.
23. Chủ ngục chẳng soát lại những việc đã ở nơi tay
Giô-sép, vì có Ðức Giê-hô-va phù hộ chàng, xui cho việc chi chàng làm cũng
được thạnh vượng
Sáng-thế Ký 40 chọn
đoạn khác
1. Mấy việc nầy
qua rồi, xảy có quan tửu chánh và quan thượng thiện của vua Ê-díp-tô phạm
đến chúa mình.
2. Pha-ra-ôn nổi giận cùng hai quan mình, là tửu chánh
và thượng thiện,
3. bèn đem họ cần ngục tại dinh quan thị vệ, là nơi
đương cầm Giô-sép.
4. Quan thị vệ cắt phần Giô-sép hầu việc hai quan
đó; họ bị ngồi ngục một ít lâu.
5. Cùng trong một đêm, quan tửu chánh
và quan thượng thiện của vua Ê-díp-tô đương bị cầm ngục, thấy một điềm
chiêm bao, mỗi người một chiêm bao, và mỗi chiêm bao có ý nghĩa rõ
ràng.
6. Sáng mai, Giô-sép đến cùng họ, nhìn thấy sắc buồn bực,
7.
bèn hỏi rằng: Ngày nay sao hai quan có sắc mặt âu sầu vậy?
8. Ðáp rằng:
Chúng tôi có thấy một điềm chiêm bao mà không ai bàn giùm. Giô-sép rằng:
Sự bàn chiêm bao há chẳng do nơi Ðức Chúa Trời ư? Xin hãy thuật lại điềm
chiêm bao của hai quan cho tôi nghe đi.
9. Quan tửu chánh thuật điềm
chiêm bao mình lại cho Giô-sép mà rằng: Trong chiêm bao, tôi thấy một gốc
nho ở trước mặt tôi;
10. gốc nho đó lại có ba nhành. Dường như thấy
nhành nảy chồi, trổ bông, chùm có trái chín thì phải.
11. Tay tôi đương
cầm cái chén của Pha-ra-ôn; tôi hái nho đó, ép nước nho vào, rồi dâng tửu
bôi vào tay Pha-ra-ôn.
12. Giô-sép nói: Ý-nghĩa chiêm bao đó là thể
nầy: Ba nhành nho tức là ba ngày.
13. Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ
tha quan ra khỏi ngục, phục chức lại, quan sẽ dâng cái chén của Pha-ra-ôn
vào tay người như cũ, như khi còn làm chức tửu chánh.
14. Song khi quan
được hưởng lạc lại rồi, xin nhớ đến tôi, làm ơn tâu cùng Pha-ra-ôn về nổi
tôi, và đem tôi ra khỏi chốn nầy.
15. Vì tôi bị người ta bắt đem ra
khỏi xứ của người Hê-bơ-rơ, và tại đây tôi cũng chẳng có làm gì mà bị cầm
nơi lao-lung nầy.
16. Quan thượng thiện thấy Giô-sép bàn mộng được tốt,
bèn nói: Còn trong điềm chiêm bao của tôi đây, tôi đội ba giỏ bánh trắng
trên đầu;
17. trong giỏ cao hơn hết, có đủ món thực vật của thợ làm
bánh hấp cho Pha-ra-ôn; chim đáp vào giỏ trên đầu tôi ăn các món
đó.
18. Giô-sép đáp rằng: Ý-nghĩa chiêm bao nầy là, ba giỏ, tức là ba
ngày.
19. Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ xử trảm quan, sai đem treo
lên cây cho chim chóc ăn thịt quan vậy.
20. Ðến ngày thứ ba, là ngày
sanh-nhựt của Pha-ra-ôn, người bèn bày tiệc đãi cả quần thần, và tha quan
tửu chánh cùng quan thượng thiện ra khỏi ngục.
21. Pha-ra-ôn phục chức
quan tửu chánh lại như xưa, đặng quan nầy dân tửu bôi vào tay mình;
22.
nhưng lại hạ lịnh đem treo quan thượng thiện, y như lời Giô-sép đã bàn
ra.
23. Ðoạn, quan tửu chánh chẳng còn nhớ đến Giô-sép nữa; quên người
đi.
Sáng-thế Ký 41
chọn đoạn khác
1. Cách hai năm sau, Pha-ra-ôn nằm chiêm
bao thấy mình đứng bên bờ sông.
2. Nầy đâu dưới sông đi lên bảy con bò
mập và tốt, ăn cỏ trong bung.
3. Rồi nầy, bảy con bò khác, xấu dạng,
gầy guộc, ở dưới sông đi theo lên sau, đến đứng gần các con bò trước trên
bờ sông.
4. Bảy con bò xấu dạng, gầy guộc nuốt bảy con bò mập tốt.
Pha-ra-ôn bèn thức giấc.
5. Vua nằm ngủ lại, chiêm bao lần thứ nhì,
thấy bảy gié lúa chắc, tốt tươi, mọc chung trên một cộng rạ.
6. Kế đó,
bảy gié lúa khác lép và bị gió đông thổi háp, mọc theo bảy gié lúa
kia.
7. Bảy gié lúa lép nuốt bảy gié lúa chắc. Pha-ra-ôn bèn thức giấc;
và nầy, thành ra một điềm chiêm bao.
8. Sáng mai, tâm thần người bất
định, truyền đòi các pháp-sư và các tay bác sĩ xứ Ê-díp-tô đến, thuật lại
điềm chiêm bao mình cho họ nghe; nhưng chẳng có ai bàn được điềm chiêm bao
đó cho vua hết.
9. Quan tửu chánh bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Bây giờ,
tôi nhớ đến lỗi của tôi.
10. Ngày trước, bệ hạ nổi giận cùng quần thần,
có cầm ngục quan thượng thiện và tôi nơi dinh quan thị vệ.
11. Trong
lúc đó, cùng một đêm kia, chúng tôi có thấy điềm chiêm bao, chiêm bao mỗi
người đều có ý nghĩa riêng rõ ràng.
12. Tại đó, cùng chung ngục, có một
người Hê-bơ-rơ, còn trẻ, kẻ gia-đinh của quan thị vệ; chúng tôi thuật lại
cho chàng nghe điềm chiêm bao của mình; chàng bàn rõ ra cho ai mỗi chiêm
bao nấy.
13. Rồi ra, công việc xảy đến y như lời chàng bàn: bệ hạ phục
chức tôi lại, và xử treo quan kia.
14. Pha-ra-ôn bèn sai đi đòi
Giô-sép; họ lập tức tha người ra khỏi ngục, cạo mặt mày cho, biểu thay đổi
áo xống, rồi vào chầu Pha-ra-ôn.
15. Pha-ra-ôn phán cùng Giô-sép rằng:
Trẫm có thấy một điềm chiêm bao mà chẳng ai bàn ra. Vậy, trẫm nghe rằng
khi người ta thuật điềm chiêm bao lại cho, thì ngươi bàn được.
16.
Giô-sép tâu rằng: Ðó chẳng phải tôi, nhưng ấy là Ðức Chúa Trời đem sự bình
an đáp cho bệ hạ vậy.
17. Pha-ra-ôn phán rằng: Nầy, trong điềm chiêm
bao trẫm đương đứng bên bờ sông.
18. Nầy đâu bảy con bò mập và tốt dưới
sông đi lên, đến ăn cỏ trong bưng.
19. Rồi bảy con bò khác xấu dạng gầy
guộc đi theo lên sau; thật trẫm chẳng thấy trong xứ Ê-díp-tô nầy có bò xấu
dạng như vậy bao giờ.
20. Bảy con bò xấu dạng gầy guộc đó nuốt bảy con
bò mập tốt trước kia,
21. nuốt vào bụng, mà dường như không có nuốt, vì
các con bò đó vẫn xấu dạng như xưa.
22. Trẫm bèn thức giấc; rồi lại
thấy điềm chiêm bao khác, là bảy gié lúa chắc tốt tươi mọc chung trên một
cộng rạ.
23. Kế đó, bảy gié lúa khác, khô, lép, bị gió đông thổi háp,
mọc theo bảy gié lúa kia;
24. và bảy gié lúa lép đó lại nuốt bảy gié
lúa chắc. Trẫm đã thuật điềm chiêm bao nầy cho các pháp-sư, nhưng không ai
giải nghĩa ra được.
25. Giô-sép tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Hai điềm chiêm
bao của bệ hạ thấy đó đồng một nghĩa mà thôi; Ðức Chúa Trời mách cho bệ hạ
biết trước những việc Ngài sẽ làm.
26. Bảy con bò mập tốt đó, tức là
bảy năm; bảy gié lúa chắc đó cũng là bảy năm. Ấy chỉ đồng một điềm chiêm
bao vậy.
27. Bảy con bò xấu dạng gầy guộc lên theo sau bảy con bò kia,
tức là bảy năm; và bảy gié lúa lép bị gió đông thổi háp đó, tức là bảy năm
đói kém.
28. Ấy là điều tôi đã tâu cùng bệ hạ rồi: Ðức Chúa Trời có cho
bệ hạ thấy những việc Ngài sẽ làm.
29. Nầy, trong khắp xứ Ê-díp-tô sẽ
có bảy năm được mùa dư dật.
30. Nhưng bảy năm đó lại liền tiếp bảy năm
đói kém; dân bổn xứ đều sẽ quên sự dư dật đó, và ách đói kém sẽ làm cho
toàn xứ hao mòn.
31. Và vì sự đói kém liên tiếp nầy lớn quá, nên thiên
hạ chẳng còn thấy chi về sự dư dật đó nữa.
32. Nếu điềm chiêm bao đến
hai lần cho bệ hạ, ấy bởi Ðức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi, và Ngài
mau mau lo làm cho thành vậy.
33. Bây giờ bệ hạ khá chọn một người
thông minh trí-huệ, lập người lên làm đầu trong xứ Ê-díp-tô,
34. cùng
lập các ủy viên trong xứ, để góp một phần năm của số thâu vào trong bảy
năm được mùa dư dật đó.
35. Họ hãy thâu góp hết thảy mùa màng trong bảy
năm được mùa dư dật sẽ đến sau nầy, cùng thâu thập lúa mì sẵn dành cho
Pha-ra-ôn, dùng làm lương để dành trong các thành, và họ hãy giữ gìn
lấy.
36. Các lương thực nầy phải để dành cho bảy năm đói kém sẽ đến
trong xứ Ê-díp-tô, hầu cho xứ nầy khỏi bị diệt bởi sự đói kém đó.
37.
Các lời nầy đẹp ý Pha-ra-ôn và quần thần.
38. Pha-ra-ôn phán cùng quần
thần rằng: Chúng ta há dễ tìm một người như người nầy, có thần minh của
Ðức Chúa Trời được sao?
39. Pha-ra-ôn phán cùng Giô-sép rằng: Vì Ðức
Chúa Trời xui cho ngươi biết mọi việc nầy, thì chẳng còn ai được thông
minh trí-huệ như ngươi nữa.
40. Vậy, ngươi sẽ lên cai trị nhà trẫm; hết
thảy dân sự của trẫm đều sẽ vâng lời ngươi. Trẫm lớn hơn ngươi chỉ vì ngự
ngôi vua mà thôi.
41. Pha-ra-ôn lại phán cùng Giô-sép rằng: Hãy xem!
trẫm lập ngươi cầm quyền trên cả xứ Ê-díp-tô.
42. Vua liền cổi chiếc
nhẫn trong tay mình, đeo vào tay Giô-sép, truyền mặc áo vải gai mịn, và
đeo vòng vàng vào cổ người;
43. rồi, truyền cho lên ngồi sau xe vua, có
người đi trước hô rằng: Hãy quì xuống! Ấy, Giô-sép được lập lên cầm quyền
cả xứ Ê-díp-tô là vậy.
44. Pha-ra-ôn phán cùng Giô-sép: Ta là
Pha-ra-ôn, nhưng nếu chẳng có ngươi, thì trong cả xứ Ê-díp-tô không có ai
giơ tay đưa chơn lên được.
45. Pha-ra-ôn đặt tên Giô-sép là
Xa-phơ-nát-Pha-nê-ách, đưa nàng Ách-nát, con gái Phô-ti-phê-ra, thầy cả
thành Ôn, cho người làm vợ. Người thường tuần hành trong xứ
Ê-díp-tô.
46. Vả, khi Giô-sép ra mắt Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, thì người
đã ba mươi tuổi. Vậy, người từ tạ Pha-ra-ôn mà đi tuần khắp xứ
Ê-díp-tô.
47. Trong bảy năm được mùa dư dật, đất sanh sản ra đầy
dẫy.
48. Giô-sép bèn thâu góp hết thảy lương thực của bảy năm đó trong
xứ Ê-díp-tô, và chứa lương thực nầy khắp các thành; trong mỗi thành, đều
dành chứa hoa lợi của các ruộng ở chung quanh thành đó.
49. Vậy,
Giô-sép thâu góp lúa mì rất nhiều, như cát nơi bờ biển, cho đến đỗi người
ta đếm không được, vì đầy dẫy vô số.
50. Trước khi đến năm đói kém, thì
Ách-nát, con gái Phô-ti-phê-ra, thầy cả thành Ôn, sanh cho Giô-sép hai con
trai.
51. Giô-sép đặt tên đứa đầu lòng là Ma-na-se, vì nói rằng: Ðức
Chúa Trời đã làm cho ta quên điều cực nhọc, và cả nhà cha ta.
52. Người
đặt tên đứa thứ nhì là Ép-ra-im, vì nói rằng: Ðức Chúa Trời làm cho ta
được hưng vượng trong xứ mà ta bị khốn khổ.
53. Bảy năm được mùa dư dật
trong xứ Ê-díp-tô bèn qua,
54. thì bảy năm đói kém khởi đến, y như lời
Giô-sép đã bàn trước. Khắp các xứ khác cũng đều bị đói, nhưng trong cả xứ
Ê-díp-tô lại có bánh.
55. Ðoạn, cả xứ Ê-díp-tô đều bị đói, dân chúng
đến kêu cầu Pha-ra-ôn xin lương. Pha-ra-ôn phán cùng bổn dân rằng: Hãy đi
đến Giô-sép, rồi làm theo lời người sẽ chỉ bảo cho.
56. Khi khắp xứ bị
đói kém, thì Giô-sép mở mọi kho lúa mà bán cho dân Ê-díp-tô.
57. Xứ
càng đói nhiều nữa; vả, vì khắp thế gian đều bị đói quá, nên đâu đâu cũng
đổ đến Ê-díp-tô mùa lúa nơi Giô-sép bán.
Sáng-thế Ký 42 chọn
đoạn khác
1.
Gia-cốp thấy xứ Ê-díp-tô có lúa bán ra, bèn nói cùng các con trai mình
rằng: Sao bay ngơ ngẩn nhìn nhau vậy?
2. Lại rằng: Nầy, cha nghe dưới
xứ Ê-díp-tô có lúa bán; bay hãy xuống đó mua lúa cho chúng ta, hầu cho
chúng ta sống và khỏi chết, chớ!
3. Mười người anh của Giô-sép bèn
xuống Ê-díp-tô đặng mua lúa.
4. Nhưng Gia-cốp không cho Bên-gia-min, em
Giô-sép, đi cùng các anh; vì nghĩ rằng: Ta nên giữ chừng, kẻo xảy ra điều
rủi ro cho nó.
5. Xứ Ca-na-an bấy giờ cũng đói, nên các con trai của
Y-sơ-ra-ên cũng đổ xuống Ê-díp-tô mua lúa như các người khác.
6. Vả,
lúc nầy, chánh Giô-sép cai trị trong nước, và bán lúa cho cả dân bổn xứ.
Các anh Giô-sép bèn đến, sấp mình xuống trước mặt người.
7. Giô-sép
thấy, nhìn biết các anh mình; nhưng giả làm mặt lạ cùng họ, nói một cách
xẳng rằng: Các ngươi ở đâu đến? Ðáp rằng: Ở xứ Ca-na-an đến đặng mua
lúa.
8. Vậy, Giô-sép nhìn biết các anh mình; nhưng họ nhìn lại chẳng
ra.
9. Giô-sép nhớ lại điềm chiêm bao mình đã thấy về anh em mình, liền
thét rằng: Các ngươi là thám tử, đến đây đặng dòm hành những nơi yếu óp
của xứ ta.
10. Ðáp rằng: Thưa chúa, chẳng phải vậy; các tôi tớ chúa đến
đặng mua lúa mà thôi.
11. Chúng tôi đây đều là con một cha, vốn nhà
lương thiện, chẳng phải là thám tử đâu.
12. Người đáp lại rằng: Chẳng
phải; các ngươi đến đặng dòm hành những nơi yếu óp của xứ nầy.
13. Ðáp
rằng: Kẻ tôi tớ chúa có mười hai anh em, con của một cha, nguyên xứ
Ca-na-an; nầy một người đã đi mất biệt, còn người út hiện bây giờ hãy ở
tại nhà cùng cha chúng tôi.
14. Giô-sép nói: Ấy quả thật như ta nói,
các ngươi là thám tử.
15. Ðây là điều ta thử các ngươi: Ta chỉ mạng
Pha-ra-ôn mà thề rằng, hễ em út các ngươi không đến đây thì chẳng bao giờ
các ngươi ra khỏi chốn nầy được.
16. Hãy sai một người nào trong bọn
các ngươi về dẫn em út xuống; còn bao nhiêu thì phải ở tù lại đây. Lời các
ngươi phải thử đã, rồi ta sẽ biết các ngươi nói đó có quả thật chăng. Nếu
chẳng thật, thì ta chỉ mạng Pha-ra-ôn thề rằng, các ngươi là thám tử
đó.
17. Ðoạn, Giô-sép truyền đem giam họ chung trong ngục ba
ngày.
18. Ngày thứ ba, Giô-sép nói cùng họ rằng: Ta kính sợ Ðức Chúa
Trời; hãy làm như điều nầy, thì được sống.
19. Nếu các ngươi vốn nhà
lương thiện, thì hãy để một người nào ở tù lại đây, còn bao nhiêu đem
lương thực về nuôi đói cho nhà các ngươi.
20. Ðoạn, hãy dẫn em út xuống
đây, thì lời các ngươi sẽ cho là thật, và các ngươi chẳng phải chết. Vậy,
họ nghe theo.
21. Họ bèn nói với nhau rằng: Quả thật chúng ta cam tội
cùng em ta ra; vì lúc trước ta thấy tâm hồn nó buồn thảm khi nó xin nhờ
ơn, nhưng ta không khứng cho; vậy nên tai vạ nầy mới xảy đến cho chúng
ta.
22. Ru-bên đáp rằng: Anh há không có nói cùng các em rằng: Chớ phạm
tội nầy cùng đứa trẻ đó sao? Nhưng các em không nghe; nên bây giờ huyết nó
đòi chúng ta thường lại.
23. Vả, Giô-sép vẫn dùng người thông ngôn nói
chuyện lại cùng các anh, nên họ tưởng Giô-sép chẳng nghe hiểu.
24.
Giô-sép xây mặt qua chỗ khác mà khóc. Ðoạn xây mặt lại nói chuyện cùng họ;
bèn bắt Si-mê-ôn trong vòng anh em, truyền trói lại trước mặt họ.
25.
Giô-sép truyền đầy tớ xúc lúa đổ đầy bao và để bạc lại trong đó cho mỗi
người anh em, cũng để thêm lương thực dùng dọc đường. Ðầy tớ làm y như
lời.
26. Ðoạn, anh em chất mấy bao lúa lên lưng lừa, rồi đi.
27. Ðến
quán, một người trong bọn mở bao ra cho lừa ăn thóc, thấy bạc mình ở tại
miệng bao;
28. bèn nói cùng anh em rằng: Bạc của tôi trả lại, hiện
trong bao tôi đây! Các anh em nhát gan, vừa nói với nhau, vừa run, mà
rằng: Ðức Chúa Trời đã làm chi cho chúng ta đây?
29. Các anh em trở về
cùng Gia-cốp, cha mình, tại xứ Ca-na-an, thuật lại cho người nghe mọi nỗi
đã xảy đến, rằng:
30. người đương làm chúa tại xứ Ê-díp-tô nói với
chúng tôi cách xẳng xớm, cho chúng tôi là thám tử.
31. Song chúng tôi
có thưa cùng người rằng: Chúng tôi vốn nhà lương thiện, nào có phải là
thám tử đâu.
32. Chúng tôi được mười hai anh em, con một cha; một người
đã đi mất biệt, còn người út hiện bây giờ ở nhà cùng cha, tại xứ
Ca-na-an.
33. Người làm chúa xứ đó dạy rằng: Làm như vầy, ta mới cho
các ngươi là lương thiện: Hãy để lại cùng ta một người nào trong bọn các
ngươi, còn bao nhiêu sẽ đem lương thực về nuôi đói cho nhà các
ngươi;
34. đoạn, hãy dẫn em út đến cho ta. Vậy, ta mới biết rằng các
ngươi chẳng phải là thám tử, nhưng là người lương thiện; ta sẽ giao em lại
cho, và các ngươi sẽ được buôn bán trong xứ nầy.
35. Vả, đương khi các
anh em trút lúa mì ra bao, nầy đâu, trong mỗi bao có gói bạc của mỗi
người; cha và các anh em thấy những gói bạc mình, đều lấy làm sợ
hãi.
36. Gia-cốp, cha họ bèn nói rằng: Bay làm mất các con tao; Giô-sép
đã mất biệt, Si-mê-ôn cũng mất biệt; mà bây giờ, lại muốn dẫn Bê-gia-min
đi nữa sao! Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết!
37. Ru-bên thưa
lại cùng cha rằng: Cha hãy giao em nơi tôi, tôi sẽ dẫn về cho. Ví bằng
chẳng dẫn em về, thì cha hãy giết hai đứa con trai tôi đi.
38. Nhưng
Gia-cốp đáp rằng: Con út tao sẽ chẳng đi xuống với bay đâu; vì anh nó đã
chết rồi, chỉ còn một mình nó mà thôi. Nếu điều rủi ro chi xảy đến cho nó
nơi dọc đường bay đi, tức nhiên bay làm cho kẻ tóc bạc nầy đau lòng xót dạ
xuống âm phủ.
Sáng-thế
Ký 43 chọn đoạn khác
1. Vả, sự đói kém trong xứ lớn
lắm.
2. Khi nội nhà đã ăn hết lương thực ở xứ Ê-díp-tô đem về rồi, thì
cha các người ấy dạy rằng: Bay hãy trở xuống mua một ít lương thực cho
chúng ta.
3. Giu-đa thưa: Người đó có nói quyết cùng các con rằng: Ví
em út không theo xuống với các ngươi, thì sẽ không bao giờ thấy mặt
ta.
4. Nếu cha cho em đi với, thì chúng tôi mới xuống Ê-díp-tô mua
lương thực cho cha được.
5. Bằng không, thì chúng tôi chẳng trở xuống
đâu, vì người đó đã nói rằng: Ví em út không theo xuống với các ngươi, thì
sẽ không bao giờ thấy mặt ta.
6. Y-sơ-ra-ên quở rằng: Sao bay khéo tệ
cùng tao, mà tỏ cho người ấy rằng bay còn một em nữa?
7. Thưa rằng:
Người đó hỏi kỹ càng về chúng tôi, và về bà con chúng tôi rằng: Thân-phụ
các ngươi còn sống chăn? cò có một người anh em nào nữa chăng? Chúng tôi
có đáp các lời hỏi đó. Há dễ biết người đó sẽ dặn chúng tôi rằng: Hãy đem
em út xuống đây, sao?
8. Giu-đa lại thưa cùng Y-sơ-ra-ên cha mình,
rằng: Hãy cho đứa trẻ theo con, thì chúng tôi sẽ đứng dậy đi, hầu cho
chúng ta, nào các con, nào cha, nào các cháu của cha đây đều được sống và
khỏi chết.
9. Con sẽ bảo lãnh em cho; cha sẽ cứ nơi con mà đòi em. Nếu
không dẫn em về không để em trước mặt cha, thì con đây sẽ cam tội cùng cha
mãi mãi.
10. Vả, nếu không có điều dùng dằng, thì chúng tôi đã đi và về
được hai lần rồi.
11. Ðoạn, Y-sơ-ra-ên, cha các anh em, nói rằng: Nếu
việc đã thể kia, thì bay phải làm thể nầy: Hãy lấy trong đồ hành lý những
thổ sản quí nhứt của xứ ta: một ít nhũ hương và mật ong, các hương hoa và
một dược, phi tử và hạnh nhân, đem dâng cho người đó làm của lễ.
12.
Hãy đem theo một số tiền bằng hai, đặng thối hồi tiền mà họ đã để lại nơi
miệng bao của bay: có lẽ là một sự lộn chăng.
13. Bay hãy đứng dậy đi,
dẫn em út theo và trở xuống đến người đó.
14. Cầu xin Ðức Chúa Trời
toàn năng xui cho bay được ơn trước mặt người, và tha đứa em kia và
Bên-gia-min cho bay. Còn phần cha, nếu phải mất con, thì cha chịu phận
vậy!
15. Vậy, các anh em đem theo của lễ và một số tiền bằng hai, cùng
dẫn Bên-gia-min đồng đứng dậy đi xuống Ê-díp-tô, mà ra mắt Giô-sép.
16.
Vừa khi Giô-sép thấy Bên-gia-min đi theo xuống với, bèn truyền cho quản
gia rằng: Hãy đua các người nầy vào nhà trong, bắt con gì làm thịt và nấu
dọn đi; vì trưa nầy họ sẽ dùng bữa cùng ta.
17. Quản gia làm theo y như
lời dặn, đưa họ vào nhà Giô-sép.
18. Anh em thấy mình phải đưa vào nhà
Giô-sép, thì sợ hãi, và nói với nhau rằng: Ấy cũng vì số tiền đã để lại
vào bao chúng ta lần trước, nên họ mới đem chúng ta vào chốn nầy, đặng tìm
cớ xông vào đánh chúng ta, bắt chúng ta làm tôi mọi, và chiếm đoạt mấy con
lừa của chúng ta.
19. Mấy anh em bèn đến gần quản gia của Giô-sép, thưa
cùng người tại ngoài cửa
20. mà rằng: Xin chúa tha lỗi cho! anh em
chúng tôi đã đến đây một lần rồi, đặng mua lương thực;
21. và khi trở
về đến nhà quán, mở các bao ra, nầy số bạc của mỗi người đều ở tại miệng
bao mình; cân nặng bao nhiêu đều y như bấy nhiêu. Nầy, chúng tôi có đem
lại số bạc đó,
22. và cũng có đem thêm số bạc nữa đặng mua lương thực.
Chẳng biết ai để bạc lại trong bao chúng tôi.
23. Quản gia đáp rằng:
Mọi việc đều bình yên! đừng sợ chi cả! Ấy là Ðức Chúa Trời của các ngươi,
tức Ðức Chúa Trời của cha các ngươi, đã ban vật quí vào bao. Còn bạc các
ngươi thì đã có giao cho ta. Ðoạn, người dẫn Si-mê-ôn đến cùng anh
em;
24. rồi đưa anh em vào nhà Giô-sép, đem nước ra cho rửa chơn, và
cũng cho những lừa ăn cỏ nữa.
25. Các anh em bèn sửa soạn của lễ, đợi
trưa Giô-sép về; vì có hay rằng mình sẽ ăn bữa tại nhà nầy.
26. Khi
Giô-sép trở về, các anh em bèn lấy của lễ đã đem theo, dâng cho Giô-sép
tại nhà; rồi cùng sấp mình xuống đất trước mặt người.
27. Người liền
hỏi thăm họ mạnh giỏi thể nào, và nói rằng: Người cha già mà các ngươi đã
nói cùng ta đó được mạnh khỏe chăng? còn sống chăng?
28. Ðáp rằng: Kẻ
tôi tớ cháu, là cha chúng tôi, vẫn mạnh khỏe và còn sống. Ðoạn, họ cùi đầu
và lạy.
29. Giô-sép nhướng mắt thấy Bên-gia-min, em ruột, con trai của
mẹ mình, thì hỏi rằng: Ðó có phải em út mà các ngươi đã nói cùng ta chăng?
Và tiếp rằng: Con út ơi! cầu xin Ðức Chúa Trời làm ơn cho ngươi!
30. Vì
thấy em mình, nên Giô-sép tất lòng cảm động, lật đật bước ra ngoài, tìm
nơi nào đặng khóc. Người vào phòng nhà trong và khóc.
31. Ðoạn, rửa
mặt, bước ra, làm bộ chắc gan mà nói rằng: Hãy dọn bữa ăn đi.
32. Người
ta dọn cho Giô-sép ăn riêng, và cho các anh em ăn riêng. Người Ê-díp-tô ăn
chung cùng người cũng dọn cho ngồi riêng nữa; vì người Ê-díp-tô có tánh
gớm người Hê-bơ-rơ, nên không ăn chung được.
33. Vậy, các anh em bèn
ngồi lại trước mặt Giô-sép, lớn nhỏ tùy theo thứ tự mình, ngơ ngẩn mà nhìn
nhau.
34. Giô-sép sai đem mấy món đồ ăn trước mặt mình cho các anh em;
nhưng phần Bên-gia-min lại nhiều gấp năm của các người khác. Họ uống và ăn
ngon vui cùng Giô-sép.
Sáng-thế Ký 44 chọn
đoạn khác
1. Giô-sép bèn
truyền lịnh cho quản gia rằng: Hễ các người đó chở nổi bao nhiêu, thì hãy
đổ lương thực cho họ đầy bao bấy nhiêu, rồi để bạc của mỗi người lại nơi
miệng bao họ.
2. Lại hãy để cái chén bằng bạc ta tại miệng bao chung
với bạc mua lúa của người út nữa. Quản gia bèn làm y như lời Giô-sép dặn
mình.
3. Ngày mai, trời vừa sáng, người ta cho các người đó và lừa
về.
4. Khi đi ra khỏi thành chưa xa, Giô-sép nói cùng quản gia rằng:
Ngươi hãy đứng dậy, đuổi theo mấy người đó; khi theo kịp rồi, hãy nói
rằng: Sao các ngươi lấy oán trả ơn như vậy?
5. Có phải cái chén nầy là
của chúa ta thường dùng uống rượu và bói chăng? Các ngươi đã làm một việc
chẳng thiện đó.
6. Quản gia theo kịp, lặp lại mấy lời ấy;
7. các anh
em bèn đáp rằng: Sao chúa nói như vậy? Chẳng bao giờ kẻ tôi tớ chúa có
tưởng làm đến việc thế nầy!
8. Ðây, từ xứ Ca-na-an chúng tôi có đem bạc
đã được nơi miệng bao xuống giao lại cho người thay; dễ nào lại có ý mong
ăn cắp bạc hay vàng của dinh chủ người sao?
9. Xin cho kẻ tôi tớ nào mà
người tìm được cái chén đó phải chết đi, và chính chúng tôi sẽ làm tôi mọi
cho chúa.
10. Quản gia đáp: Ừ thôi! hãy làm như lời các ngươi đã nói:
ta tìm được chén nơi ai thì người đó sẽ làm tôi mọi cho ta đó; còn các
người thì vô tội.
11. Tức thì, mỗi người lật đật hạ bao mình xuống đất
và mở ra.
12. Quản gia lục soát, bắt từ bao anh cả lần đến bao em út.
Cái chén bèn tìm đặng trong bao Bê-gia-min.
13. Mỗi người xé áo mình
ra, chất bao lúa lên lưng lừa, rồi cùng trở lại thành.
14. Giu-đa cùng
anh em đồng vào đến nhà Giô-sép, người hãy còn ở nơi đó; họ bèn sấp mình
xuống đất trước mặt người.
15. Giô-sép hỏi: Các ngươi gây nên nông nỗi
chi vậy? Há chẳng biết một kẻ như ta đây có tài bói sao?
16. Giu-đa
đáp: Chúng tôi sẽ nói cùng chúa làm sao? sẽ phân lại làm sao? sẽ chữa mình
chúng tôi làm sao? Ðức Chúa Trời đã thấu rõ điều gian ác của tôi tớ chúa
rồi. Nầy, chúng tôi cùng kẻ đã bị bắt được chén nơi tay đều làm kẻ tôi tớ
cho chúa.
17. Nhưng Giô-sép đáp rằng: Ta chẳng hề có ý làm như vậy đâu!
Người mà đã bị bắt được chén nơi tay sẽ làm tôi mọi ta; còn các ngươi hãy
trở về nhà cha mình bình yên.
18. Giu-đa bèn lại gần Giô-sép mà thưa
rằng: Vì chúa ngang vai Pha-ra-ôn, xin lỗi chúa, chớ nổi giận cùng kẻ tôi
tớ, để tôi nói một lời cho chúa nghe.
19. Chúa có hỏi kẻ tôi tớ rằng:
Các ngươi còn cha hay là anh em nào chăng?
20. Có thưa lại cùng chúa
rằng: Chúng tôi còn một cha già, cùng một con trai đã sanh muộn cho người.
Anh ruột đứa nầy đã chết rồi, nên trong vòng các con của mẹ nó, nó còn một
mình, và cha thương nó lắm.
21. Vả, chúa có dặn rằng: Hãy dẫn nó xuống
đến ta, hầu cho ta thấy nó được tận mắt.
22. Và chúng tôi có thưa lại
cùng chúa rằng: Ðứa trẻ chẳng lìa cha được; nếu lìa ra thì cha sẽ
chết.
23. Nhưng chúa lại dạy: Nếu em út không theo các ngươi xuống đây,
thì các ngươi chẳng còn thấy mặt ta nữa.
24. Nên khi chúng tôi trở về
nhà kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, thì chúng tôi có thuật lại cho người nghe
những lời của chúa.
25. Kế ấy, cha lại biểu chúng tôi rằng: Hãy trở
xuống đặng mua một ít lương thực.
26. Chúng tôi thưa lại rằng: Không
được; nhưng nếu em út đi theo cùng, thì mới trở xuống được; bằng không,
thì chúng tôi không thế ra mắt người đó.
27. Kẻ tôi tớ chúa, là cha
tôi, đáp rằng: Bây biết rằng vợ ta sanh cho ta hai đứa con trai;
28.
một đứa đã từ ta đi mất-biệt; ta cũng đã nói: Chắc đã bị thú dữ xé rồi, vì
đến bây giờ chưa thấy lại.
29. Nếu bây còn dắt đứa nầy đi khỏi mặt ta
nữa, rủi có điều tai hại chi xảy đến cho nó, tức nhiên bây sẽ làm cho kẻ
tóc bạc nầy đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ.
30. Cha thương em út tôi
lắm đến đỗi hai linh hồn khắng khít nhau; nếu bây giờ, khi tôi trở về nơi
kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, mà không có em út đó,
31. thì khi vừa thấy
con út không còn nữa, chắc người sẽ chết. Nếu vậy, các tôi tớ chúa sẽ làm
cha già tóc bạc của chúng tôi, cũng là kẻ tôi tớ chúa, đau lòng xót dạ
xuống âm phủ.
32. Vì kẻ tôi tớ nầy có chịu bảo lãnh đứa con út đó mà
thưa rằng: Nếu con không đem em về cho cha, thì sẽ cam tội cùng cha mãi
mãi.
33. Vậy bây giờ, xin cho kẻ tôi tớ chúa ở tôi mọi thế cho đứa trẻ,
đặng nó theo trở lên cùng các anh mình.
34. Vì, nếu đứa trẻ không theo
về, làm sao tôi dám về cùng cha tôi? Ôi, tôi nỡ nào thấy điều tai họa của
cha tôi ư!
Sáng-thế Ký
45 chọn đoạn khác
1. Bây giờ, Giô-sép không còn thể nào
cầm lòng cho đậu được trước mặt các người hầu chung quanh, bèn la lên
rằng: Hãy đuổi họ ra hết thảy! Khi Giô-sép tỏ thật cùng các anh em mình,
thì không có một người nào khác ở tại đó hết.
2. Người cất tiếng lên
khóc; dân Ê-díp-tô nghe và nhà Pha-ra-ôn nghe nữa.
3. Giô-sép nói cùng
anh em rằng: Tôi là Giô-sép. Cha tôi còn sống chăng? Nhưng trước mặt người
các anh em bối rối, chẳng đáp lời được.
4. Người lại nói rằng: Các anh
em hãy lại gần tôi. Họ bèn lại gần. Người nói: Tôi là Giô-sép, em mà các
anh đã bán đặng bị dẫn qua xứ Ê-díp-tô.
5. Bây giờ, đừng sầu não, và
cũng đừng tiếc chi về điều các anh đã bán tôi đặng bị dẫn đến xứ nầy; vì
để giữ gìn sự sống các anh, nên Ðức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các
anh.
6. Kìa, hai năm rồi trong xứ đã bị đói kém, và còn năm năm nữa sẽ
không còn cày cấy chi, gặt hái chi được hết.
7. Ðức Chúa Trời sai tôi
đến đây trước, đặng làm cho các anh còn nối dòng trên mặt đất, và nương
một sự giải cứu lớn đặng giữ gìn sự sống cho anh em.
8. Không, chẳng
phải các anh sai tôi đến đây đâu, ấy là Ðức Chúa Trời; Ngài dường đặt tôi
làm cha Pha-ra-ôn, cai quản cả nhà người, vì trị khắp xứ Ê-díp-tô.
9.
Các anh hãy mau mau trở về cha tôi đi, và nói với người rằng: Giô-sép, con
của cha, có nói như vầy: Ðức Chúa Trời đã đặt tôi làm chúa cả xứ Ê-díp-tô,
cha hãy xuống với tôi; xin đừng chậm trễ,
10. cha, các con, các cháu,
các chiên, bò cùng tài vật của cha sẽ ở tại xứ Gô-sen gần tôi đây.
11.
Ở đó tôi sẽ nuôi cha, (vì còn năm năm đói kém nữa), e khi cha, người nhà
cha, và hết thảy loài vật của cha phải bị ách mà hao mòn.
12. Này, các
anh và Bên-gia-min, em tôi, đã thấy tận mắt rằng, chánh miệng tôi đã nói
chuyện cùng các anh em đó.
13. Vậy, hãy thuật lại các điều vinh hiển
của tôi tại xứ Ê-díp-tô, cùng mọi việc mà anh em đã thấy cho cha nghe, và
hãy mau mau dời cha xuống đây.
14. Ðoạn, người ôm lấy cổ Bên-gia-min,
em mình, mà khóc; Bên-gia-min cũng ôm cổ người mà khóc.
15. Người cũng
ôm các anh mình mà khóc. Ðoạn, anh em nói chuyện cùng người.
16. Lập
tức, tiếng đồn đến nhà Pha-ra-ôn rằng: Anh em Giô-sép đã đến. Pha-ra-ôn và
quần thần nghe lấy làm đẹp dạ.
17. Pha-ra-ôn bèn phán cùng Giô-sép
rằng: Hãy dặn các anh em ngươi rằng: Hãy chỡ đồ lên lừa, đi trở về xứ
Ca-na-an,
18. rước cha và người nhà của các ngươi xuống ở cùng ta. Ta
sẽ nhượng cho vật tốt nhất trong xứ Ê-díp-tô, và các ngươi sẽ hưỡng mầu mỡ
của đất.
19. Còn ta dặn ngươi hãy nói lại cùng họ như vậy: Hãy đem xe
cộ từ xứ Ê-díp-tô về cho con nhỏ và vợ mình, cùng dời cha các ngươi xuống
đây.
20. Ðừng tiếc tài vật mình, vì vật tốt nhất của xứ Ê-díp-tô sẽ về
phần các ngươi.
21. Các con trai của Y-sơ-ra-ên làm y như lời; Giô-sép
vâng mạng Pha-ra-ôn, đưa những xe cộ cho anh em mình, và luôn vật thực
dùng trong lúc đi đường.
22. Người cũng đưa áo xống mặc đổi thay cho
mỗi người, còn Bên-gia-min, người cho trăm miếng bạc cùng năm bộ áo
xống.
23. Người cũng sai đem về cho cha mình mười con lừa chỡ các vật
quí nhất trong xứ Ê-díp-tô, mười con lừa cái chỡ lúa, bánh, và lương thực
để dành dùng trong khi cha đi đường.
24. Vậy, Giô-sép đưa anh em mình
lên đường. Lại dặn họ rằng: Xin anh em đừng cải lẫy nhau dọc đường.
25.
Các anh em ở Ê-díp-tô trở lên và đến xứ Ca-na-an, nơi Gia-cốp, cha
mình,
26. thuật lại lời nầy mà rằng: Giô-sép hãy còn sống; lại ấy là
người đang cai trị cả xứ Ê-díp-tô. Nhưng lòng Gia-cốp vẫn vô tình vì người
không tin lời họ nói.
27. Anh em thuật lại cho người nghe mọi lời
Giô-sép đã nói; Gia-cốp vừa thấy các xe cộ của Giô-sép sai đem về đặng
rước mình, thì tâm thần người tỉnh lại,
28. bèn nói rằng: Thôi, biết
rồi; Giô-sép, con trai ta, hãy còn sống; ta sẽ đi thăm nó trước khi ta qua
đời.
Sáng-thế Ký 46
chọn đoạn khác
1. Y-sơ-ra-ên ra đi, đem theo các tài vật
mình. Ðến Bê-e-Sê-ba, người bày của lễ dâng cho Ðức Chúa Trời của Y-sác,
cha mình.
2. Trong một sự hiện thấy ban đêm kia, Ðức Chúa Trời có phán
cùng Y-sơ-ra-ên rằng: Hỡi Gia-cốp, Gia-cốp! Y-sơ-ra-ên đáp rằng: Có tôi
đây.
3. Ðức Chúa Trời phán: Ta là Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời của cha
ngươi. Hãy xuống Ê-díp-tô, đừng sợ chi, vì tại đó ta sẽ làm cho ngươi
thành một nước lớn.
4. Chánh ta sẽ xuống đến đó với ngươi, và chánh ta
cũng sẽ dẫn ngươi về chẳng sai. Giô-sép sẽ vuốt mắt ngươi nhắm lại.
5.
Từ Bê-e-Sê-ba, Gia-cốp khởi đi; các con trai Y-sơ-ra-ên để Gia-cốp, cha
mình, cùng các vợ và con mình lên xe cộ của Pha-ra-ôn đã sai đến rước
những người đó.
6. Chúng cũng đem theo các súc vật và của cải mình đã
gây dựng tại xứ Ca-na-an, mà đi đến cứ Ê-díp-tô.
7. Vậy, Gia-cốp cùng
cả nhà người, nào các con trai, nào các cháu trai, nào các con gái, nào
các cháu gái, thảy đều xuống xứ Ê-díp-tô.
8. Ðây là tên các con trai
của Y-sơ-ra-ên, tức là Gia-cốp, đến xứ Ê-díp-tô: Con trưởng nam của
Gia-cốp là Ru-bên.
9. Các con trai của Ru-bên là Hê-nóc, Pha-lu,
Hết-rôn, và Cạt-mi.
10. Các con trai của Si-mê-ôn là Giê-mu-ên,
Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sau-lơ, tức con của người vợ xứ
Ca-na-an.
11. Các con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và
Mê-ra-ri.
12. Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, O-nan, Sê-la, Phê-rết và
Sê-rách. Nhưng Ê-rơ và O-nan đã thác tại xứ Ca-na-an; con của Phê-rết là
Hết-rôn, và Ha-mun.
13. Các con trai của Y-sa-ca là Thô-la, Phu-va,
Gióp và Sim-rôn.
14. Các con trai của Sa-bu-lôn là Sê-rết, Ê-lôn, và
Gia-lê-ên.
15. Vả, các con trai, và một con gái tên là Ði-na, mà Lê-a
sanh cho Gia-cốp khi ở tại Pha-đan-A-ram, cùng các cháu đó, hết thảy là ba
mươi ba người.
16. Các con trai của Gát là Xi-phi-ôn, Ha-ghi, Su-ni,
Ét-bôn, Ê-ri, A-rô-đi và A-rê-li.
17. Các con trai của A-se là Dim-na,
Dích-và, Dích-vi, và Bê-ri-a, cùng Sê-rách, em gái các người đó. Con của
Bê-ri-a là Hê-be, và Manh-ki-ên.
18. Vả, các con của nàng Xinh-ba sanh
cho Gia-cốp, cùng các cháu đó, hết thảy là mười sáu người. Nàng là con đòi
của của La-ban đã cho theo hầu Lê-a, con gái mình.
19. Các con trai của
Ra-chên, vợ Gia-cốp, Giô-sép, và Bên-gia-min.
20. Giô-sép đã có con tại
xứ Ê-díp-tô, là Ma-na-se, và Ép-ra-im, mà Ách-nát, con gái của
Phô-ti-phê-ra, thầy cả thành Ôn, đã sanh cho người.
21. Các con trai
của Bên-gia-min là Bê-la, Bê-kê, Ách-bên, Giê-ra, Na-a-man, Ê-hi, Rô-sơ,
Mốp-bim, Hốp-bim, và A-rết.
22. Vả, các con trai của Ra-chên sanh cho
Gia-cốp, cùng các cháu đó, hết thảy là mười bốn người.
23. Con trai của
Ðan là Hu-sim.
24. Các con trai của Nép-ta-li là Giát-sê-ên, Gu-ni,
Dít-se, và Si-lem.
25. Vả, các con trai của nàng Bi-la sanh cho
Gia-cốp, cùng các cháu đó, hết thảy là bảy người. Nàng là con đòi của
La-ban đã cho theo hầu Ra-chên, con gái mình.
26. Các người đi đến xứ
Ê-díp-tô với Gia-cốp, tức là các người do nơi Gia-cốp sanh, nếu không kể
các nàng dâu, thì hết thảy là sáu mươi sáu người.
27. Con của Giô-sép
đã sanh tại Ê-díp-tô được hai. Vậy, các người thuộc về nhà Gia-cốp đi đến
Ê-díp-tô, cọng hết thảy là bảy mươi người.
28. Gia-cốp sai Giu-đa đi
đến trước đặng xin Giô-sép đưa mình vào bờ cõi Gô-sen. Vậy, họ đều vào xứ
Gô-sen.
29. Giô-sép thắng xe đi lên Gô-sen, đón Y-sơ-ra-ên, cha mình.
Người ra mắt cha, ôm choàng lấy người và khóc một hồi lâu.
30.
Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sép rằng: Chớ chi cho cha chết bây giờ đi! vì cha
đã thấy được mặt con, và biết con vẫn còn sống.
31. Ðoạn Giô-sép nói
cùng anh em và người nhà cha mình rằng: Tôi sẽ lên trước tâu cho Pha-ra-ôn
hay rằng: Anh em và cả nhà cha tôi, ở xứ Ca-na-an đã đến cùng tôi.
32.
Họ vốn làm nghề chăn chiên, nuôi bầy súc vật; có dẫn theo hết bầy chiên,
bò và các tài vật của mình.
33. Và khi Pha-ra-ôn truyền gọi anh em mà
hỏi rằng: Các ngươi làm nghề chi?
34. Thì hãy tâu rằng: Kẻ tôi tớ chúa
cùng tổ phụ chúng tôi vẫn làm nghề nuôi súc vật từ thuở còn nhỏ cho đến
giờ. Ấy hầu cho anh em đặng ở lại xứ Gô-sen, vì dân Ê-díp-tô có tánh gớm
ghê hết thảy kẻ chăn chiên lắm.
Sáng-thế Ký 47 chọn
đoạn khác
1. Giô-sép đến
tâu mọi điều đó cho Pha-ra-ôn hay, và nói rằng: Cha và anh em tôi đã ở xứ
Ca-na-an đến, có đem theo chiên, bò, cùng các tài vật của mình. Hiện bây
giờ đương ở trong xứ Gô-sen.
2. Người bèn đưa năm người trong bọn anh
em mình vào yết kiến Pha-ra-ôn.
3. Pha-ra-ôn hỏi: Các ngươi làm nghề
chi? Tâu rằng: Kẻ tôi tớ bệ hạ là kẻ chăn chiên, như tổ phụ chúng tôi khi
trước.
4. Rồi lại tâu rằng: Ấy đặng kiều ngụ trong xứ mà kẻ tôi tớ bệ
hạ đã đến; vì xứ Ca-na-an đói kém lớn lắm, không còn đồng cỏ chi hết cho
bầy súc vật ăn. Vậy, xin phép cho kẻ tôi tớ bệ hạ ngụ tại xứ Gô-sen.
5.
Pha-ra-ôn phán cùng Giô-sép như vầy: Cha và anh em ngươi đã đến cùng
ngươi;
6. vậy, xứ Ê-díp-tô sẵn dành cho ngươi; hãy cho cha và anh em ở
chốn nào tốt hơn hết trong xứ; hãy cho ở tại xứ Gô-sen vậy. Và nếu trong
các người đó, ngươi biết ai giỏi, hãy đặt họ chăn các bầy súc vật của
ta.
7. Ðoạn, Giô-sép dẫn Gia-cốp, cha mình, đến yết-kiến Pha-ra-ôn.
Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn.
8. Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp rằng: Ngươi
hưởng thọ được bao nhiêu tuổi?
9. Gia-cốp tâu rằng: Người năm tôi sống
ở đời phiêu lưu hết thảy là một trăm ba mươi năm; các năm của đời tôi lấy
làm ngắn-ngủi và lại nhọc nhằn, chẳng bằng những năm bình sanh của tổ phụ
tôi khi người ở phiêu lưu đó.
10. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn một
lần nữa, rồi lui ra khỏi mặt người.
11. Vậy, Giô-sép vâng mạng
Pha-ra-ôn, định chỗ ở cho cha và anh em mình, cho họ một sở đất tốt nhứt
trong xứ Ê-díp-tô làm sản nghiệp, tại miền Ram-se.
12. Giô-sép, tùy
theo số người, cấp lương thực cho cha, anh em và cả nhà cha mình.
13.
Vả, sự đói kém lớn lắm, nên trong khắp xứ chẳng còn lương thực nữa; xứ
Ê-díp-tô và xứ Ca-na-an đều bị hao mòn vì ách đói kém đó.
14. Giô-sép
thâu hết bạc tiền trong xứ Ê-díp-tô và xứ Ca-na-an, tức giá tiền của muôn
dân mua lúa; rồi chứa bạc đó vào kho Pha-ra-ôn.
15. Khi bạc tiền trong
xứ Ê-díp-tô và xứ Ca-na-an đã hết, thì tất cả dân Ê-díp-tô đều đến cùng
Giô-sép mà kêu rằng: Xin cho chúng tôi lương thực; lẽ nào vì cớ hết tiền
mà chúng tôi phải chết trước mặt chúa sao?
16. Giô-sép đáp rằng: Nếu
hết bạc tiền rồi, hãy giao súc vật các ngươi cho ta, ta sẽ phát lương thực
đổi lại.
17. Ðoạn, dân chúng bèn dẫn súc vật lại cho Giô-sép; Giô-sép
phát lương thực đổi lấy ngựa, bầy chiên, bầy bò, và lừa. Năm đó, người
thâu các bầy súc vật của họ mà đổi thế lương thực cho.
18. Mãn năm rồi,
năm sau dân chúng lại đến kêu cùng người rằng: tiền bạc sạch trơn, bầy súc
vật đã giao cho chúa; bây giờ chỉ sẵn dành cho chúa bổn thân và đất
ruộng.
19. Lẽ nào chúng tôi và đất ruộng phải hao mòn trước mặt chúa
sao? Hãy mua đổi lấy lương thực chúng tôi và đất ruộng luôn đi. Vậy, chúng
tôi cùng đất ruộng sẽ làm tôi mọi cho Pha-ra-ôn. Hãy cho giống chi đặng
gieo, hầu cho chúng tôi sống khỏi chết, và đất không phải bỏ hoang.
20.
Giô-sép bèn mua hết thảy ruộng đất trong xứ Ê-díp-tô cho Pha-ra-ôn; vì sự
đói kém thúc giục nên mọi người Ê-díp-tô đều đem bán ruộng mình; vậy,
ruộng đất đều thuộc về Pha-ra-ôn.
21. Còn dân chúng, từ đầu nầy đến đầu
kia, người đều dời về ở trong các thành.
22. Song ruộng đất của những
thầy cả thì Giô-sép không mua đến, vì những thầy cả có lãnh một phần lương
của Pha-ra-ôn đã định; vậy, họ ăn phần lương thực của Pha-ra-ôn đã cấp
cho. Thế cho nên những thầy cả chẳng đem bán đất của mình.
23. Giô-sép
nói cùng dân chúng rằng: Nầy, ta đã mua các ngươi và ruộng đất cho
Pha-ra-ôn; đây, hột giống cho các ngươi đặng gieo mạ trong ruộng
đó.
24. Ðến mùa gặt, phải nộp cho Pha-ra-ôn một phần năm, còn bốn phần
kia để cho các ngươi làm giống gieo mạ, dùng lương thực cho mình, cho
người nhà cùng cho các con nhỏ mình.
25. Dân chúng nói rằng: Chúa đã
cứu mạng chúng tôi! Cầu xin cho chúng tôi được nhờ ơn trước mặt chúa, thì
sẽ làm tôi mọi cho Pha-ra-ôn.
26. Về việc đó, Giô-sép bèn định một
luật, cho đến ngày nay hãy còn, buộc đất Ê-díp-tô phải nộp thuế cho
Pha-ra-ôn một phần năm hoa lợi mình. Chỉ đất ruộng của những thầy cả chẳng
thuộc về Pha-ra-ôn.
27. Vậy, Y-sơ-ra-ên trú ngụ tại miền Gô-sen thuộc
về xứ Ê-díp-tô, gây được cơ nghiệp tại đó, sanh sản và thêm lên bội
phần.
28. Gia-cốp kiều ngụ trong xứ Ê-díp-tô được mười bảy năm, hưởng
thọ được một trăm bốn mươi bảy tuổi.
29. Khi ngày gần chết, Y-sơ-ra-ên
gọi Giô-sép, con trai mình, mà nói rằng: Nếu cha được nhờ ơn trước mặt
con, xin hãy để tay trên đùi cha cậy hết lòng nhơn từ và thành thực ở cùng
cha, xin con đừng chôn cha tại đất Ê-díp-tô.
30. Khi cha an-giấc cùng
tổ phụ rồi, hãy đem cha ra khỏi Ê-díp-tô; chôn chung cùng mồ mả của người.
Giô-sép thưa rằng: Con sẽ làm y theo lời cha dặn.
31. Giô-sép nói: Con
hãy thề đi. Giô-sép bèn thề. Ðoạn, Y-sơ-ra-ên quì lạy nơi đầu giường
mình.
Sáng-thế Ký 48
chọn đoạn khác
1. Vả, khi các việc đó qua rồi, có người
nói cùng Giô-sép rằng: Nầy cha người đau; Giô-sép bèn đem Ma-na-se và
Ép-ra-im, hai đứa con trai mình, cùng đi đến.
2. Họ cho Gia-cốp hay và
nói rằng: Nầy Giô-sép, con trai ông, đến thăm ông đó; Y-sơ-ra-ên cố gượng
ngồi dậy trên giường.
3. Gia-cốp nói cùng Giô-sép rằng: Ðức Chúa Trời
toàn năng đã hiện ra, bà ban phước cho cha tại Lu-xơ, trong xứ
Ca-na-an,
4. mà phán rằng: Nầy ta sẽ làm cho ngươi sanh sản và thêm
nhiều, làm thành một hội dân; ta sẽ cho dòng dõi ngươi xứ nầy làm cơ
nghiệp đời đời.
5. Bây giờ, hai đứa con trai đã sanh cho con tại xứ
Ê-díp-tô trước khi cha đến, là Ép-ra-im và Ma-na-se, cũng sẽ thuộc về cha
như Ru-bên và Si-mê-ôn vậy.
6. Còn mấy đứa mà con sanh kế đó, thì sẽ
thuộc về con; về phần hưởng cơ nghiệp, chúng nó sẽ đồng một thể cùng anh
em mình.
7. Khi cha ở Pha-đan trở về xứ Ca-na-an, thì Ra-chên chết dọc
đường có mặt cha, gần Ê-phơ-rát; cha chôn người ở bên con đường đi về
Ê-phơ-rát (tức là Bết-lê-hem).
8. Y-sơ-ra-ên thấy các con trai Giô-sép,
bèn hỏi rằng: Những đứa nầy là ai?
9. Giô-sép thưa rằng: Ấy là những
con trai của con mà Ðức Chúa Trời đã cho tại xứ nầy. Y-sơ-ra-ên lại nói:
Xin hãy đem đến đây, đặng cha chúc phước cho chúng nó.
10. Vả, mắt của
Y-sơ-ra-ên già nên làng, chẳng thấy chi nữa, bèn biểu chúng nó lại gần, ôm
choàng và hôn.
11. Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sép rằng: Trước cha tưởng
chẳng còn thấy được mặt con, nhưng bây giờ Ðức Chúa Trời lại làm cho cha
thấy được đến dòng dõi con nữa.
12. Giô-sép dẫn hai đứa con trai ra
khỏi hai đầu gối cha mình, rồi sấp mình xuống đất.
13. Ðoạn, người dẫn
hai đứa trẻ lại gần cha; tay hữu thì dẫn Ép-ra-im sang qua phía tả của
cha, còn tay tả dắt Ma-na-se sang qua phía hữu.
14. Y-sơ-ra-ên đưa tay
mặt ra, để trên đầu Ép-ra-im, là đứa nhỏ, còn tay trái lại để trên đầu
Ma-na-se. Người có ý riêng để tay như vậy, vì Ma-na-se là đứa lớn.
15.
Rồi người chúc phước cho Giô-sép rằng: Cầu xin Ðức Chúa Trời mà tổ phụ tôi
là Áp-ra-ham và Y-sác đã thờ phượng; là Ðức Chúa Trời đã chăn nuôi tôi từ
khi mới lọt lòng cho đến ngày nay,
16. thiên sứ đã cứu tôi ra ngoài
vòng hoạn nạn, hãy ban phước cho hai đứa trẻ nầy; nối danh tôi và tổ phụ
tôi là Áp-ra-ham và Y-sác, và cho chúng nó thêm lên nhiều vô số trên mặt
đất!
17. Nhưng Giô-sép thấy cha mình để tay hữu trên đầu Ép-ra-im, thì
có ý bất bình, liền nắm lấy tay cha đã để lên đầu Ép-ra-im mà tráo đổi qua
đấu Ma-na-se,
18. rồi thưa rằng: Chẳng phải vậy, cha. Ðứa nầy đầu lòng,
để tay hữu cha trên đầu nó mới phải chớ.
19. Nhưng cha người không chịu
và cãi rằng: Cha biết, con, cha biết. Nó sẽ trở nên một dân; nó cũng sẽ
lớn vậy, con; song thể nào em nó cũng sẽ lớn hơn và dòng dõi nó sẽ thành
ra vô số nước.
20. Trong ngày đó, người chúc phước cho hai đứa con trai
nầy mà nói rằng: Ấy vì ngươi mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ chúc phước nhau rằng:
Cầu xin Ðức Chúa Trời làm cho ngươi được giống như Ép-ra-im và Ma-na-se.
Vậy, Gia-cốp đặt Ép-ra-im trước Ma-na-se.
21. Y-sơ-ra-ên lại nói cùng
Giô-sép rằng: Nầy, cha sẽ thác, nhưng Ðức Chúa Trời sẽ phù hộ và đem các
con trở về xứ tổ phụ.
22. Còn cha sẽ cho con một phần đất trổi hơn các
anh em, là phần đất của cha đã dùng cung-kiếm đoạt lấy của dân A-mô-rít
đó.
Sáng-thế Ký 49
chọn đoạn khác
1. Gia-cốp gọi các con trai mình lại và
nói rằng: Hãy hội lại đây, cha sẽ nói những điều phải xảy đến cho các con
ngày sau.
2. Hỡi các con trai Gia-cốp, hãy hội lại mà nghe; Nghe lời
Y-sơ-ra-ên, cha của các con.
3. Hỡi Ru-bên! con là trưởng nam của cha,
Sức lực cha, và đầu tiên sự mạnh mẽ cha; Vốn có sự tôn trọng và quyền năng
tót chúng.
4. Con sôi trào như nước, nên sẽ chẳng phần hơn ai! Vì con
đã lên giường cha. Con lên giường cha bèn làm ô làm dơ đó!
5. Si-mê-ôn
và Lê-vi là anh em ruột. Thanh gươm chúng nó thật khí giới hung tàn.
6.
Cầu cho tâm hồn cha chớ có đồng mưu, Vinh hiển cha chớ hiệp cùng hội họ;
Vì họ đã giết người trong cơn giận dữ, Cắt nhượng bò đực vì ý riêng
mình.
7. Ðáng rủa sả thay cơn giận dữ họ, vì thật là hung mạnh! Ðáng
rủa sả thay khí giận họ, vì dữ dằn thay! Ta sẽ phân chia họ ra trong nhà
Gia-cốp, Tan lạc họ trong dân Y-sơ-ra-ên.
8. Hỡi Giu-đa! các anh em sẽ
khen ngợi con, Tay con chận cổ quân nghịch, Các con trai cha sẽ quì lạy
trước mặt con.
9. Giu-đa là một sư tử tơ; Hỡi con! Con bắt được mồi rồi
tha về. Nó sụm gối, nằm khác nào sư tử đực, Như sư tử cái; há ai dám khiến
ngồi lên?
10. Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, Kẻ lập pháp không
dứt khỏi giữa chơn nó, Cho đến chừng Ðấng Si-lô hiện tới, Và các dân vâng
phục Ðấng đó.
11. Người buộc lừa tơ mình vào gốc nho, Lừa con mình vào
nhành nho tốt nhứt. Người giặt áo xống mình vào rượu nho, Cùng lấy huyết
nho lau áo tơi mình.
12. Mắt người đỏ vì cớ rượu, Răng nhiều trắng vì
cớ sữa.
13. Sa-bu-lôn sẽ ở nơi gành biển, Tức là nơi có tàu đậu; Bờ cõi
người chạy về hướng Si-đôn.
14. Y-sa-ca là một con lừa mạnh mẽ, Nằm
nghỉ giữa chuồng;
15. Thấy rằng sự yên ổn là tốt lành, Và đất-đai đẹp
lắm thay. Người đã rùn vai vác gánh nặng, Phải vâng phục những điều
sưu-dịch.
16. Ðan sẽ xử đoán dân chúng mình, Như một trong các chi phái
Y-sơ-ra-ên.
17. Ðan sẽ là một con rắn trên đường, Một con rắn lục trong
chốn nẻo cùng, Cắn vó ngựa, Làm cho kẻ cỡi phải té nhào.
18. Hỡi
Giê-hô-va! tôi trông ơn chửng-cứu của Ngài!
19. Còn Gát sẽ bị một đạo
binh xông đánh, Nhưng người xông đánh lại và đuổi theo.
20. Do nơi A-se
có thực vật ngon, Người sẽ cung cấp mỹ vị cho các vua.
21. Nép-ta-li là
nai cái thả chuồng Nói bày nhiều lời văn hoa.
22. Giô-sép là chồi của
cây tươi tốt, Mọc gần bên suối nước; Nhành nhánh phủ bao trên ngọn
tường.
23. Kẻ cầm cung đã ghẹo-chọc người, Bắn tên vào, và hãm
đánh;
24. Nhờ tay Ðấng toàn năng của Gia-cốp, Nên cung người vẫn
bền-chắc; Nhờ Ðấng Chăn chiên, là Ðá của Y-sơ-ra-ên, Nên hai tay người
thêm mạnh.
25. Ðức Chúa Trời của Cha sẽ giúp đỡ con; Ðấng toàn năng sẽ
ban phước cho con, Tức là phước lành ở chốn trời cao xuống, Cùng phước
lành ở nơi vực rộng thẳm lên, Phước lành của vú, và của lòng mẹ.
26.
Phước lành cha chúc cho con vượt lần lên Cao hơn các phước lành của tổ phụ
cha, Cho đến các chót núi đời đời: Các phước nầy sẽ ở nơi đầu Giô-sép, Nơi
trán của chúa các anh em mình.
27. Bên-gia-min là một con chó sói hay
cấu-xé; Ban mai đi đánh chết mồi, Chiều phân chia mồi đã được.
28. Các
người đó là đầu trưởng của mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên; và đó là lời của
cha họ nói đương khi chúc phước cho, chúc một lời phước riêng cho mỗi
người vậy.
29. Ðoạn, người ra lịnh cho các con trai mà rằng: Cha sẽ về
nơi tổ tông, các con hãy chôn cha chung cùng tổ phụ, nơi hang đá tại đồng
ruộng Ép-rôn, người Hê-tít,
30. tức là hang đá ở trong đồng Mặc-bê-la,
ngang Mam-rê, thuộc về xứ Ca-na-an, mà Áp-ra-ham đã mua làm mộ địa luôn
với đồng ruộng của Ép-rôn
31. Ấy nơi đó, người ta đã chôn Áp-ra-ham và
Sa-ra, vợ người; Y-sác và Rê-be-ca, vợ người; mà lại nơi đó cha cũng đã
chôn Lê-a nữa.
32. Cái đồng ruộng cùng hang đá ở tại đó đã mua của dân
họ Hếch vậy.
33. Khi trối mấy lời nầy cho các con mình xong, thì
Gia-cốp để chơn vào giường lại, rồi tắt hơi, được về cùng tổ tông
mình.
Sáng-thế Ký 50
chọn đoạn khác
1. Giô-sép bèn cúi đầu xuống mặt cha mình,
hôn người và khóc.
2. Ðoạn, Giô-sép biểu mấy thầy thuốc hầu việc mình,
dùng thuốc thơm xông cho xác cha; thầy thuốc bèn xông cho
Y-sơ-ra-ên.
3. Bốn mươi ngày xông thuốc hầu qua, vì ấy là hạn ngày dùng
xông thuốc; dân Ê-díp-tô khóc người trong bảy mươi ngày.
4. Khi mãn
tang rồi, Giô-sép bèn nói cùng quần thần Pha-ra-ôn rằng: Nếu tôi được ơn
trước mặt các ngươi, xin hãy thuật lại lời nầy cho Pha-ra-ôn nghe:
5.
Cha tôi có biểu tôi thề mà rằng: Nầy, cha sẽ chết, con hãy chôn cha nơi mộ
địa ta đã mua sẵn rồi trong xứ Ca-na-an. Vậy bây giờ, tôi phải lên đó chôn
cha tôi, rồi sẽ trở xuống.
6. Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Hãy trở lên chôn
cha ngươi, y như lời người đã bắt thề đó.
7. Giô-sép dời xác cha mình
trở lên chôn; quần thần Pha-ra-ôn, các bực trưởng lão trong đền, các bực
trưởng lão trong xứ Ê-díp-tô,
8. hết thảy nội nhà Giô-sép, các anh em
và nội nhà cha mình đều đi lên theo đưa với người; trong Gô-sen chỉ còn
những đứa trẻ và chiên, cùng bò của họ mà thôi.
9. Lại cũng có đem ngựa
và xe theo lên nữa: thật là một đám xác rất đông thay!
10. Khi đến sân
đạp lúa của A-tát, ở bên kia sông Giô-đanh, thì họ làm lễ khóc than rất
nên trọng thể tại đó; đoạn, Giô-sép để tang cha trong bảy ngày.
11. Dân
Ca-na-an, tức là dân xứ ấy, thấy khóc than nơi sân đạp lúa A-tát, thì nói
rằng: Ấy là một đám khóc than trọng thể của dân Ê-díp-tô đó! Bởi cớ ấy
người ta gọi cái sân nầy tên là A-bên-Mích-ra-im ở bên kia sông
Giô-đanh.
12. Vậy, các con trai Gia-cốp làm theo lời cha trối
lại,
13. dời xác người về xứ Ca-na-an, chôn trong hanh đá của đồng
Mặc-bê-la ngang Mam-rê, mà Áp-ra-ham đã mua luôn với đồng ruộng Ép-rôn,
người Hê-tít, để dùng làm mộ địa.
14. Chôn cha xong rồi, Giô-sép cùng
các anh em và các người đi lên theo đưa xác cha, đều trở xuống xứ
Ê-díp-tô.
15. Các anh Giô-sép thấy cha mình chết rồi, thì nói với nhau
rằng: Có lẽ Giô-sép sẽ ganh ghét chúng ta, và trả thù việc ác chúng ta đã
làm cho người chăng.
16. Các anh bèn sai người đến nói cùng Giô-sép
rằng: Trước khi qua đời, cha em có trối rằng:
17. Hãy nói lại cho
Giô-sép như vầy: Ôi! xin hãy tha điều ác, tội phạm của các anh con đi, vì
chúng nó đã lỗi cũng con đó; nhưng bây giờ cha xin con hãy tha tội kẻ tôi
tớ của Ðức Chúa Trời cha. Nghe qua mấy lời nầy, Giô-sép bèn khóc.
18.
Chánh các anh người đến sắp mình xuống dưới chơn mà nói rằng: Các anh đây
thật là kẻ tôi tớ của em đó.
19. Giô-sép đáp rằng: Các anh đừng sợ chi,
vì tôi há thay mặt Ðức Chúa Trời sao?
20. Các anh toan hại tôi, nhưng
Ðức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều
người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông
đảo.
21. Vậy, đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng các anh và con cái các anh.
Ðoạn, Giô-sép an ủy các anh, và lấy lời êm dịu mà nói cùng họ.
22.
Giô-sép cùng nhà cha mình kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô; người hưởng thọ được
một trăm mười tuổi.
23. Người thấy được các con cháu Ép-ra-im đến đời
thứ ba, và cũng có được nâng niu trên gối mình các con của Ma-ki, tức con
trai của Ma-na-se, nữa.
24. Kế, Giô-sép nói cùng các anh em rằng: Em sẽ
chết, nhưng Ðức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em thật; đem các anh em về
xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.
25. Giô-sép
biểu các con trai của Y-sơ-ra-ên thề mà rằng: Quả thật, Ðức Chúa Trời sẽ
đến viếng các anh em; xin anh em hãy dời hài cốt tôi khỏi xứ nầy.
26.
Ðoạn, Giô-sép qua đời, hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người ta xông
thuốc thơm cho xác Giô-sép, và liệm trong một quan tài tại xứ
Ê-díp-tô.